Thăng Long và đời Lý nhìn từ 1000 năm sau

| 19/09/2014 | 0 Comments
  • Nguyễn Thế Đăngthang-long-doi-ly

I.Thế giới chúng ta đang thiếu thốn cái gì?

Những vấn nạn trong nhiều lĩnh vực xả hội, từ tham nhũng, cải cách hành chánh chậm chạp, không biết tiết kiệm, xài phí và làm hư hoại môi trường, cho đến tự do tình dục và phá thai…chung quy đều do xã hội thiếu một nhân sinh quan và thế giới quan, kèm với chúng là một bảng giá trị cho con người.

Con người là gì? Sống để làm gì? Đâu là vị trí và chỗ hướng tới của đời người? Đó không phải chỉ là những câu hỏi của những triết gia như Kant mà đó là những câu hỏi đặt ra cho con người ở bất kỳ thời đại nào, bất kỳ hệ thống xã hội nào. Những câu hỏi đó không chỉ nằm trong triết học, mà nằm trong mọi lĩnh vực, và luôn luôn được đặt ra chừng nào còn có con người. Sự khủng hoảng của con người ở thế kỷ XX trên khắp thế giới cho thấy rằng con người chưa trả lời ổn thỏa cho câu hỏi về số phận của chính mình, thậm chí còn chưa thèm đặt ra trong khi đang say sưa sản xuất, tiêu thụ và hưởng thụ.

Con người có ba lĩnh vực, ba thế giới: thân xác (lĩnh vực vật chất, địa); tâm thức (trí thông minh, tình cảm, lý trí, ý chí…), đây là cái làm cho con người khác với và vượt lên thế giới vô tri và động vật, được gọi là nhân; trên nữa, con đường còn có lĩnh vực tâm linh, lĩnh vực của những kinh nghiệm tôn giáo, gọi là thiên. Ba lĩnh vực này đều có, dù rõ ràng hay mơ hồ, trong mọi nền văn hóa văn minh của nhân loại,từ thượng cổ tới nay.

Khi nhìn con người theo ba lĩnhvực, ba thế giới như vậy, những vấn đề con người hiện ra rõ hơn. Chẳng hạn, một vấn nạn hiện giờ là sự mù mờ về vị trí của tình dục trong cuộc sống con người, sự mù mờ đó dẫn đến sự bắt chước ‘cuộc cách mạng tình dục’ở Tây phương vào thập niên 60 thế kỷ XX. Phải chăng khi nền văn minh cổ Ấn Độ và Chiêm Thành thờ những hình tượng bộphận sinh dục nam nữ (linga và yoni) là họ chủ trương tự do tình dục? Tình dục, ở lĩnh vực thuần túy thân xác, có ở mọi loài động vật và nó thuần túy bản năng , bản năng khoái lạc và bản năng truyền giống, kể cả bản năng chết như Freud nói. Tình dục là sự kết hợp và hợp nhất giửa hai thân xác và điều này đem lại lạc thú cảm giác. Và vì thân xác là giới hạn nhất, nên sự kết hợp của hai thân xác cũng rất giới hạn, đem đến một lạc thú cảm giác hạn hẹp và mau qua. Ở cấp độ con người, sự kết hợp và hợp nhất sinh ra lạc thú này không chỉ với một thân xác khác, mà còn với một tâm thức của thân xác đó. Tình dục biến thành tình yêu vì ngoài thân xác còn có sự tham dự của những yếu tố tạo thành một con người: trí óc,tình thương, lòng bi mẫn, lý trí, ý chí…Tình yêu,bao gồm cả tình dục trong đó, là sự kết hợp và hợp nhất của hai thể xác và tâm thức, tức là của hai con người, nghĩa là bắt đầu tạo thành một xã hội. Sự kết hợp này có sự tham dự của những yếu tố tâm thức nên bền vững hơn, thiếu thỏa mãn hơn, nhiều ý nghĩa hơn. Ở cấp độ con người bản năng tình dục được thăng hoa – nói theo ngôn ngữ của Freud – thành một năng lượng cao hơn, để tiến hóa hơn nữa , vào lĩnh vực văn hóa, thậm chí đến cấp độ tâm linh. Chúng ta thấy, vấn đề tâm linh có khi được diễn tả bằng ngôn ngữ tình yêu, như Nhã Ca của cua Salomon, hay các nhà thơ Ấn Độ như Kabir, Tulsi Das và mới đây là Tagore.

Ở cấp độ con người, sự tiếp xúc và kết hợp giữa hai tâm thức, chẳng hạn như đọc sách, đem lại một lạc thú lâu bền hơn, đưa tâm thức lên cao hơn. Lên đến tằng tâm linh, sự kết hợp và hợp nhất là giữa tâm thức (và cả thân xác của tâm thức đó) với cái mà chúng ta gọi là thực tại tối hậu,dù mỗi nến văn hóa gọi cái ấy bằng những từ ngữ khác nhau. Hơn nữa với Phật giáo, cái thực tại tối hậu này có sẵn nơi mỗi con người, dù nó có biết hay không. Dĩ nhiên, thực tại tối hậu thì phải là sự thỏa mãn tối hậu, nghĩa là sự chấm dứt tất cả khát khao và nhu cầu.

Với một cái nhìn đầy đủ cả ba lĩnh vực như thế, chúng ta mới thấy tình dục và hôn nhân là có ý nghĩa thiêng liêng trên bình diện con người và xã hội. Ít nhất, đó là sự nối kết của hai dòng họ, sự nối kết của tổ tiên quá khứ với con cái của thế hệ tương lai qua hai cá nhân. Hơn nữa, sự nối kết này (tình dục và tình yêu) là một nhắc nhở đến một nối kết và hợp nhất còn thiêng liêng hơn nữa, sâu rộng hơn nữa: nối kết cái tâm linh thiêng liêng ở nơi mình. Cũng vì ý nghĩa này mà chữ tôn giáo (religion) của Tây phương có nghĩa là nối kết (re-legere:liên kết lại). Ẩn dụ ‘đi tìm một nữa của chính mình’ của Platon đã bị hiểu sai để thành một thứ lãng mạn của tuổi mới lớn. Ý nghĩa của linga và yoni của Ấn Độ và Chiêm Thành cũng cần được nhìn theo cả ba llĩnh vực như vậy, chứ không phải là một “văn hóa phồn thực” như một số học giả và văn nghệ sĩ của chúng ta ‘ăn theo’. Cũng như vào thời ‘cách mạng tình dục’ của Tây phương, người ta đã dịch Kama Sutra (kinh Dục Lạc) của văn minh Ấn Độ để ‘ăn theo’ mà hậu quả còn di hại đến ngày nay, nhất là cho những nước bắt đầu phát triển ở Châu Á. Phải đặt Kama Sutra vào bối cảnh của nền văn hóa hướng đến sự sạch sẽ và thanh tịnh của Ấn Độ mới có thể hiểu nó.

Cái mà thế giới chúng ta đang thiếu là một cái nhìn ở mức độ tâm linh. Chính vì lẽ đó, André Malraux đã hy vọng rằng: “Thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của tâm linh”.

II. Sơ lược những thành tựu của đời Lý

Đời Lý (1010-1225) được xem là một trong những triều đại hưng thịnh nhất, và đặc biệt hơn, đó là một triều đại mở đầu của một quốc gia Việt Nam, theo đúng nghĩa của từ này. Được xem là hưng thịnh, vì đời Lý đã phát triển và hài hòa được ba lĩnh vực, vật chất, con người và tâm linh.

1.Thế giới vật chất:

Thật ra, không có lĩnh vực thuần túy vật chất. Vật chất luôn luôn nằm trong ý nghĩa và ý hướng của con người. Lĩnh vực tâm linh cũng thế, nếu con người không tham dự được vào lĩnh vực tâm linh, nếu lĩnh vực tâm linh không nằm trong khả năng của con người, thì lĩnh vực này chỉ là một hư vô không tưởng, chẳng cần bàn đến làm gì.

Ở đây, chúng ta chỉ nêu ra một số điều để biết đời Lý ứng xử với thế giới vật chất, thế giới tự nhiên như thế nào.

– Năm 1010, nhà Lý dời đô về Thăng Long, xây dựng thành một kinh đô hoàn chỉnh và các công trình nội và ngoại thành, dựng bia ghi công, dựng kho tàng, đào hào, đắp thành, bốn mặt mở bốn cửa. Ngoài thành về phía Nam xây chùa Thắng Nghiêm, sửa chữa và xây thêm “chùa quán” ở các hương ấp.

Năm 1038, vua Lý Thái Tông ngự ra cửa Bố Hải cày ruộng tịch điền…Vua đích thân tế Thần Nông rồi tự cầm cày để cày. Quan tả hữu có người can rằng: ‘Đó là công việc của nông phu, bệ hạ cần gì làm thế? Vua nói, ‘Trẫm không tự cày thì lấy gì làm xôi cúng, lại lấy gì cho thiên hạ noi theo?’.

Chúng ta thấy nhà vua không những thương yêu người làm nông, mà cả thương yêu ruộng đồng, thiên nhiên nữa.

Năm 1040, vua bảo cung nữ dệt gấm vóc để tự túc, không dùng gấm vóc của nước Tống nữa.

–          Năm 1042, ban Hình thư (luật pháp) và cho đúc tiền

–          Năm 1035, mở chợ Tây Nhai và bắc cầu sông Lô Lịch.

–          Năm 1016, vua Lý Công Uẩn đi xem núi sông đến bến đò Cổ Sở (tình Hà Tây), thấy khí tốt của núi sông, tâm thần cảm động, bèn làm lễ tưới rượu xuống đất, khấn rằng: ‘Trẫm xem địa phương này, núi lạ sông đẹp, nếu có nhân kiệt địa linh thì hưởng lễ’

–          Năm 1126, cấm dân chúng chặt cây trong mùa xuân.

Chỉ kể ra một ít sự kiện trong Đại Việt sử ký toàn thư cũng đủ cho thấy nhà Lý lo cho cái mà hiện nay chúng ta gọi là đời sống kinh tế của dân chúng như thế nào. Kinh tế ấy là làm tốt cho người dân, làm đẹp cho đất nước. Kinh tế mạnh làm cơ sở cho quân sự mạnh. Theo Lê Quý Đôn: “Diên Khánh (nhà Tống) thường theo phép hành quân An Nam”. Lý Thường Kiệt đánh qua châu Khâm, châu Ung và châu Liêm của nhà Tống khi nhà Tống xâm lăng nước ta, cho thấy quân sự lúc ấy mạnh như thế nào.

2. Thế giới con người:

Thế giới con người biểu lộ rõ trong đời sống văn hóa và xã hội.

–          Năm 1021, vua Lý Công Uẩn cho làm nhà Bát giác chứa kinh. Năm 1023 cho phép ba tạng kinh để ở kho Đại Hưng. Năm 1024 làm chùa Chân Giáp ở trong thành để vua ngự xem tụng kinh.

–          Năm 1070, vua Lý Thánh Tông làm Văn Miếu, đến năm 1180 thì Tam giáo Phật, khổng , Lão. Năm 1075, tuyển Minh Kinh bác học và thi Nho học tam trường. Năm 1076 lâp Quốc Tử Giám (đại học đầu tiên của Việt Nam). Năm 1077, thi lại viên bằng phép viết chữ, phép tính và hình luật. Đó là một số điều về phát triển văn hóa và giáo dục.

–          Năm 1012, vua Lý Công Uẩn  khấn đi dẹp loạn: “Tôi là người ít đức, lạm ở trên dân, nơm nớp lo sợ như sắp sa xuống vực sâu, không dám cậy binh oai mà đi đánh dẹp càn bậy…Còn như trong khi đánh nhau hoặc giết oan kẻ trung hiếu, hoặc hại lầm kẻ hiền lương, đến nỗi hoàng thiên nổi giận phải tỏ cho biết lỗi lầm, thì dù gặp tổn hại cũng không dám oán trách. Còn như sáu quân thì tội lỗi có thể dung thứ, xin lòng trời soi xét”.

–          Năm 1044, vua Lý Thái Tông ra lệnh: “Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ không tha”.

–          Bia chùa Linh Xứng viết về Lý Thường Kiệt: “Ông trông tỏ khoan minh, ngoài thì ân huệ. Sửa đổi tục xấu cho dân, không quản khó nhọc. Làm việc thì cốt tránh phiền dân; sai dân thì cốt dỗ dân vui lòng làm việc; vì lẽ đó mà dân được nhờ. Đem bụng khoan thứ cứu dân, lấy lòng nhân ái yêu nhân dân, vì đó mà dân kính phục. Lấy vũ oai để trừ lũ ác, lấy chính luật mà xử kiện, nhờ đó mà không ai than oán, cho nên ngục thất chẳng cần coi. Xem sự đủ ăn là ước nguyện của dân, lấy việc cày cấy là gốc của nước, nhờ đó mà mùa màng không mất. Cai trị giỏi cho nên không cần đánh dẹp. Nuôi nấng những kẻ già nua, cho nên kẻ già được yên. Đạo ông như thế, có thể gọi là gốc để trị an, thuật để yên dân, thật là đẹp đẽ”. (Lý Thường Kiệt, Hoàng Xuân Hãn)

–          Năm 1055, mùa đông, vua Thánh Tông bảo các quan: “Trẫm ở trong cung. Sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người bị giam trong ngục, khổ sở gông cùm, chưa rõ gian ngay, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu và cấp cơm ăn ngày hai bữa”.

–          Năm 1069, Nguyên Phi Ỷ Lan , vốn là một thiếu nữ nông dân trồng dâu, giúp việc nội trị, dân gọi là bà Quan Âm.

–          Ở đời Lý, có cuộc tiếp biến văn hóa Chiêm Thành, lúc đó đang chịu ảnh hưởng của Phật giáo Đại thừa, mở đầu cho lịch sử đất nước đi đến phương Nam nhiều biển và nắng.

–          Những bài thơ của các Thiền gia đời Lý là không thể thiếu trong văn học Việt Nam. Những bài thơ ấy là sự két hợp nhuần nhuyễn của nghệ thuật, tư tưởng triết học và cảm hứng tôn giáo. (Không có nhà thơ lớn nàocủa nhân loại mà thiếu một trong ba cái này). Nói đơn giản, đó chính là đời sống đã được đẩy đến tận cùng cội nguồn của nó, và cũng đến tận cùng cứu cánh của nó.

Qua những gì vắn tắt ở trên, chúng ta thấy văn hóa đời Lý không cũ chút nào. Nó đi trong ước nguyện muôn đời của nhân loại, là tự hoàn thiện con người của mình trong mọi mặt. Nếu chỉ kể riêng trong lĩnh vực giải Nobel Hòa Bình hiện nay, nó vẫn đang thể hiện ra ở những nhân cách như Đức Dalai Latma, Nelson Mandela, Mẹ Théresa của Calcutta…

3. Thế giới tâm linh:

Ở đây chúng ta chỉ nói sơ lược về ý nghĩa của một kiến trúc mang tính biểu tượng của đời Lý còn cho tới hôm nay, mặc dù ngày nay chỉ là được xây dựng lại, nhỏ hơn. Đó là chùa Một Cột. Trong một thời gian dài, ít nhất là đến giữa thế kỷ XX, trong các bản đồ, dấu hiệu để chỉ Hà Nội là chùa Một Cột.

Năm  1049, vua thứ hai đời Lý là Lý Thái Tông xây chùa Diên Hựu (Một Cột). Trước đó vua chiêm bao thấy Phật Quán Âm ngồi trên tòa sen, dắt vua lên tòa. Vua cho xây chùa do giấc mộng đó. Chùa Một Cột tượng trưng cho hoa sen của Đức Quán Thế Âm: cột đá là cọng sen, chùa là hoa sen. Chúng ta đều biết hoa sen trong Phật giáo tượng trưng sự thanh tịnh, trí tuệ và từ bi. Như tâm chú Om mani padme hum của Đức Quán Thế Âm, mani là viên ngọc, tượng trưng đại từ bi; padme là hoa sen, tượng trưng trí tuệ. Tóm lại, hoa sen là Phật tính của mỗi chúng ta. Mỗi người ai cũng có và cũng là hoa sen. Ở các bậc giác ngộ hoa sen nở trọn vẹn, còn hoa sen của chúng ta có người còn ở trong bùn, có người ở trong nước, có người đã vươn lên giữa không khí, có người đã bắt đầu nở…Đây là điều Đức Phật thấy khi quan sát thế gian, và Ngài quyết định thuyết pháp (diễn tả rất rõ trong Nikaya của tạng Pali).

Vậy thì thế giới quan và nhân sinh quan của đời Lý là: Mỗi người là một hoa sen, mỗi cuộc đời là một hoa sen đang vươn lên, dù có còn nằm trong bùn, ở trong nước hay đã ra được ngoài không khí. Chính đây là trí tuệ và từ bi và tất cả mọi đức hạnh khác mà đời Lý muốn biểu lộ, muốn thể hiện. Do đó, nhiệm vụ của chính quyền và nhiệm vụ của mọi người là giúp đở, nuôi dưỡng cho mỗi hoa sen ấy phát triển. Chúng ta thấy chữ văn hóa (culture) của Tây phương có nghĩa là nuôi dưỡng, vun bón (như trong nghề nông).

Chính vì nhìn nhau như hoa sen mà có trí tuệ, từ bi hỷ xả và mọi đức tình khác, Chính vì bổn phận và trách nhiệm đối với nhau là giúp đỡ, nuôi dưỡng cho hoa sen của chính mình và người khác mà có niềm vui, một niềm lạc quan vĩnh cửu trong một công trình vĩnh cửu. Chính vì những mối liên hệ hoa sen, những tương tác hoa sen, những tiến bộ phát triển vô ngại lẫn nhau giữa vô số hoa sen này mà có một xã hội hoa sen, một Tịnh độ nhân gian của Đại thừa nói chung và đời Lý nói riêng. Đời Trần tiếp theo đời Lý cũng đã phát triển, trong một hoàn cảnh lịch sử khác, với cá tính dòng họ khác, trên nền tảng cái nhìn hoa sen ấy, để lập nên hai triều đại vinh quang nhất của lịch sử Việt Nam, kéo dài đến bốn thế kỷ.

Điều cần lưu ý là sự phát triển của hoa sen bao gồm cả ba lĩnh vực mà chúng ta đã nói ở trên: vật chất, con người và tâm linh, Con đường Phật giáo là sự phát triển của hoa sen này. Và khi hoa sen nơi chúng ta bừng nở, bèn thấy mỗi người là hoa sen, mỗi sự vật là hoa sen – nghĩa là thấy sự thanh tịnh, ánh sáng trí tuệ và từ bi một thể của toàn bộ thế giới này – lúc ấy thế giới khổ đau, phân mảnh, tranh chấp , hận thù, chiến tranh này bèn biến thành “thế giới Hoa Tạng”, thành “Pháp giới Hoa Nghiêm” được nói trong kinh Pháp Hoa và Hoa Nghiêm.

Sự trồng trọt, nuôi dưỡng để cho đóa hoa sen Phật tính sống và nở, đó là nhiệm vụ chính của các thiền sư. Đó cũng là quá trình Khai, Thị, Ngộ, Nhập của kinh Pháp Hoa (The Lotus Sutra), mà hoa ở đây là Hoa Sen. Chúng ta chỉ trích ra một vài bài kệ thị tịch của các thiền sư đời Lý thôi., vì bài nào cũng nói về Phật tính ấy, dù bằng nhiều cách.

Bài kệ của thiền sư Ngộ Ấn (1019-1088) lấy Ngọc và Hoa Sen (như tâm chú Quán Thế Âm) để chỉ Phật tính là cái không thể bị đất nước lửa gió làm hư hoại:

Diệu tính chân không chẳng thể cầm

                                        Chân không tâm ngộ nào khó khăn

                                        Ngọc trên núi cháy màu thường thắm

                                        Sen nở trong lò lửa mãi tươi.

Quốc sư Thông Biện (?-1134) trả lời Phù Thánh Linh Nhân hoàng thái hậu: “Thường trụ thế gian, không sinh không diệt thì gọi là Phật. Hiểu rõ tâm tông của Phật, hành động và thấu hiểu hợp nhau thì gọi là Tổ. Vả lại, Phật là giác. Tánh giác này xưa nay vắng lặng thường trụ. Tất cả chúng sinh đều đồng một lý tính ấy, chỉ vì tình trần che khuất, theo nghiệp nổi trôi mà chuyển thành các cõi”.

Thiền sư Thường Chiếu (?-1203):

Ở đời làm thân người

  Tâm là Như Lai tạng (Phật tính)

    Chiếu soi sáng muôn phương

Tìm nó lại càng rỗng.

Hoa sen Phật tính ấy tuy ở trong đời mà vẫn vĩnh viễn ở ngoài đời, chẳng nhiễm ô bởi đời, do đó mà phụng sự cho đời, đưa đời vượt lên cao mãi.

Nhìn chung, đời sống tâm linh đời Lý là cao. Không chỉ trong các tu sĩ, mà trong xã hội. Điều này còn được ghi lại trong lịch sử, như bài kệ của vua Lý Nhân Tông truy tán thiền sư Vạn Hạnh, như cuộc đời của danh tướng Lý Thường Kiệt, bài kệ Bát-nhã chân vô tông của vua Lý Thái Tông, phái Thiền Thảo Đường có ba nhà vua được có mặt trong số các đệ tử truyền thừa: Lý Thánh Tông, Lý Anh Tông và Lý Cao Tông…

III. Chúng ta có thể học được gì từ đời Lý

Mặc dù chưa có bảng so sánh rõ ràng, nhưng cách đây 1000 năm, đời Lý là một quốc gia “có hạng” ở Á Châu và cả thế giới (lúc ấy Á châu đi đầu trong phát triển của các châu). Hãy nhìn cái cách ông Tổng thống Clinton nhìn cái chuông ở Văn Miếu vào cuối năm 2000 hay cái cách ông Tổng thống Kennedy nói về đời Trần.

Vậy thì chúng ta học được gì ở đời Lý? Chúng ta học được gì khi chúng ta ra khỏi một cuộc chiến tranh kéo dài gần suốt thế kỷ XX, khi mà tất cả mọi giá trị làm người được quy giản thành ‘chiến thắng và sống sót’? Và bây giờ cúng ta vẫn đang ‘dò đá qua sông’ (lời của Đặng Tiểu Bình nói với dân Trung Quốc cách đây hơn 20 năm)? Chúng ta học được gì khi chúng ta đang ở hạng quá thấp và vẫn đang tụt hậu (với cả những nước láng giềng) trong những mặt kinh tế, xã hội, giáo dục, văn hóa?

Có lẽ bài học của đời Lý phải được nhìn rộng hơn – để thoát khỏi những mặc cảm hiện giờ của chúng ta – trong một thế giới đang được toàn cầu hóa.

Bài học chiến lược thứ nhất là đời Lý đã phát triển đến mức cao nhất của thời đại mình cả ba lĩnh vực hay ba mặt: thế giới vật chất tự nhiên, thế giới văn hóa con người, và thế giới tâm linh của con người. Hay nói theo ngôn ngữ thường dùng hiện nay là mặt kinh tế và cơ sở hạ tầng, mặt xã hội văn hóa và mặt tôn giáo. Mỗi lĩnh vực được phát triển với một sự sáng suốt, sáng tạo và luôn luôn đặt trọng tâm vào con người (nhân bản). Một số điều kể ra ở phần II cho chúng ta thấy điều này.

Điều quan trọng là chúng được phát triển đồng bộ, không chỉ riêng một mặt nào. Ngay trong những thành phần của một lĩnh vực, như kinh tế của nông thôn và kinh tế của  các trung tâm, mỗi cái đều có sự phát triển đồng thời, cùng tiến độ, không bỏ sót và thiên trọng lĩnh vực nào.

Chính đây là cái làm nên sự hưng vượng của đời Lý: phân biệt rõ ràng được ba lĩnh vực thiết yếu của đời sống con người và đời sống xã hội, phát triển chúng cùng lúc, và như thể thỏa mãn được ba nhu cầu thiết yếu của cá nhân và xã hội. Đời Lý không chỉ chú trọng đến hạ tầng kinh tế (mà bây giờ chúng ta đo bằng sự phát triển GDP) và quân sự, mà còn chú trọng đến giáo dục, văn hóa và tâm linh. Chính sự phát triển của hai lĩnh vực văn hóa và tâm linh trên cơ sở một nền kinh tế mạnh đã đưa đời Lý vào hàng những thời đại hiển hách nhất Việt Nam và có lẽ cả thế giới.

Chú trọng cả ba lĩnh vực và phát triển cả ba lĩnh vực: đó là quy luật vàng của bất kỳ một nước văn minh, thậm chí của bất cứ nền văn minh nào. Chúng ta thấy vấn nạn của một quốc gia và nói chung của thế giới là thiếu sựchú trọng một mặt nào đó trong ba mặt.

Bài học chiến lược thứ hai là: ba lĩnh vực đó không chỉ tiến đồng bộ với nhau nhưng tách lìa nhau, mạnh ai nấy tiến, mà chúng được tương thông, hài hòa với nhau, thậm chí thống nhất với nhau.

Đây là một vấn đề rất tinh tế của Đông phương và đặc biệt là Phật giáo Đại thừa. Chúng ta thấy rõ vai trò của thiền sư Vạn Hạnh với Lý Công Uẩn, người lập nên triều Lý: Lý Công Uẩn là một đứa bé không cha mẹ, được nuôi ở chùa của Vạn Hạnh, được Vạn Hạnh dạy dỗ từ nhỏ và sau này lập nên đời Lý. Chúng ta cũng thấy ước vọng lập ra một triều đại đầu tiên làm nền tảng khởi đầu cho một quốc gia Việt Nam thực sự, không chỉ từ Vạn Hạnh (?-1018)- đời thứ 12 dòng Tỳ-ni-đa-luu-chi – mà đã có từ thời Trưởng lão Định Không (730-808), đời thứ 8 dòng Tỳ-ni-đa-luu-chi, khi ông đổi làng Diên Uẩn ra làng Cổ Pháp, nơi phát xuất đời Lý và làm ba bài kệ, trong đó một bài tiên đoán sự xuất hiện của đời Lý. Ước vọng đó đã truyền qua bốn thế hệ như vậy.

Sự hài hòa và thống nhất ba lĩnh vực trên không cần đi sâu vào chi tiết lịch sử, chúng ta có thể thấy rõ ở sự kết hợp của hai con người lập nên triều Lý: Lý Công Uẩn và Vạn Hạnh. Vạn Hạnh là một con người của lĩnh vực tâm linh và Lý Công Uẩn là con người của lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội (trước lúc lên ngôi Lý Công Uẩn là Điện tiền chỉ huy sứ). Sự thống nhất chúng ta nói ở trên, nói gọn lại là sự thống nhất giữa Đời và Đạo, chính là sự ăn ý, hài hòa, thống nhất của hai con người Lý Công Uẩn và Vạn Hạnh.

Sự tương thông, hài hòa và thống nhất của ba lĩnh vực trên – ba lĩnh vực nơi bản thân con người ra đến ngoài xã hội – là ước mơ muôn đời của con người và lịch sử con người là sựtiến bộ đến chỗ thống nhất đó. Chúng ta không thể kể hết những tác phẩm tôn giáo, triết học, văn học, nghệ thuật…của Đông phương và Tây phương phản ảnh ước vọng đó. Ước vọng đó được tìm thấy rõ trong Phật giáo Đại thừa, nó là con đường Đại thừa, cả mục đích và phương tiện để thực hiện, từ con người ra đến xả hội. Vì Đại thừa chính là sự hài hòavà thống nhất ba lĩnh vực trên.

Để thấy sự quan trọng của hai chiến lược trên, chúng ta có thể nhìn vào thế kỷ XX của Âu Mỹ. Hiện nay Âu Mỹ là nơi có đời sống vật chất cao nhất, được tổ chức hoàn bị nhất. Nhưng khi nhìn vào triết học và văn học Tây phương thế kỷ XX, chúng ta thấy một không khí u ám bao trùm, không có hy vọng cho con người, với những bế tắc và biến dạng của chủ nghĩa hư vô. Trên cuộc sống bình thường điều này cũng phản ảnh rõ ràng: dù thu nhập được tăng lên hơn gấp nhiều lần, tại sao người Tây phương vẫn không hạnh phuc hơn cha anh họ năm mươi năm trước? (Hạnh phúc. Richard Layard. NXB Tri Thức – Phương Nam). Sự không định hướng được của văn hóa và sựthiếu kém của tôn giáo Tây phương đã không đảm đương nổi một thế giới vật chất rất phát triển đã dẫn đến sự khủng hoảng hiện nay của Tây phương. Chúng ta không còn lạ khi số sách Đông phương được dịch rất nhiều ở Tây phương (riêng Lão Tử – Đạo Đức kinh đã có trên 300 bản dịch và bình giải bằng tiếng của các nước ở châu Âu, tiếng Pháp có 60 bản dịch) và sự có mặt thường trực của rất nhiều các vị thầy Đông phương, của đủ mọi con đường tâm linh của Đông phương (kể cả những ngành phát sinh võ học, dưỡng sinh học…). Tây phương đang nhập khẩu từ Đông phương về tâm linh và văn hóa.

Chủ nghĩa tiêu dùng không che lấp nổi sự thiếu vắng tâm linh của Tây phương. Trái lại sự không thỏa mãn trong lĩnh vực tâm linh đã khiến cho con người tìm kiếm quá nhiều sự thỏa mãn trong lĩnh vực vật chất, đẩy chủ nghĩa tiêu dùng đến bờ vực của nó: ô nhiễm toàn cầu, cạn kiệt năng lượng, hủy diệt bằng chiến tranh…Nhưng mục đích cuối cùng là hạnh phúc cuộc sống vẫn là điều thiếu thốn. Đơn giản, bởi vì hạnh phúc phải là hạnh phúc cả ba mặt, hạnh phúc vật chất, hạnh phúc văn hóa và hạnh phúc tâm linh . Hạnh phúc văn hóa là sống có ý nghĩa và hạnh phúc tâm linh là sống bằng con người tâm linh của mình, chân tính hay Phật tính của mình.

Đến đây, giải đáp về mặt lý thuyết cho bài toán nan giải từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX của các phong trào châu Á trước văn minh Tây phương (như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, Tôn Dật Tiên, Thái Hư đại sư…ở Trung Hoa và Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…ở Việt Nam), với những “ bình cũ rượu mới” hay “bình mới rượu cũ”, “Trung thể Tây dụng”, “cây cũ cành mới”…đã dần lộ rõ trên mặt thế giới hiện tượng.

Lịch sử luôn luôn là một thách thức. Chúng ta đã mất mát quá nhiều – mất mát cả ba mặt – trong một thế kỷ chiến tranh và giờ đây đã có độc lập và hòa bình trong một bối cảnh toàn cầu hóa. Chúng ta hy vọng những thế hệ hiện nay và sắp tới biết giành lấy lịch sử. ■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 63

(Visited 60 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Lịch Sử, Nguyễn Thế Đăng, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com