Tôn giáo trong xã hội hiện đại

| 24/07/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 34  |ĐIỂM NHÌN

Dalai Lama –  Linh Thụy dịch

Tôn giáo có thích đáng thật sự trong thế giới hiện đại? Nhiều người đã ra công phủ bác. Như tôi đã từng quan sát trước đây, đức tin tôn giáo không phải là điều kiện tiên quyết của thái độ luân lý hoặc của chính hạnh phúc…

Tôn giáo hiện đại

Tôi cũng đã đề nghị, dù một người có thực hành tôn giáo hay không, các phẩm tánh tâm linh như tình thương và tâm từ bi, nhẫn nại, bao dung, tha thứ, khiêm cung, v.v..đều cần thiết. Đồng thời, tôi phải làm sáng tỏ điều tôi tin tưởng, đó là tất cả các thứ trên sẽ được phát huy dễ dàng và hữu hiệu nhất trong khuôn khổ của thực hành tôn giáo. Tôi cũng tin rằng, khi một cá nhân thành tín thực hành tôn giáo, cá nhân đó sẽ hưởng lợi lạc rất lớn. Những người triển khai được một niềm tin vững chắc, đặt nền tảng trên sự hiểu biết và cội rễ trong thực hành hàng ngày, thường để đối phó cùng nghịch cảnh hơn những người không có. Do đó, tôi cũng khẳng định rằng, tôn giáo có khả năng to lớn trong việc tạo lợi lạc cho nhân loại. Biết sử dụng đúng đắn, đó là một thứ công cụ hữu hiệu tuyệt vời trong việc xây dựng hạnh phúc nhân sinh. Đặc biệt, tôn giáo giữ một vaitrò hướng đạo trong việc khuyến tấn loài người phát huy mọt cảm thức trách nhiệm đối với tha nhân và một nhu cầu cần giới luật theo đạo lý.

Do đó, trên các nền tảng này, tôi tin rằng tôn giáo thích đáng cho thời đại mới. Nhưng cũng nên quán xét điều này: vài năm trước đây, thân xác của một người thời đồ đá được khám phá trong băng thạch ở đỉnh núi Alps tại Âu châu. Mặc dù đã hơn năm ngàn năm, thân xác đó vẫn còn được giữ nguyên trạng. Ngay cả áo quần vẫn còn khá nguyên vẹn. Chúng ta có bao nhiêu điểm tương đồng cùng ông? Chắc hẳn chúng ta sẽ thấy rằng ông cũng quan tâm đến gia đình và các người thân thuộc, đến sức khỏe của ông, và v.v…Bất kể khác biệt về văn hóa và diễn đạt, chúng ta vẫn còn có thể nhận diện nhau qua trình độ cảm xúc. Có thể sẽ không có lý do gì để giả định rằng ông ấy ít quan tâm đến việc tìm hạnh phúc và tránh đau khổ bằng chúng ta. Nếu tôn giáo, với sự nhấn mạnh về việc tìm hạnh phúc và tránh đau khổ qua việc thực hành giới luật luân lý và vun bồi tình thương và từ bi, có thể được cảm nhận thích đáng trong quá khứ, thật khó thấy tại sao lại không còn tương tự trong hiện tại.

Trong thế giới hiện tại ngày càng phức tạp và tùy thuộc vào nhau, chúng ta bắt buộc phải nhìn nhận sự hiện hữu của các nền văn hóa khác, các nhóm nhân chủng khác, và, dĩ nhiên, các niềm tin tôn giáo khác. Dù thích hay không, đa số chúng ta đang kinh nghiệm sự đa dạng đó trên căn bản mỗi ngày. Tôi tin rằng cách tốt nhất để vượt khỏi vô minh và đạt được tri thức chính là đối thoại cùng các thành phần của truyền thống tín ngưỡng khác. Điều này có thể diễn tiến bằng nhiều phương cách khác nhau. Thảo luận giữa các học giả trong đó sự đồng quy, và có thể còn quan trọng hơn, sự dị phân giữa các truyền thống tín ngưỡng khác nhau được khảo sát và thẩm định, đó là điều rất giá trị. Ở một trình độ khác, rất hữu ích khi có các cuộc hội ngộ giữa các tín đồ bình thường phụng hành các tôn giáo khác biệt, hầu chia sẻ kinh nghiệm của mình. Đó là phương cách hữu hiệu nhất để có thể thẩm định được các thuyết giảng của truyền thống khác.

Khi đi sâu vào những thoại luận cùng tín đồ các tôn giáo khác, chúng ta dĩ nhiên cần phải hoàn tất trong đời sống hàng ngày giáo lý của chính tôn giáo mình. Một khi ta kinh nghiệm về lợi lạc của tình thương và tâm từ bi, của giới luật, đạo lý, chúng ta sẽ dễ nhận ra giá trị của các giáo lý khác. Nhưng cốt yếu phải nhận ra rằng thực hành tôn giáo đòi hỏi nhiều thứ chứ không phải chỉ nói “tôi tin cậy”, hoặc như trong Phật giáo “tôi quy y”là đủ. Cũng nhiều hơn là phải đi lễ chùa, nhà thờ hoặc thánh đường. Và học giáo lý không có lợi là bao nếu không đi sâu vào trong tâm mà chỉ ở trình độ trí thức. Chỉ dựa cậy vào đức tin mà thiếu tri kiến và trọn vẹn thực hành, cũng chỉ đạt đến giá trị hạn chế. Tôi thường nói với nhiều người Tây Tạng rằng, đeo chuỗi “mada” (giống như tràng hạt) không làm cho người ta trở thành một hành giả thực thụ. Các nỗ lực chúng ta chân thành thực hiện hầu chuyển hóa tâm linh là điều sẽ giúp ta trở nên hành giả thực thụ.

Chúng ta sẽ thấy tầm quan trọng vượt trội của sự thực hành khi nhận thức rằng, theo cùng với vô minh, các liên hệ kém lành mạnh của cá nhân trong niềm tin của họ chính là một yếu tố khác gây sự bất hòa tôn giáo. Thay vì áp dụng các sự giảng dạy trong tôn giáo vào đời sống cá nhân, chúng ta lại có xu hướng dùng chúng để tăng cường thêm thái độ quy ngã của mình. Chúng ta liên hệ cùng tôn giáo như một thứ gì ta sở hữu, hoặc một thứ nhãn hiệu nào đó chia cách ta cùng người khác. Chắc chắn đó là điều lạc lối. Thay vì dùng tinh hoa của tôn giáo hầu tẩy gột các thứ độc chất trong tâm trí, lại có nguy cơ khi ta nghĩ đến việc dùng các chất tiêu cực làm nhiễm độc tinh hoa của tôn giáo.

Trong trường hợp của tôi, tôi tin tưởng là Phật giáo cung ứng cho tôi một khuôn khổ hữu hiệu nhất, trong đó tôi có thể đặt hết mọi nỗ lực hầu phát triển tâm linh qua việc vun bồi tình thương và tâm từ bi. Đồng thời, tôi phải nhìn nhận trong khi Phật giáo là đạo siêu diệu nhất đối với tôi-phù hợp với cá tính, khí chất, khuynh hướng, và bối cảnh văn hóa của tôi-thì điều này cũng đúng cho Thiên Chúa giáo đối với tín đồ của họ. Căn bản của tôi là sự xác tín,tuy vậy, tôi vẫn không thể nói, Phật giáo là tốt nhất cho tất cả mọi người. Đôi khi tôi nghĩ về tôn giáo như là một y khoa cho tinh thần của loài người. Cách sử dụng của nó vốn độc lập, và thích hợp cho từng cá nhân trong các điều kiện riêng, vì vậy chúng ta không thể phán đoán thật sự mức hữu hiệu của một loại thuốc. Chúng ta không đúng khi bảo rằng, thuốc này rất tốt vì có các chất liệu thế này thế kia. Nếu không đặt liên hệ tương xứng giữa bệnh nhân và ảnh hưởng của thuốc trên người đó, thì thật vô nghĩa. Điều thích đáng nhất là nói, trong trường hợp bệnh nhân cá biệt này với chúng bệnh đặc biệt này, loại thuốc đó hữu hiệu nhát. Tươngtự, đối với các truyền thống tôn giáo khác nhau,chúng ta chỉ có thể nói loại này là hữu hiệu nhất cho cá nhân đặc biệt nào đó. Nhưng lý luận trên căn bản của siêu hình học hoặc triết học rằng tôn giáo này tốt hơn tôn giáo nọ, là điều vô ích. Điều quan trọng chắc chắn là sự hữu hiệu của nó cho các trường hợp cá biệt. Cách giải quyết của tôi về sự kiện có vẻ mâu thuẩn giữa tuyên ngôn của các tôn giáo về “một chân lý và môt tôn giáo” và hiện thựcđa tín ngưỡng, chính là cần hiểu rõ, cho mỗi trường hợp của một cá nhân quả thật chỉ có một chân lý và một tôn giáo. Tuy nhiên, trong phối cảnh bao quát của xã hôi loài người, chúng ta phải chấp nhận khái niệm “nhiều chân lý, nhiều tôn giáo”. Tươngtự, trongy khoa, trường hợp của một bệnh nhân cá biệt, món thuốc thích hợp quả là món thuốc duy nhất. Nhưng rõ ràng điều đó không có nghĩa là các món thuốc khác không thích hợp cho các bệnh nhân khác.

Tôi nghĩ, sự đa dạng trong các truyền thông tôn giáo quả là vô cùng phong phú. Do đó, không cần phải tìm cách để nói lên rằng cuối cùng thì tất cả tôn giáo đều như nhau. Chúng tương đồng trong sự nhấn mạnh tối yếu vè tình thương và tâm từ bi trong khuôn khổ giới luật đạo lý. Nhưng nói thế không có nghĩa cho rằng chúng nhất thiết phải là một. Tri kiến khác biệt nhau về sáng thế và vô khởi thủy giữa Phật giáo, Thiên chúa giáo và Ấn Độ giáo, chẳng hạn, có nghĩa là cuối cùng khi chạm đến các vấn đề siêu hình, chúng ta cứ tự thực hành riêng lẻ, mặc dù có nhiều điểm tương đồng không thể phủ nhận. Các mâu thuẩn đó có thể không quan trọng lắm trong giai đoạn khởi đầu thực hành tôn giáo. Nhưng khi đi xa trên con đường truyền thống đạo, chúng ta bắt buộc phải nhìn nhận cac dị biệt nền tảng. Thí dụ, khái niệm tái sinh của Phật giáo và các truyền thống cổ điển Ấn Độ có thể không tương hợp, cũng như ý niệm cứu rỗi của Thiên Chúa giáo. Tuy nhiên, điều này không phải là mọt cái cớ để kinh khiếp. Ngay cả trong Phật giáo, trong lãnh vực siêu hình có rất nhiều quan điểm đối chọi nhau. Ít ra, sự đa dạng đó có nghĩa là chúng ta có nhiều khuôn khổ hầu đặt vào đó giới luật đạo lý và sự phát huy các giá trị tâm linh. Đó là lý do khiến tôi không hề đề thuyết về một tôn giáo siêu việt hoặc mới mẻ nào cả. Làm điều đó, chúng ta sẽ đánh mất đặc tánh của các truyền thống tín ngưỡng đa dạng.

Điều thiết yếu của chúng ta là phát huy được một ý nghĩa chân chánh nào đó về sự đa dạng của tôn giáo. Điều này đặc biệt có ý nghĩa nếu chúng ta nghiêm túc trong sự tôn trọng nhân quyền, bởi tôn giáo như một nguyên lý toàn cầu. Bối cảnh đa nguyên trong tôn giáo thể hiện dưới hình thức một hội nghị, tôi tin là sẽ thực sự hữu ích. Nó giúp tránh được, một mặt là sự cực đoan quá khích từ lòng sùng tín tôn giáo của cá nhân, mặt kia là sự hô hào một chủ nghĩa hỗn hợp vô ích. Nối liền với vấn đề hòa hợp liên tôn này, phải nói đến sự kiện chuyển đạo. Đây là một vấn đề phải được quán chiếu thật nghiêm túc. Cần nhận thức rằng, không phải chỉ chuyển đạo là giúp cho cá nhân trở thành người tốt hơn, nghĩa là , giới luật hơn, từ bi hơn, trái tim ấm áp hơn. Do đó, lợi ích hơn nhiều là cá nhân đó cứ tập trung vào việc chuyển hóa tâm linh mình bằng cách thực hành giới luật, đức hạnh và từ bi. Trong khuôn khổ các tri kiến hoặc thực hành của tôn giáo khác lại hữu ích hoặc thích đáng cho tín ngưỡng của mình, sự học hỏi từ người khác rất có giá trị. Trong vài trường hợp, việc thọ nhận vài điều từ người khác cón có thể hiệu quả. Tuy nhiên, trong khi làm việc đó một cách sáng suốt, chúng ta vẫn có thể tiếp tục tận hiến cho đức tin của mình. Đây là cách tốt nhát, vì nó không mang theo nguy cơ của sự lẫn lộn, đặc biệt là trong cách sống khác nhau theo với các truyền thống tín ngưỡng khác nhau. Đa dạng là điều tìm thấy trong xã hội loài người, đương nhiên có các trường hợp trong số hàng triệu tín đồ của một tôn giáo nào đó, một số người sẽ nhận thấy khuynh hướng phát huy đạolý và tâm linh của một tôn giáo khác khiến mình mãn nguyện hơn. Đối với một số người này, khái niệm tái sinh và nghiệp lực có vẻ rất hữu hiệu cho cảm hứng phát huy tình thương và tâm từ bi trong khuôn khổ trách nhiệm. Đối với một số người khác, khái niệm siêu việt, một đấng sáng tạo yêu thương loài người, có vẻ thích hợp hơn.

Trong các trường hợp như thế, điều hệ trọng đối với các cá nhân này là tự hỏi mình thật nhiều lần. Họ tự hỏi, “Tôi bị thu hút bởi tôn giáo khác đó có phải vì các lý do đúng không? Hay đó chỉ là sự hấp dẫn của các diện mạo văn hóa và nghi thức? Hoặc chính bởi giáo lý cốt yếu? Giả sử như tôi chuyển sang tôn giáo mới, có ít sự đòi hỏi như tôn giáo hiện thời chăng?”. Tôi nói lên điều này, vì tôi thường gặp nhiều trường hợp những người chuyển sang một tôn giáo khác truyền thống thừa hưởng của mình, thường khi chỉ vì họ chấp nhận một số khía cạnh phiến diện của nền văn hóa mà tôn giáo mới tùy thuộc vào. Nhưng sự thực hành đòi hỏi phải đi sâu vào trong tôn giáo nhiều hơn nữa.

Trong trường hợp một người sau khi đã quán chiếu thật lâu và chín chắn, quyết định tiếp thụ một tôn giáo khác, quan trọng nhất là phải nhớ đến sự đóng góp tích cực cho nhân loại của mỗi một truyền thống tôn giáo. Nguy cơ là cá nhân đó có thể, trong khi tìm cách biện minh cho quyết định của mình, lại chỉ trích niềm tin trước. Cốt yếu phải tránh điều này. Chỉ vì truyền thống không còn hữu hiệu cho trường hợp một cá nhân này không có nghĩa nó không còn ích lợi cho nhân loại. Trái lại, chúng ta có thể đoán chắc rằng nó đã từng tạo cảm hứng cho nhiều triệu người trong quá khứ, nhiều triệu người trong tương lai, trên con đường của tình thương và tâm từ bi.

Điều quan trọng phải luôn ghi nhớ là, cuối cùng thì cứu cánh trọn vẹn của tôn giáo chính là tạo điều kiện cho tình thương, lòng từ bi, sự nhẫn nại, khoan dung, tha thứ, khiêm hòa, v.v…Nếu chúng ta lãng quên các điều đó, cho dù có chuyển đạo cũng chẳng ích chi. Cũng thế, nếu chúng ta là tín đồ sốt sắng với đức tin của mình, mà lại bỏ quên việc thể hiện các phẩm tánh đó trong đời sống hàng ngày, thì cũng không có gì lợi lạc. Một tín đồ như thế chẳng khác nào như một bệnh nhân mắc phải chứng bệnh trầm kha mà chỉ lo đọc sách chữa bênh chứ không chịu uống thuốc trị liệu.

Hơn nữa, nếu các tín đồ tôn giáo chúng ta lại không có tâm từ bi và giới luật, thì làm sao ta có thể hy vọng nơi người khác? Nếu chúng ta xây dựng được một sự hòa hợp chân chánh đến từ sự tôn kính và hiểu biết lẫn nhau, tôn giáo sẽ trở thành một năng lực vĩ đại có thẩm quyền phát biẻu trên các vấn đề đạo đức tử sinh, như hòa bình và giải giới, như xã hội và công lý chính trị, như môi trườngthiên nhiên, và nhiều vấn đề hệ trọng khác ảnh hưởng đến toàn nhân loại. Nhưng nếu chưa tinh tấn đưa các giáo lý vào thực hành, thì chúng ta cũng chẳng được xem là nghiêm túc.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 34  |ĐIỂM NHÌN |

Dalai Lama –  Linh Thụy dịch

(Visited 127 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Dalai Lama, Linh Thụy, Vấn Đề, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *