Vật thiêng với người Hindu

| 20/09/2014 | 0 Comments
  • Hồ Anh Tháivat-thieng-hindu

Tràng hạt Rudraksha

Người Hindu thường dùng hạt rudraksha để làm tràng hạt. Đó là hạt của loại cây có tên khoa học là Elaeocarpus ganitrus, tìm thấy trên dãy Himalaya. Hạt này được chia làm bốn loại,tùy theo hình dáng và kích thước:

Rudraksha: hạt tròn và to, thường dùng làm thuốc và làm tràng hạt để cầu nguyện.

Bhadraksha: kích thước hạt nhỏ hơn, tròn, ít được ưa chuộng hơn loại trên.

Indraksha: gần như hình bầu dục, giống hạt lạc.

Sahastraksha: hình dáng gần giống loại indraksha, nhưng hơi dẹt.

Hạt được phân loại theo số lượng những khía và những cái miệng (mukha, thực ra là những lỗ nhỏ trên hạt, có thể gọi là mắt), sắp xếp từ trên xuống dưới. Mỗi hạt thường có từ một đến mười bốn mắt. Hay tìm được nhất là loại có năm mắt (pancha mukha). Rất khó kiếm loại có từ một đến bốn mắt, cũng như từ sáu đến mười bốn mắt- những loại này thường đắt tiền hơn.

Hiếm có nhất là loại hạt chỉ có một mắt, người nào sở hữu được nó thì sẽ thoát khỏi vòng luân hồi sinh diệt. Loại hạt hai mắt là vật thiêng đối với thần Shiva và những đồ đệ của thần. Loại ba mắt tượng trưng cho Tam thần (Brahma, Shiva, Vishnu) và những tín đồ của họ. Loại bốn mắt liên quan đến thần Brhma và bốn bản kinh Veda. Loại năm mắt là vật thiêng của Shiva. Sáu mắt là vật thiêng của Kartikeya. Loại bảy mắt đeo vào để làm vui lòng nữ thần Laksmi. Loại tám mắt dành cho thần Ganesha và người đeo nó luôn luôn thành công. Hạt chín mắt tượng trưng cho chín shakti (nữ thần Durga). Loại hạt mười mắt tượng trưng mười hướng và đặc biệt có lợi nhuận. Hạt mười một mắt là vật thiêng của thần Rudra, mười hai mắt là của Mặt Trời, mười ba mắt tiêu trừ mọi cái ác, mười bốn mắt thì tượng trưng cho mười bốn hiện thân và tiêu trừ tất cả cái ác.

Các loại hạt này thông thường có bốn màu: trắng, đỏ thẵm, vàng, đen. Loại màu thứ nhất và thứ hai hiếm gặp nhất. Chúng được quý hơn không chỉ vì hiếm mà còn vì vị trí xã hội: màu trắng là của đẳng cấp Bà-la-môn, đỏ của đẳng cấp vũ sĩ, vàng của thương nhân và chúa đất, đen của thợ thuyền.

Thần thoại kể rằng hạt Rudraksha được tạo thành từ nước mắt của Rudra, một hiện thân của thần Shiva, do đó nó có quyền lực y học, sức mạnh tinh thần và quyền lực siêu nhiên. Mỗi loại trong số mười bốn loại hạt có một vị thần ngụ và có giá trị riêng. Hạt càng nhỏ thì càng có giá trị chữa bệnh. Hạt có lỗ tự nhiên để xuyên sợi dây qua là loại hạt thiêng nhất.

Có những nghi thức và tập quán về việc đeo tràng hạt thế nào để đạt kết quả mong muốn. Việc tiếp xúc của tràng hạt với cơ thể là thiết yếu để đạt được sự mầu nhiệm. Có thể đeo riêng một hạt hoặc đeo cả tràng hạt. Tràng hạt Rudrasha được coi là giúp con người khỏe mạnh và sung túc.

Tràng hạt thường có hai mươi bảy hạt, năm mươi tư hạt hoặc một trăm linh tám hạt. Trong khi ngồi thiền, người ta vừa đọc kinh vừa lần tràng hạt.

Bên cạnh việc phân loại tràng hạt như ở trên, người Hindu mộ đạo coi trọng những loại hạt khác thường. Để thử xem hạt có thật hay không, người ta bỏ hạt vào một cốc nước, hạt chìm xuống đáy là hạt thật. Buôn bán tràng hạt rất phát triển ở những thành phố thiêng như Varanasi và Haridwar.

Đá SalagramaCo gai An Do

Salagrama là một hòn đá nhỏ, thực ra là hóa thạch của một loại ốc(hoặc mai cá mực) đã tuyệt chủng, được các giáo sĩ Bà-la-môn cổ đại coi là hiện thân của thần Vishnu. Nó đóng vai trò quan trọng trong việc thờ cúng củamột giáo sĩ Bà-la-môn, được coi là hình hài đang sống ở trần gian của thần Vishnu. Bản kinh Atharva Veda có nhắc đến hòn đá Salagrama khi viết rằng trong nhà của bất cứ một người Bà-la-môn nào mà không có Salagrama thì cũng ô uế như một bãi tha ma.

Salagrama được tìm thấy ở sông Gundak thuộc Nepal. Chúng thường có màu đen hoặc màu tối, hình tròn hoặc hình bầu dục, có nhiều thớ xếp chồng lên nhau, vân đá giống như hình cây cỏ. Những hòn quý nhất là đã được giun sâu đục thành lỗ. Chỗ eo thắt của những thớ đã có ý nghĩa như những hiện thân khác nhau của thần Vishnu. Một Salagrama ở dạng cái đĩa tròn có khả năng ban hạnh phúc, sức khỏe, tài sản và con cái. Salagrama có một nữa màu xanh lục sẽ xua đi mọi tội lỗi. Còn Salagrama hình chiếc ô sẽ giúp người sở hữu nó trở thành nguyên thủ quốc gia. Lễ cúng Salagrama không đòi hỏi phải làm thật lớn. Bản thân sự có mặt của nó đã đem lại hạnh phúc.

Salagrama trở nên thiêng vì sự tích Shani có lần đến thăm khi thần Vishnu đã tự hóa thành một ngọn núi. Shani tức giận hóa thành một con giun (Vajrakita) và quấy nhiễu Vishnu mười hai năm ròng. Sau thời gian ấy Vishnu trở lại hình hài ban đầu và truyền rằng từ đó trở đi những hòn đá của trái núi này phải được thờ cúng như là hiện thân của thần.

Salagrama được cất giữ tại nhà, được bọc trong một miếng vải, thường xuyên được tắm rửa và xức nước thơm, thỉnh thoảng còn được để cho nước nhỏ giọt lên. Mặc dù hòn đá này là hiện thân có thể nhìn thấy được của thần Vishnu, nó còn là linga của thần Shiva, và là một hình dạng của Quả trứng Vũ trụ.

Shiva linga

Tượng sinh thực khí của thần Shiva (Thần Hủy Diệt và Tái Tạo) tượng trưng cho sức sáng tạo của thần Shiva, sức sáng tạo thiêng liêng, được phái Shaivite thờ khắp nơi. Tượng linga đi liền với tượng yoni (sinh thực khí nữ), tượng trưng cho sự hòa hợp của tự nhiên và năng lượng vũ trụ. Tượng này thường được làm bằng chất liệu đá, nhưng ở vùng đất lạnh phía bắc Ấn Độ (đền Amarnath ở vùng Kashmir) có pho tượng được tạo tác bằng nước đóng băng. Shiva linga có ba phần. Dưới cùng là một phiến đá phẳng hình vuông, ở giữa là bệ đỡ hình bát giác hoặc hình bầu dục (biểu tượng của yoni), trên cùng là một hình trụ đầu tròn – tức là linga.

Linga có thể cố định (achal) hoặc có thể di chuyển được (chal). Linga có thể di chuyển thì được đặt tại điện thờ của gia đình, làm bằng đất nung hoặc bột mì, sau khi cúng thì bỏ đi. Nó có thể là vật trang sức ở dây chuyền, hoặc trang trí khắp nơi. Linga cố định thì được đặt trong đền thờ. Nhiều khi đền thờ chỉ cần có tượng linga mà không có tượng thần Shiva.

Trong đền thờ, người ta thường sắp xếp cho nước liên tục nhỏ giọt xuống đầu linga. Trong các buổi cầu kinh, linga được rửa, được quàng tràng hoa xung quanh, được tưới sữa và bơ tinh khiết, được rắc gạo và một vài thứ thực phẩm vào. Linga có thể được tạo hình, hoặc có thể là hòn đá hình trụ sẵn có lấy từ sông suối về, gọi là bana-linga.

Bò – con vật thiêng

Người nước ngoài đến Ấn Độ luôn lấy làm lạ khi thấy bò thả rong trên đường phố, có khi làm cản trở giao thông, bò xông vào quấy nhiễu những quầy hoa quả và hàng quán. Dần dần người ta vỡ lẽ, bò là con vật được bảo vệ. Theo tín ngưỡng Hindu, bò (cái) được coi là con vật thiêng, là biểu tượng của Mẹ – Trái đất. Với những người di cư đến đây từ cổ đại và làm nghề nông, bò là thành viên gắn bó của gia đình. Bò cung cấp cho họ sữa, những sản phẩm từ sữa và những thứ thiết yếu như dầu đốt đèn (từ bơ) và phân bón. Thời ấy, người Aryan (từ chữ yaj tức là cúng). Ban đầu đó chỉ là hình thức cúng riêng tư đơn giản, dần dần nó trở thành lễ cúng chung. Bao gồm cả việc gọi Thần Lửa Agni bằng cách làm lễ xếp củi khô lên bàn thờ, thường xuyên giữ lửa bằng cách rẫy bơ lỏng vào lửa. Thông qua Agni, người ta cúng các món sữa, sữa chua và mật ong cho vị thần yêu thích của mình. Bò trở thành con vật thiêng vì nó cung cấp những thứ thiết yếu cho lễ cúng tế của giáo sĩ Bà-la-môn và dân chúng.

Trong thần thoại, Kamdhenu là Thần Bò, được Krishna chăn dắt, suốt đời đi theo Krishna. Bốn chân của Thần Bò được coi như bốn bản kinh Veda. Mỗi bộ phận trên cơ thể Thần Bò đều có một ý nghĩa tôn giáo: cặp sừng là biểu tượng của thần thánh, mặt bò là biểu tượng của mặt trời và mặt trăng, vai là thần lửa Agni, bốn chân tượng trưng cho dãy Himalaya. Thần Bò được thần Brahma tạo ra cùng lúc với đẳng cấp Bà-la-môn. Trong khi các giáo sĩ Bà-la-môn đọc kinh Veda, Thần Bò lấy sữa của mình tạo ra bơ tinh khiết, dùng cho việc đốt lửa cúng tế.

Sau thời đại Sử thi, việc tế sinh giảm dần vì người theo đạo Hindu chuyển sang ăn chay – ảnh hưởng của đạo Phật và đạo Jain, đặc biệt là đối với tầng lớp giáo sĩ Bà-la-môn và bình dân tự do. Dần dần bò được coi là Gaumata (Mẹ Bò) rồi Aditi (Mẹ của các Thần). Việc phái Vaishna (tín đồ theo vishnu) nổi tiếng trong đẳng cấp trung lưu sung túc và đẳng cấp thấp (thể hiện qua nhân vật Krishna chăn bò) giúp củng cố sự tôn vinh bò về mặt tôn giáo. Một số yếu tố khác dẫn đến việc tôn bò là vật thiêng: kinh Veda có sử dụng hình ảnh của bò; việc giáo sĩ Bà-la-môn cấm giết bò; và khi người Hồi giáo đến xâm lược, biểu tượng bảo vệ bò được đưa ra nhằm khẳng định tình đoàn kết tôn giáo giữa các bản địa.

Như vậy, con vật thiêng phải là bò cho sữa (bò cái). Bò đực chỉ liên quan ở chỗ con bò Nandi đã là “phương tiện giao thông” của thần Shiva. Nhưng bò đực, nếu không dùng để làm sức kéo ở một số vùng nông thôn thì chỉ là con vật vô dụng, lang thang khắp nơi. Người Hindu cho rằng phân bò là thứ sạch sẽ, có thể dùng vào việc tẩy uế. Cho đến tận ngày nay, ở nhiều vùng nông thôn, công việc dọn dẹp vệ sinh đầu tiên của buổi sáng là dùng phân bò khô kỳ cọ lối vào nhà.

Chim Công, Quốc điểu Ấn ĐộChim Cong vat-thieng-hindu

Chim Công chính thức được chính phủ Ấn Độ công nhận là quốc điểu từ năm 1963, nhưng đã là biểu tượng cao quý trong văn hóa Ấn Độ từ xa xưa. Hình ảnh công đã có trong một số di vật khai quật được ở hai thành phố cổ đại Mohenjodaro và Harappa. Chim công xuất hiện trên một số chỉ dụ khắc trên đá của hoàng đế Ashoka (thế kỷ III trước CN), trong khu bảo tháp Phật giáo nổi tiếng ở thánh địa Sanchi, hiện diện trên một số đồng tiền thời Gupta (thế kỷ V CN), trên quốc huy của một số triều vua Tughlak đạo Hồi, đặc biệt lên đến đỉnh cao với Ngai Công – một cái ngai vàng chạm khắc hình chim công bằng vô vàn viên đá quý, do hoàng đế đạo Hồi Shah Jahan đặt làm. Thời đó người ta ước tính giá trị của Ngai Công gấp đôi số tiền xây dựng lâu đài Taj Mahal nổi tiếng, ngày nay là biểu tượng của đất nước Ấn Độ. Ngai Công có một số phận chìm nổi: năm 1739 hoàng đế Nadir Shah xâm lược Ấn Độ, cướp lấy Ngai Công mang về Ba Tư trong một chặng đường chinh chiến dài dằng dặc và rất nhiều bất trắc. Suốt hai thế kỷ sau đó, ngai được giữ ở Teheran, rồi biến mất một cách bí ẩn, cho đến khi chỉ còn là huyền thoại.

Chim Công là con vật thiêng trong thần thoại Ấn Độ. Nó là phương tiện giao thông cho thần Kartikeya (con trai thần Shiva) cưỡi lên, khi ông ở cương vị tổng chỉ huy quân đội của các vị thần. Ngọc hoàng Indra (đồng thời là thần mưa gió) cũng từng có lúc hóa thân thành chim công, một lý do vì sao mỗi khi có mưa, chim công xòe đuôi xòe cánh hân hoan múa lượn. Vị thần đa tình Krishna cũng học cách quyến rũ bạn tình của chim công. Trước cửa những ngôi đền thờ thần Krishna, ta vẫn thường thấy chim công như một hình ảnh không thể thiếu. Trong Jataka, tập hợp những truyện cổ về tiền thân Đức Phật, có truyện Mahamor (Chim công vĩ đại) kể rằng một kiếp trước của Phật là công vàng. Trong thần thoại Phật giáo, chim công luôn là biểu tượng của tình thương và sự quan tâm đến mọi người.

Chim công cũng là hình tượng nổi bật và là nguồn cảm hứng của thi ca, hội họa, điêu khắc, ca múa ở Ấn Độ từ xưa đến nay.■

Hồ Anh Thái

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 63

(Visited 1,065 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *