Tôi chưa mất trí

| 01/03/2017 | 0 Comments

MEG  HUTCHINSON | PHẠM  LỆNH  HỒ dịch

toi-chua-mat-tri

Tôi vừa được hai mươi tám tuổi khi cuộc sống nội tâm của tôi suy sụp. Từ năm mười chín tuổi, tôi đã phải lặng lẽ chiến đấu với tâm trạng buồn chán, nhưng nối tiếp những thời kỳ đầy đam mê và tràn trề năng lực thì trạng  thái ủ rũ ngày càng tăng. Những gì mà tôi vẫn thường viết ra với tính cách của một “tính khí nghệ sĩ” bấy giờ bắt đầu trở nên một hành trình làm kiệt sức.

Vào  đầu  mùa  xuân năm  ấy, tôi được tuyển  tham gia một chuyến lưu diễn âm nhạc tốc hành trên khắp Vương quốc  Anh cùng  nhiều  ban  nhạc  khác. Chúng tôi đã uống  rất nhiều  bia rượu và ngủ  thật  ít; và tôi cảm thấy tất cả những  điều đó thật bình thường. Tôi thình lình trở nên một kẻ hoạt bát, dễ cười và đầy năng lực sáng tạo. Nhưng khi trở về đến Boston, tôi nhanh chóng rơi vào vòng xoáy của sự suy sụp.

Tôi bắt đầu khó ngủ, có khi trằn trọc hàng giờ. Tôi từng lạc lối trong  lúc lái xe quanh  chỗ mình đang  ở. Phản xạ của tôi chậm lại và tôi không thể dạo được mấy khúc nhạc  guitar. Khi chuẩn  bị hành  trang  cho một chuyến đi tới Minnesota, tôi cảm thấy hết sức khó khăn để quyết định. Ngay cả những  vấn đề thật đơn giản, bộ não của tôi dường  như cũng chẳng  thể vận dụng được. Tôi cần phải mang theo bao nhiêu bộ quần áo cho một chuyến đi kéo dài hai tuần lễ? Cái nút trên chiếc máy giặt này vận hành ra sao? Hiện nay đang là mùa nào?

Khi cảm thấy cái tình trạng rối loạn đó đang đến với cuộc đời mình, cơn hoang mang của tôi biến thành sự sợ hãi. Não tôi đang lao nhanh  vào những  vòng xoáy kín khít của sự lo âu, mà cố gắng đến mức nào đi nữa, tôi cũng không thể thoát  ra khỏi những  ý   nghĩ bệnh hoạn. Tôi có cảm tưởng chứng bệnh  mất trí nhớ ở tôi đang nhanh chóng phát triển.

Lúc ấy tôi đang trải qua cái điều mà sau này tôi mới biết là một “tình trạng hỗn hợp” trong đó một người ở trạng thái rối loạn lưỡng cực cùng lúc chịu sự đau khổ vì cả những đam mê lẫn những chán nản. Sau một đợt hoàn toàn mất ngủ trong suốt năm ngày, tôi cầu cứu gia đình. Phải can đảm ghê gớm lắm tôi mới có thể nói được, “Mẹ ơi, đầu óc con có vấn đề gì rồi đó. Con về nhà đây!”.

Cha mẹ tôi vốn là những  cựu binh của phong  trào phản  kháng  về văn hóa hồi thập  niên 1960. Các chị em tôi đã theo học tại một ngôi trường giảng dạy một chương  trình phi chính thống, kiểu giáo dục thường  xuyên, được nuôi ăn bằng  những  thực phẩm của các cơ sở điều trị dựa vào phép dinh dưỡng và của những hợp tác xã. Trong gia đình tôi, khi người nào cảm thấy phiền muộn thì hoặc hãy chịu khó ăn thêm một ít cải xoăn hoặc thực hiện một cuộc đi bộ đường dài hay viết một bài thơ. Nhưng bấy giờ tôi chẳng  thể nào kiểm soát được các chức năng não bộ của mình nữa; những biện pháp  trước đây vẫn giúp tôi thoát  khỏi sự trầm cảm thì nay chẳng có tác dụng.

Tôi đã phải tập trung  tất cả sự chú ý trong  lúc lái xe suốt  gần  hai tiếng  rưỡi đồng  hồ để trở về nhà  ở Beskshires. Đại lộ Massachusetts Turnpike vẫn còn khá trống trải khi mặt trời bắt đầu lên. Nhìn thẳng vào bầu trời buổi sáng đầy mầu sắc, tôi nhận  ra mình không còn cảm nhận được vẻ đẹp; giống như tôi đi qua một con kênh để từ đó nhận biết cuộc đời vừa biến thành một màu xám xịt câm nín. Những người chưa từng trải nghiệm một sự thất vọng sâu xa thường  tưởng tượng điều đó giống như một nỗi buồn chán cực độ. Chúng tôi, những  kẻ đã sống với tình trạng đó, biết rằng nó vượt qua mọi mức độ buồn chán. Đó là một sự trì trệ sâu sắc, đến mức vô tri, và nó biểu hiện một cách có thật nơi thân xác, giống như bất kỳ một chứng bệnh nghiêm trọng nào.

Khi tôi lái xe trong  buổi sáng hôm  ấy, những  câu thơ của bài “Trong một thời kỳ tăm tối” của Theodore Roethke  tiếp  tục  lặp đi lặp lại trong  đầu  tôi. Đó là những câu thơ mà tôi đã vẽ lên tường phòng  ngủ của mình lúc tôi còn niên thiếu:

Trong một thời kỳ tăm tối, con mắt bắt đầu nhìn thấy
T
ôi gặp cái bóng của mình trong bóng tối ngày càng sâu đậm
Sự rồ
dại nào hay chỉ có tâm hồn cao thượng
Đ
ang xung đột với hoàn cảnh?toi-chua-mat-tri

Những câu thơ ấy giống như điều báo trước cho tôi vào lúc bấy giờ. Tôi có cảm giác mình đang  chìm vào những  chỗ sâu thẳm  kín đáo nhất  của tiềm thức, và tự hỏi tôi có thể tìm thấy những gỉ ẩn giấu nơi đó. Tôi nghĩ, cứ để cho tôi xử lý tình trạng rối loạn tuyệt đối này với một chút cao thượng.

Tôi cho xe dừng ở đường dẫn vào căn hộ của mẹ tôi rồi đi bộ trên con đường  đưa tới ngôi nhà nơi tôi đã chào đời. Mẹ tôi bảo, “Mẹ chưa bao giờ trông thấy con như thế này”. Tôi nhận ra những làn sóng kinh hãi lướt qua trên gương mặt bà. Khi còn là con nít, tôi vẫn hạnh  phúc và bình thản khi mẹ tôi thường gọi tôi là “đứa trẻ của Đức Phật”. Tôi vẫn luôn giữ được cách che giấu cảm xúc; và phản ứng của tôi trước nghịch cảnh là làm việc một cách kiên trì hơn rồi lặng lẽ chờ đợi mọi khó khăn qua đi trong tinh thần khắc kỷ.

Nhưng bấy giờ tôi không thể giải quyết những vấn đề của mình, hơn nữa, những  khó khăn ấy còn vượt ngoài khả năng của cả gia đình tôi. Trong nhiều ngày liên tiếp, các chị em tôi đã cố thử mọi giải pháp – tắm nước muối, dùng thực phẩm nóng sốt, xoa bóp, đi bộ thật  chậm,  uống  thuốc  ngủ,  uống  nước nấu  rễ cây nữ lang, áp dụng  các liệu pháp  tâm lý – nhưng  cuối cùng chúng  tôi nhìn nhận  rằng đã đến  lúc phải đến bệnh viện. May mắn là cô em gái của tôi đang theo học chương trình thạc sĩ về công tác xã hội, cô ấy có đủ khả năng giải thích cho cả nhà hiểu về các chứng bệnh tâm thần và ủng hộ tôi một cách mạnh mẽ.

Tôi tự mình đến đăng ký khám bệnh nội trú tại Trung tâm Y khoa Berkshires, ở đó tôi đã được điều trị chứng rồi loạn lưỡng cực trong  suốt hai mươi mốt ngày. Tôi đã chiến đấu để tồn tại bằng cả thân và tâm trong lúc chứng bệnh tàn phá bộ não của tôi khiến tôi tuyệt vọng đến nỗi muốn được giải thoát khỏi thân thể của mình. Đây chính là cái lúc mà câu chuyện của tôi bắt đầu.

Vì bộ não của tôi đã bị tổn thương đến vậy, tôi cũng đã có được một cơ hội vô cùng to lớn. Tôi chẳng có đủ lời để diễn tả điều đó, nhưng điều còn lại là một sợi dây bền chặt sâu xa của ý thức vẫn liên kết tôi với một điều gì đó ở sâu thẳm trong tôi. Tôi đã đi đến chỗ phát hiện ra rằng sự suy sụp tinh thần ấy lại thực sự là một loại bài học cấp tốc về tâm linh. Bài học được tiếp thu rất nhiều và rất nhanh trong lúc bộ não chịu đựng một sự trục trặc khủng khiếp. Toàn thể bản sắc của con người hoàn toàn tan vỡ.

Thình lình tôi bị tước bỏ tất cả mọi thứ mà tôi từng cho đó là “cái ngã” của mình. Tôi mặc lẫn lộn chiếc quần pyjama của bệnh  viện và chiếc áo của mấy người chị em. Tôi chia sẻ phòng  bệnh  cô quạnh  với một người hoàn toàn xa lạ. Tôi không được phép giữ tư trang, và chẳng có món ăn nào giống như những gì tôi đã từng ăn. Tôi cũng không thể tập trung đủ lâu để đọc hết một đoạn văn, và khi nhìn vào gương soi, tôi thấy đôi mắt tôi thâm  quầng  với gương  mặt choắt  lại đến  nỗi tôi không nhận  được mình. Không có cách nào giúp tôi xác định được mình trong cái thế giới này lại thực sự có một chút ý nghĩa. Tại khoa điều trị bệnh  tâm thần, chẳng ai quan tâm đến việc bạn đã từng đứng đầu lớp suốt thời gian theo học đại học hay việc bạn vốn là vận động viên tên tuổi của trường, hoặc bạn đã từng thành công  hay nổi tiếng. Những câu chuyện  cá nhân  của bạn chẳng có ích gì tại nơi này. Quả thật, tôi từng trải nghiệm  những  phản  ứng đầy ác cảm với cái ngã của tôi. Tôi bị tràn ngập với những ký ức về sự kiêu ngạo và tính hiếu thắng của mình, đồng thời có một cảm giác nuối tiếc sâu xa về tất cả những cách mà tôi đã sử dụng để phê phán người khác. Thực tại hoàn toàn có đủ cho tất cả mọi người tại một khoa nội trú. Khi tôi nói, “Tôi là nhạc sĩ dân gian và đã đi lưu diễn khắp châu Âu” thì tôi cũng chỉ nhận được cái nhìn lơ đãng của nhân viên công tác xã hội hệt  như khi anh chàng  cùng  phòng tuyên bố rằng có một con quỷ vẫn sống trong nhà để xe của người hàng xóm của anh ta.

Tôi chẳng còn sót lại được một công cụ nào mà tôi vẫn sử dụng  để xác định chỗ đứng  của mình trong cuộc đời. Thay vào đó, tôi đã phát hiện ra một sự hiểu biết sâu sắc vốn là chứng nhân cho kinh nghiệm  của tôi và hướng dẫn tôi ngay cả trong lúc bộ não của tôi đang hư hỏng. Đó là một sự dịu dàng lặng lẽ, một niềm tin vào một điều gì đó lớn hơn, rộng hơn cơn đau cảm xúc đang dày vò tôi. Đó chính là cái bản năng sâu kín, thâm căn cố đế, mặc dù mờ nhạt, tiếp tục giữ cho tôi được an toàn trước chính mình. Tôi đã không đánh mất mình vào mùa hè năm ấy. Tôi đã tìm thấy tâm mình.

Phải mất sáu tuần lễ tôi mới có thể có được giấc ngủ đủ sâu để nằm mơ. Đêm đầu tiên có được giấc mơ, tôi thấy tôi leo lên một con đường có bậc thang trên sườn núi cùng với cả trăm người ẩn cư. Mặt đất xám xịt và tối mò mò, nhưng  tất cả chúng  tôi đều phục sức với những bộ quần áo màu sáng và có đeo ba-lô đựng tư trang sau lưng. Giấc mơ thật là sống động và sáng hôm sau tôi thức giấc với cảm giác tràn trề hy vọng.

Đêm thứ hai tôi nằm mơ thấy mình đi dọc theo một đoạn đường rừng. Chung quanh tôi là những hàng cây cao xanh mướt. Tôi bắt đầu chạy càng lúc càng nhanh, nhảy càng lúc càng cao, cho đến lúc tôi phóng vụt lên và bay đi. Cứ thế, một cách chậm chạp, mỗi ngày cuộc sống lại trở về với tôi. Chị tôi đưa tôi đi xem cá heo ở vùng bờ biển thị trấn Princetown. Chúng tôi đã đi xem cá heo nhiều lần trong đời nhưng lần này thật là tuyệt vời. Một bầy cá heo gồm ba con bơi sát cạnh chiếc thuyền rồi bắt đầu nhảy vọt lên thật cao khỏi mặt nước làm nước bắn tung tóe khi chúng lao xuống biển trở lại. Chúng nhảy múa và đùa giỡn bên cạnh chúng tôi một hồi lâu.

Tôi đứng cạnh lan can boong tàu nắm chặt cánh tay người chị ruột, cười với chị trong làn không khí thấm đẫm vị mặn của muối. Khi mặt trời lặn, bầu trời trở nên lộng lẫy với một nền vàng pha tím, và tôi cảm nhận cái đẹp đã trở về với nhận thức của mình. Tôi nhớ lại câu thơ của Roethke, Trong một thời kỳ tăm tối, con mắt bắt đầu nhìn thấy. Tôi vừa nhìn thấy cuộc đời theo cái cách mà tôi chưa bao giờ nhận thức được.

Đó không phải là một câu chuyện thần kỳ. Tôi sống sót vì tôi đã có sự trợ giúp. Bộ não của tôi trở lại quân bình vì tôi có một căn bản sức khỏe và cả một mạng lưới hỗ trợ tuyệt vời, tôi dùng thuốc một cách cần mẫn, chấp nhận các cách điều trị đúng mực, và biết thay đổi cách sống của mình. Tôi được chữa lành bởi vì tôi đã bước qua được cánh cửa hẹp mà cơn bệnh đã mở ra cho tôi.

Tôi không còn nghĩ rằng mùa hè năm ấy là “sự suy sụp” mà coi đó là một“bước đột phá”. Ở tuổi hai mươi tám, tôi đã được ban cho một lời kêu gọi nhằm đánh thức, lời kêu gọi ấy sẽ ảnh hưởng đến suốt phần còn lại của đời tôi. Tôi đã được ban cho một giáo lý sâu sắc về sự thực của khổ đau, về bản chất của thực tại, và về sự quý giá của đời sống con người. Không có nỗi đau đớn đó, có thể tôi chỉ được đánh thức khi tôi đã là một mụ già, hoặc là chẳng bao giờ.

Tôi vẫn luôn có một sự quan tâm đối với Phật giáo, nhưng chính là kinh nghiệm của tôi trong mùa hè năm ấy đã chuẩn bị cho tôi gặp được vị thầy của mình và nhận  lễ quy y. Trong nhiều  năm, tôi vẫn thường  đi ngang  qua một vị tu sĩ Phật giáo trên con đường gần nhà mình. Tôi vẫn có cảm giác về một sự liên kết mạnh mẽ với ngài nhưng  không  đủ bạo  dạn  để lên tiếng chào. Sau khi trở về Boston, một người bạn mời tôi đến dùng cơm với một vị Lạt-ma Tây Tạng. Hóa ra đó chính là vị tu sĩ Phật giáo mà tôi vẫn thường  đi ngang  qua mặt ngài trong từng ấy năm. Bấy giờ, tôi đã sẵn sàng để trở thành một đệ tử.

Trong bảy năm qua của sự phục hồi, tôi đã phát hiện một trung  đạo giữa Phật giáo và nền y học phương Tây. Để tôi thực  hành  thiền  định, cuối cùng,  tôi đã nhìn nhận rằng chính dược phẩm đã đóng một vai trò quan trọng trong việc giữ cho bộ não của tôi được lành mạnh. Nhưng chính công trình tâm linh đã cho phép tôi có được sự chữa lành sâu xa nhất, cả về thể xác lẫn cảm xúc.

Tôi nghĩ rằng chúng ta đã nhầm lẫn khi gọi “bệnh thần kinh” là “tâm bệnh”. Điều này hàm ý rằng ở phần sâu kín nhất của con người, chúng ta nhất thiết phải có bệnh.  Nhiều chứng  bệnh  của bộ não  có thể  rất nghiêm  trọng  đủ để che mờ tâm  ý của con người; nhưng  kinh nghiệm  của tôi cho thấy rằng não bộ và tâm trí không phải là như nhau. Chính là căn bệnh  ở não bộ của tôi đã cho tôi thấy sự minh mẫn cố hữu của tâm trí mình. Giờ đây tôi thiền định mỗi ngày để làm cho điều đó trở nên sáng rõ. Tôi thiền định để cho sự lành mạnh của tâm trí ngày càng có thêm  không gian  trong  cuộc  sống  của mình, để  bảo  đảm  rằng chứng  nhân  nội tâm sẽ còn mạnh  mẽ hơn nữa nếu lần sau tôi lại phải trải qua một khó khăn nào khác. Đã sống sót qua một cái chết gần kề, tôi nhận  thức được tầm quan trọng của việc thực hành về cái chết lớn hơn của tấm thân giả tạm này. Không có một sự khích lệ nào cho sự hồi phục  lớn hơn sự nhận  thức rằng chúng  ta luôn luôn khỏe mạnh. Chúng ta bước vào cuộc đời này với “tâm hồn cao thượng” như điều mà Roethke có nói tới. Bất kể hoàn cảnh là thế nào, sự thanh tịnh đó vẫn tồn tại và chúng ta có thể tìm được đường trở về với sự thanh  tịnh ấy. Bệnh hoạn có thể làm tan vỡ tim ta, nhưng bệnh hoạn cũng làm tim ta mở rộng. ■

Nguồn: I did not lose my mind, Meg Hutchinson,   Lion’s Roar, số tháng  Năm, 2014, http://www.lionsroar.com/i-did- not-lose-my-mind-may-2014/.

Meg Hutchinson  là một ca sĩ và nhạc sĩ chuyên  về nhạc dân gian, sinh trưởng ở Massachusetts  và hiện sinh sống tại Boston. Cô có bằng Cử nhân Văn chương, đã giành được nhiều giải thưởng về sáng tác âm nhạc cả ở Hoa Kỳ, Ái Nhĩ Lan và Anh quốc. Cô là một Phật tử theo truyền thống Tây Tạng.

Van Hoá Phật Giáo số 218-219 Xuân

(Visited 106 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Phạm Lệnh Hồ, Xã Hội

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *