Thiền và hội họa đời Tống

| 20/07/2014 | 0 Comments

thien-va-hoi-hoaHọa thuyết và họa pháp của hội họa thủy mặc sơn thủy đời Tống được xem là giai đoạn toàn thịnh, hoàn tất những tìm tòi thể nghiệm của các đời trước. Sự tương tác giữa tư duy hội họa và tư tưởng Phật giáo bắt nguồn từ Lưỡng Hán, với hướng tiếp xúc từ các bích họa hang động phương Bắc, những hình tượng minh họa Phật tích được Ngô Đạo Tử -họa gia đời Đường-đặt thành nền tảng theo kiểu thức “Trung  Nguyên hóa”, họa nhân vật đời  Đường nói riêng về lĩnh vục Phật giáo, đã đạt đến đỉnh cao về thành tựu. Lược đồ sau diễn tả quá trình dẫn đến sự kết tinh giữa hội họa sơn thủy đời Tống và Phật giáo Thiền tông:

Nhà Tống tồn tại hơn 300 năm (960 – 1279), từ năm 960 đến 1126 đóng đô ở Khai Phong, sử gọi là Bắc Tống, năm 1127, do người Kim lấy phần đất Bắc, nên dời về phương Nam lập kinh đô Lãm An (Hàng Châu), sử gọi là Nam Tống.

Trong hai thời Tùy Đường, Phật giáo Trung Quốc tiến vào giai đoạn cực thịnh, các tông phái lần lượt xuất hiện, tầng lớp trí thức văn nhân tìm đến với tư tưởng Thiền tông, một phần do tông phái này mang tinh thần gần với Lão giáo bản địa.

Trong không gian hội họa đời Tống, các thể loại, đề tài hầu như đều có những thành tựu rực rỡ. Cho dù thật giản lược, họa sử không thể không nêu Lý Công  Lân, Tô Hán Thần, Lý Tung, Lương Khải, Cũng Khai với đề tài nhân vật họa; Trương Thạch Đoan với phong tục họa; Tô Thức, Văn Đồng, Dương Võ Quỳ vẽ trúc thạch; Hoàng Cư Thái, Triệu Cát (Tống Huy Tông), Triệu Xương, Dịch Nguyên Cát, Thôi Bạch, Lý Địch, Lâm Thuyên, Pháp Thường, Trần Cư Trung với những đề tài hoa điểu, thảo trùng, muông thú…Những tên tuổi này đều là những nhân vật kiệt xuất của một thời đại hội họa đỉnh thịnh, họ đều có những nghiên cứu sáng tạo độc đáo, hoặc đi vào con đường chuyên môn hóa đề tài, hoàn thiện những kỹ pháp còn dang dở của đời trước. Hoặc độc sáng trong tư duy và họa pháp, khơi gợi sựtìm tòi cho những đời sau. Trong những thành quả đạt được, một phần phải kể đến là vai trò của Họa viên, một cơ quan hàn lâm đặc biệt, hoạt động dưới sự bảo trợ của cung đình. Cơ quan này cũng gần giống như hình thức hoạt động của Học viện mỹ thuật thời nay, trong đó có chức năng đào luyện về kỹ pháp.

Theo một trình tự khác của lịch sử, quan điểm mỹ học và triết học đời Tống tiến một bước khá dài, muốn tìm đến chỗ thoát ly hiện thực, và trong hội họa điều này được thể hiện qua đề tài thủy mặc sơ thủy. Sơn thủy họa đời Tống như tương sinh với hệ thống lý thuyết hoàn hảo. Hệ thống lý thuyết này, một nửa được trang bị bằng sự diễn giải những tư tưởng trong kinh văn từ dịch trường của ngài Huyền Trang , Nghĩa Tịnh đời Đường hòa lẫn tư tưởng Lão, Trang, chúng bàng bạc trong Lâm tuyền cao trí luận của Quách Hi, Họa sử của Mễ Phát và các họa luận khác của Phạm Thành Đại, Quách Nhược Hư, Tô Thức…; một nửa kia là các lý thuyết quy phạm về kỹ pháp, nơi thể hiện đẳng cấp và điệu nghệ của từng nghệ sĩ.

Hòa thượng Cự Nhiên là người sống qua hai triều đại, sớm định phong cách và thành danh từ đầu đời Tống – cùng Đổng Nguyên – mặc nhiên hoàn thành sứ mạng dẫn đạo trong cuộc cách tân sơn thủy họa. Lý Thành, Phạm Khoan, Quách Hi, hai cha con Mễ Phất, Mễ Hữu Nhân thời Bắc Tống, Lý Đường, Mã Viễn, Hạ Khuê, Mục Khuê (Pháp Thường) thời Nam Tống là những họa gia đã khiến lịch sử hội họa Trung Quốc phải liệt sơn thủy họa đời Tống vào hàng đầu.

Tịnh loan tiêu tự đồ (chùa vắng bên rặng núi sau cơn mưa) của Lý Thành là một trong những họa phẩm trứ danh, chúng ta sẽ thấy ngay sự cao vọi và xa thẳm với ý đồ cho một không gian thâm nghiêm tỉnh tại, tiền cảnh, trung cảnh và hậu cảnh biểu thị sự tương đương về cự ly, phép bố cục dang ra xa và kéo lại gần trong một thực tế bị giới hạn chứng tỏ tài năng biến hóa trong thư pháp. Khê sơn hành lữ đồ (đoàn người ngang khe núi) của Phạm Khoan lại cho một cảm giác ngất ngây bởi khí thế hùng tráng của Thái Sơn, ấn tượng về một không gian xa được chuyển gần về tiền cảnh, nhường sự độc tọa nguy nga cho đĩnh núi, như bản chất địa thế của Thái Sơn trong Ngũ Nhạc.

Thêm một số bức tranh khác trong giai đoạn Bắc Tống, Quách Hi đã đúc kết thành Tam viễn pháp trứ danh: Núi có ba chiều xa: từ chân nhìn lên đỉnhlà “Cao viễn”; từ lớp trước nhìn suốt lớp sau là “Thâm viễn”; từ núi này nhìn sang núi khác là “Bình viễn”. Sắc độ nơi cao thì sáng, nơi thâm thì trầm, nơi bình thì sáng và trầm chen nhau. Muốn lấy sự cao phải bạn dạn quả quyết, muốn lấy sự thâm phải từ từ lớp lang; muốn có hiệu quả của sự bình phải gia giảm không khí”. Đoạn họa luận này và nhiều đoạn khác trong Lâm tuyền cao trí luận bàn về vẽ Đá, vẽ Nước, vẽ Cây…Quách Hi hình như có sự ứng dụng từ các kiến giảivề Sự và Lý của Tông Mật đời Tùy trong Chú Hoa Nghiêm Pháp giới quan môn.

Đạp ca đồ (vừa đi vừa hát) của Mã Viễn là một biểu hiện mới của sơn thủy họa Nam Tống, cùng Hạ Khuê với các bức Khê vụ đồ (sương mờ bên suối), Khê sơn thanh viễn đồ (khe suối trong phía xa), hai nhà Mã, Hạ đã tinh lọc các chi tiết, tạo sự khoáng đãng của không gian lớn, nhìn sự vật theo nhãn quan rộng mà vẫn tinh tế, các chi tiết được tập trung thể hiện sự vật gần như cây và đá. Giai đoạn này còn có một đại biểu khác là Hòa thượng Pháp Thường (Mục Khuê), phong cách gần giống Mã, Hạ. Các nhà này được xem là chịu sự tác động mạnh bởi vũ trụ quan Thiền tông, họ quan sát ngoại cảnh bằng sự dung hòa của cái có thể biết (năng tri) và cái biết được (sở tri). Tranh sơn thủy Nam Tống được đúc kết bằng thuật ngữ “Bình đạm thiên chân”, sự lững lờ trong bố cục, cắt xén từng mảng thiên nhiên trong những gam màu phảng phất, kkhiến người xem có cảm giác như đang vượt ra ngoài bức tranh, để tìm một cái gì đó!

Tham khảo:

–               Trung Quốc mỹ thuật tiêu biểu – Phó Bảo Thạc

–               Thái Bình thư cục. Hương Cảng, 1963 – Trung quốc nghệ thuật tam bách đề, Thượng Hải cổ tịch, 2000 – Trung Quốc hội họa thông sử. Vương Bá Mẫn, Bắc Kinh ,2000.

tao-xuan-do

Khe-son-hanh-lu-dotinh-loan-tieu-tu-do

(Visited 515 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Phạm Hoàng Quân, Thiền, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *