Hội Phước cổ tự ở Trảng Bàng (Phí Thành Phát)

Đức Phật ra đời vì một đại sự nhân duyên lớn “Khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến” nên sau khi thành Phật, bằng tất cả tấm lòng đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, ngài chu du khắp nơi để hoằng hóa độ sinh với mục đích đưa hết thảy chúng sinh đang chìm đắm trong bể khổ trở về với đời sống an lạc giải thoát. Học theo Đức Phật, các vị sư đã cùng với các lưu dân trong cuộc Nam tiến đi đến những vùng đất mới khai hoang mở cõi để truyền bá giáo lý của Đức Phật.

Từ thế kỷ thứ XVIII đến thể kỷ thứ XIX, trong cuộc Nam tiến đã có nhiều vị sư đến vùng đất Tây Ninh và chọn mảnh đất này là nơi dừng chân, thành lập chùa chiền để hoằng truyền Phật pháp. Cuộc khai phá vùng đất Tây Ninh của người Việt phải đến đầu thế kỷ XIX mới được tiến hành một cách mạnh mẽ. Nhất là sau khi triều đình cho đắp con đường thiên lý, nhiều đợt di dân từ nhiều nơi đến Tây Ninh và một số làng mới được lập nên. Song song với việc hình thành các làng mới thì hàng loạt những ngôi chùa đã được xây dựng nhằm đáp ứng cho nhu cầu tinh thần của lớp cư dân Việt đi khai phá, đồng thời khẳng định công cuộc định cư của họ, đặc biệt là từ sau khi nhà Nguyễn thành lập phủ Tây Ninh năm 1838. Và như vậy, các ngôi chùa được xây dựng trong nửa đầu thế kỷ XIX phần lớn tập trung ở các khu vực Trảng Bàng, Gò Dầu và thành phố Tây Ninh.

Trong đó, có vị thiền sư đạo hiệu Liễu Linh Chơn Ứng trụ trì tổ đình Phụng Sơn từ Gia Định-Chợ Lớn đến vùng đất Trảng Bàng (Tây Ninh) thành lập chùa Hội Phước để hoằng pháp độ sinh và rộng truyền dòng phái Lâm Tế Tổ Đạo.

Hành trạng
Hòa thượng Liễu Linh Chơn Ứng
Hòa thượng Liễu Linh sinh năm Ất Sửu (1805) trong gia đình họ Lê, người ở Gia Định. Ngài xuất gia nối truyền theo hai dòng phái, có pháp húy Liễu Linh (了 靈) pháp danh Chơn Ứng (真應) thuộc phái Thiền Lâm Tế dòng Tổ Đạo thế hệ thứ 37, và pháp húy Hải Linh (海 靈) pháp danh Quảng Từ (廣慈) thuộc phái Thiền Lâm Tế dòng Liễu Quán (dòng Tế Thượng) thế hệ thứ 40.

Vào đầu thế kỷ XIX, có thiền sư đạo hiệu Liễu Thông Chơn Giác (1753-1840) thuộc phái Thiền Lâm Tế, dòng Tổ Đạo thế hệ thứ 37, thế danh Huỳnh Đậu, người Thanh Hóa. Thiền sư đi vân du hóa đạo từ miền Trung vào phủ Gia Định. Khi dừng chân trên một gò đất cao, cảm thấy cảnh trí nơi đây thanh tịnh thích hợp cho việc tu hành và hoằng pháp nên ngài dựng một thảo am tại đây và được người dân trong vùng quen gọi là “chùa Gò” vì chùa nằm trên một gò đất cao bao quanh là bàu sen. Tương truyền, thiền sư Liễu Thông thấy một con chim phụng bay đến trước am, đậu trên cây ngô đồng và cất tiếng hót. Khi thảo am được cải tạo lại thành chùa, ngài đặt hiệu chùa là “Phụng Sơn” (鳳山寺) để ghi nhớ sự kiện này. Ngoài ra, tại chùa Phụng Sơn có cây bạch mai, hoa nở rất thơm, nên dân gian còn gọi là “chùa Mai Khâu”. Ngày nay, tổ đình Phụng Sơn là một trong những ngôi cổ tự của thành phố Hồ Chí Minh, tọa lạc tại số 1408, đường 3 Tháng 2, phường 2, quận 11 và đã được Bộ Văn hóa xếp hạng là Di tích Kiến trúc nghệ thuật cấp Quốc gia theo Quyết định số 1288-VH/ QĐ ngày 16 tháng 11 năm 1988. Ngày mùng 9, tháng 8, năm Canh Tý (1840), Thiền sư Liễu Thông viên tịch ở chùa Phụng Sơn, thọ 87 tuổi. Đồ chúng lập tháp thờ ở vườn chùa Phụng Sơn và chùa Sùng Đức . Đại chúng chùa Phụng Sơn cung thỉnh sư Liễu Linh Chơn Ứng về kế thế trụ trì chùa. Sau đó, Thiền sư Liễu Linh Chơn Ứng đi vân du hóa đạo đến xứ Cầu Xe (Trảng Bàng, Tây Ninh) thành lập chùa và đặt hiệu là “Hội Phước” (會福寺), nhưng dân gian vẫn thường gọi là “chùa Cầu Xe”.

Thiền sư Liễu Linh ở chùa Hội Phước hành trì, tu tập, tiếp Tăng độ chúng, hoằng truyền Phật pháp. Ngài thu nhận đệ tử và truyền thừa theo phái Thiền Lâm Tế, dòng Tổ Đạo với bài kệ do Thiền sư Tổ Định xướng xuất.

Ngài rất chú trọng đến việc đào tạo Tăng tài nên đã mở lớp Gia giáo tại chùa Hội Phước dạy kinh, luật, luận và nghi lễ Phật giáo cổ truyền cho đệ tử xuất gia và giảng kinh, thuyết pháp cho cư dân trong vùng. Đã có nhiều vị Tăng từ khắp nơi đến chùa Hội Phước cầu xin xuất gia, học đạo và cầu pháp với thiền sư Liễu Linh, những đệ tử của ngài về sau đều là những bậc danh tăng nổi tiếng ở Tây Ninh và cả Nam Bộ. Trong đó, tiêu biểu có sư Trừng Lực Chơn Hữu thuộc đời thứ 42, dòng đạo Lâm Tế Liễu Quán (Hòa thượng khai sơn tổ đình Phước Lưu) đến cầu pháp được sư Liễu Linh đặt pháp hiệu là Diệu Thông húy Đạt Định; sư Như Định thuộc đời thứ 39, dòng Lâm Tế Bổn Ngươn (tổ khai sơn chùa Phước Thạnh) đến cầu pháp được sư Liễu Linh đặt pháp hiệu là Diệu Nhẫn; đệ tử xuất gia với sư Liễu Linh được đặt pháp danh là Diệu Đại húy Đạt Kế nối đời thứ 38, dòng Lâm Tế Tổ Đạo (Giáo thọ chùa Tịnh Độ), đây là những đệ tử ưu tú của Thiền sư Liễu Linh.

Thiền sư Liễu Linh Chơn Ứng là bậc danh tăng thạc đức thời bấy giờ nên đã được chư sơn thiền đức cung thỉnh giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Hội đồng Thập sư. Trong tác phẩm “Ngũ gia tông phái ký toàn tập”, quyển trung, có đề cập đến như sau:

Ngày mùng 8, tháng 4, năm Tân Mùi (1871), lập Giới đàn tại chùa Tây An (Châu Đốc), tôn Đại lão Hòa thượng Tiên Giác Hải Tịnh đương vi Hòa thượng Đàn đầu; sư Lê Chơn Ứng (chùa Phụng Sơn, Chợ Lớn và chùa Hội Phước, Tây Ninh) và sư Hải Tuệ (chùa Kim Cang, Biên Hòa) đương vi Yết-ma A-xà-lê; sư Minh Thế (chùa Long Quang, Cần Thơ) đương vi Giáo-thọ A-xà-lê.

Giờ Tý, ngày Rằm, tháng 11, năm Quý Dậu (1873), tại

chùa Sùng Phước (Chợ Đệm), Thiền sư Chơn Giác thiết lập

Giới đàn, tôn Yết-ma Lê Chơn Ứng (chùa Phụng Sơn, Chợ

Lớn và chùa Hội Phước, Tây Ninh) đương vi Hòa thượng

Đàn đầu; sư Ấn Sùng (chùa Sắc tứ Trường Thọ) đương

vi Yết-ma A-xà-lê; sư Quảng Thạnh (chùa Hưng Phước)

đương vi Giáo-thọ A-xà-lê; sư Trí Thông (chùa Sắc tứ Từ

3 Ân) đương vi Pháp sư .

Ngày 21, tháng 11, năm Ất Dậu (1885), Đại lão Hòa thượng Liễu Linh Chơn Ứng viên tịch ở chùa Hội Phước, thọ 81 tuổi. Đồ chúng lập tháp thờ tại chùa Hội Phước và tháp thờ vọng tại tổ đình Phụng Sơn. Tưởng nhớ đến công đức cao dày của Hòa thượng, tại các nơi như chùa Hội Phước, tổ đình Phụng Sơn, tổ đình Phước Lưu, chùa Phước Thạnh, chùa Hội Phước Hòa đều có lập di ảnh và long vị thờ phụng; hằng năm tại chùa Hội Phước đều có tổ chức lễ húy kỵ tổ sư.

Chùa Hội Phước
ngôi cổ tự xứ Trảng Bàng
Chùa Hội Phước là một trong những ngôi cổ tự được

thành lập từ rất sớm ở xứ Trảng Bàng nói riêng và Tây Ninh nói chung, hiện tọa lạc tại ấp Cầu Xe, xã Hưng Thuận, thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Chùa trải qua nhiều đời trụ trì, nhưng do chiến tranh tàn phá nghiêm trọng nên không còn tư liệu hay long vị ghi chép đầy đủ về chư vị tổ sư tiền bối tại chùa. Hiện ở vườn tháp chùa còn bốn ngôi tháp chư vị tổ sư, trong đó có tháp của Hòa thượng Liễu Linh (tổ khai sơn chùa Hội Phước), tháp của Yết-ma Như An Chánh Hòa (đời thứ 39 dòng Lâm Tế Bổn Ngươn), một tháp không còn bia và tháp của Hòa thượng Bửu Tâm. Ngoài ra, theo tư liệu còn được gìn giữ tại các chùa ở Trảng Bàng và được sư Thiện Chánh (tổ đình Phước Lưu) cho biết chùa Hội Phước còn có Giáo-thọ Tròn, Hòa thượng Hồng Đức Hoa Quang (đời thứ 40 dòng Lâm Tế Bổn Ngươn), Ni trưởng Nhựt Phấn Diệu Tâm (đời thứ 41 dòng Lâm Tế Bổn Ngươn).

Yết-ma Như An Chánh Hòa, thuộc đời thứ 39 dòng Lâm Tế Bổn Ngươn, sinh năm Bính Dần (1866), tịch năm Bính Thìn (1916), thọ 51 tuổi, đồ chúng lập tháp thờ ở vườn tháp chùa Hội Phước.

Hòa thượng Hồng Đức Hoa Quang, cầu pháp với Hòa thượng Như Nhẫn Chí Tâm ở chùa Phước Lâm (Trảng Bàng) nối đời thứ 40 dòng Lâm Tế Bổn Ngươn. Thế danh Dương Văn Nhuần nên tục còn gọi là Hòa thượng Nhuần, sinh năm Ất Dậu (1885). Hòa thượng là người ở làng Gia Lộc, tổng Hàm Ninh Hạ, hạt Tây Ninh. Thân sinh của Hòa thượng là cụ Dương Văn Lái và cụ Võ Thị Lời. Hòa thượng trụ trì chùa Hội Phước, sau lập chùa Am ở Sóc Lào, Đôn Thuận. Hòa thượng tịch ngày mùng 6 tháng 3 năm Giáp Ngọ (1954), thọ 70 tuổi, đồ chúng lập tháp thờ Hòa thượng ở vườn tháp chùa Phước Lâm (Trảng Bàng), hiện ở chùa Hội Phước Hòa (An Hòa, Trảng Bàng) và chùa Am ở Sóc Lào (Đôn Thuận, Trảng Bàng) có lập di ảnh và long vị thờ phụng.

Ni trưởng Diệu Tâm, thế danh Nguyễn Thị Phấn, sinh năm Tân Hợi (1911). Ni trưởng là người con thứ tư trong gia đình của cụ Nguyễn Văn Tá ở làng Gia Lộc, nên về sau này môn đồ đệ tử thường xưng hô với Ni trưởng là “sư phụ” hoặc “thầy Tư”. Ni trưởng xuất gia với Hòa thượng Hồng Đức tại chùa Hội Phước có pháp húy Nhựt Phấn, thuộc đời thứ 41 dòng Lâm Tế Bổn Ngươn và học đạo cùng với các Sư bà, đặc biệt là Ni trưởng Diệu Phú ở chùa Kim Sơn (Sài Gòn), ngôi tổ đình của Ni giới Phật giáo vùng Nam Bộ thời bấy giờ. Ni trưởng Diệu Tâm là một trong những vị danh Ni nổi tiếng về tu học và giới đức, đặc biệt là có nhiều đóng góp trong việc đào tạo Ni giới Phật giáo vùng Trảng Bàng thời bấy giờ.

Trong thời gian Ni trưởng Diệu Tâm trụ trì tại chùa Hội Phước, vào khoảng những năm 1966 do ảnh hưởng chiến tranh, Ni trưởng cùng với đại chúng Ni ở chùa chuyển tượng Phật, đại hồng chung,… về chùa Hưng Quang (nay là tịnh xá Ngọc Quang, thuộc khu phố Lộc Du, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng) của Ni trưởng Diệu Quang rồi cùng ở đây tu tập và giảng dạy lớp Gia giáo Ni tại chùa Hưng Quang. Cảm mến đức độ của hai vị Ni trưởng, thời bấy giờ có rất đông Ni sinh và Phật tử đến quy y, thế độ và cầu pháp với các vị. Năm Nhâm Tý (1972), người dân hiến cúng một phần đất bên cạnh miếu Bà Chúa Xứ, Ni trưởng Diệu Tâm về vùng Cây Xoài Miễu (nay thuộc khu phố Hòa Hưng, phường An Hòa, thị xã Trảng Bàng) thành lập chùa và đặt hiệu là “Hội Phước Hòa” (會福和寺) với ngụ ý nhắc nhớ gốc tích chùa Hội Phước xưa và chùa được xây dựng tại An Hòa. Khi chùa xây xong, Ni trưởng chuyển tượng Phật, đại hồng chung từ chùa Hưng Quang về chùa Hội Phước Hòa và ở đây tu tập, hoằng pháp đến lúc viên tịch vào ngày mùng 9 tháng 7 năm Quý Hợi (1983), thọ 73 tuổi. Đồ chúng lập tháp thờ Ni trưởng trong khuôn viên chùa Hội Phước Hòa.

Hòa thượng Bửu Tâm, thế danh Nguyễn Văn Thẳng, sinh năm Bính Dần (1926), quê ở Cầu Xe. Hòa thượng quy y với Ni trưởng Diệu Tâm, sau cầu pháp và học đạo với Hòa thượng Thiện Hòa ở chùa Vĩnh An (Trảng Bàng). Năm Mậu Thân (1968), Hòa thượng Bửu Tâm thành lập am Vĩnh Hưng sau phát triển thành chùa Vĩnh Hưng. Hiện chùa tọa lạc tại khu phố Lộc Du, phường Trảng Bàng, thị xã Trảng Bàng do sư Thích Trí Đạt trụ trì. Năm Mậu Ngọ (1978), Hòa thượng Bửu Tâm về quê ở Cầu Xe cải tạo lại chùa Hội Phước và thỉnh tượng Phật, đại hồng chung cùng nhiều hiện vật của chùa từ chùa Hội Phước Hòa về thờ tự cho đến ngày nay. Hòa thượng ở chùa tu tập, hoằng pháp đến lúc viên tịch vào ngày mùng 5 tháng 6 năm Quý Mùi (2003), thọ 78 tuổi, đồ chúng lập tháp thờ Hòa thượng ở vườn tháp chùa Hội Phước. Hiện nay, chùa Hội Phước do sư Thích Trí Thông, trưởng tử của Hòa thượng Bửu Tâm, kế vị trụ trì. Hòa thượng Bửu Tâm trong thời gian trụ thế hoằng pháp độ sinh nguyên là Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Tây Ninh, Trưởng ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam huyện Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.

Hiện chùa Hội Phước có kiến trúc dọc đòn dông như các chùa Giác Hải (quận 6, TP.Hồ Chí Minh), Thiền Lâm (Gò Kén, Hòa Thành, Tây Ninh). Mặt tiền chùa được xây dựng theo lối bán nguyệt, một phong cách đặc trưng của thánh thất Cao Đài ở Tây Ninh.

Đại hùng Bửu điện là nơi trang nghiêm nhất của ngôi chùa, thờ chư vị Phật và Bồ-tát. Ban thờ Hộ pháp được đặt ở chính giữa quay nhìn vào điện Phật, hai bên trổ cửa ra vào, đối lưng với ban thờ Hộ pháp là ban thờ Tiêu Diện đại sĩ ở trước hiên chùa, đây cũng là một nét đặc trưng trong cách bài trí các ban thờ, tượng thờ trong chùa xưa ở Nam Bộ. Ở chái bên Tây và Đông, chính điện là ban thờ Bồ-tát Quan Âm và Bồ-tát Địa Tạng, hợp cùng với tượng Phật Thích-ca ở chính giữa điện Phật là bộ tượng “Tây phương Tam thánh”.

Được bố trí theo lối “tiền Phật hậu tổ”, sau chính điện là Tổ đường, nơi thờ chư vị tổ sư trụ trì đã quá vãng. Trên ban thờ tổ có tượng Đạt-ma tổ sư, Giám trai Sứ giả, di ảnh Hòa thượng Liễu Linh Chơn Ứng (tổ khai sơn chùa Hội Phước), di ảnh Hòa thượng Thiện Hòa (nguyên là Phó Tăng trưởng Giáo hội Phật giáo Cổ truyền tỉnh Tây Ninh, Hậu Nghĩa, viện chủ chùa Vĩnh An và là bổn sư của Hòa thượng Bửu Tâm), di ảnh Hòa thượng Bửu Tâm (viện chủ chùa Hội Phước, chùa Vĩnh Hưng). Hai bên ban thờ tổ là các ban thờ Phật Thích-ca, Di-đà Tam Tôn, Địa Tạng, Diêm Vương cùng với các ban thờ chư vị hữu công, ban thờ bá tánh. Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn có miếu thờ Quan Công, miếu thờ các vị nữ thần, Quan Âm lộ thiên, tháp chư vị tổ

sư, nhà cốt, nhà trù,… và đông lang là nơi vừa có chức năng là quá đường vừa là nơi tiếp khách.

Chùa còn gìn giữ đại hồng chung có niên đại vào năm Bính Thân (1896), đến nay đã ngoài 100 năm; hệ thống tượng gỗ xưa, đặc biệt là tượng Phật Thích-ca, tượng Bồ- tát Địa Tạng, tượng Đạt-ma tổ sư, tượng Giám trai Sứ giả, bộ tượng Di-đà Tam tôn (Di-đà, Quan Âm, Thế Chí), bộ tượng Diêm Vương (có hai vị Diêm La vương và Chuyển Luân vương), bộ tượng Hộ pháp (Hộ pháp Vi-đà, Thiện hữu, Ác hữu), bộ tượng Hộ pháp Già-lam (Quan thánh Đế quân), bộ tượng Cửu thiên Huyền nữ; đặc biệt pho tượng Linh Sơn thánh mẫu bằng hợp chất trong tư thế đứng, tay bắt ấn, đây là lối tạo hình đặc biệt ít thấy trong các tượng thờ Bà Đen ở Tây Ninh; ngoài ra còn có chuông, mõ, lư hương, chân đèn;… là những hiện vật xưa mang giá trị lịch sử gắn liền với ngôi cổ tự Hội Phước.

Cho đến nay, ở Cầu Xe mọi người vẫn còn truyền miệng nhau câu chuyện kể: “Sau khi tổ khai sơn chùa Hội Phước tịch rồi đầu thai chuyển thế làm thái tử bên Tàu. Vừa sinh ra, trên tay thái tử đã có dòng chữ có nội dung “Huỳnh Đậu Cầu Xe xứ”. Biết được tiền thân của thái tử là một vị danh tăng ở nước Nam, tìm về nguồn gốc và thể hiện lòng tri ân, thái tử đã cúng ở chùa Phước Lưu bộ tượng Di-đà Tam tôn bằng gốm”.

Nhưng thực tế, người tên Huỳnh Đậu là tổ Liễu Thông Chơn Giác, tổ khai sơn tổ đình Phụng Sơn mà không phải tổ Liễu Linh Chơn Ứng, tổ khai sơn chùa Hội Phước. Về bộ tượng gốm Di-đà Tam tôn hiện đang thờ tại chùa Phước Lưu thuộc dòng gốm Cây Mai Sài Gòn xưadolòBửuNguyênởChợLớntạotácvàonămẤtTỵ (1905), hiện minh văn trên các tượng gốm còn khắc lại niên đại và hiệu của lò gốm, bộ tượng này cũng không thuộc dòng gốm nào của Trung Quốc. Chẳng qua đây là một trong nhiều câu chuyện kể truyền miệng dân gian với mô-típ “du địa phủ”, là những dị bản của văn học dân gian nhằm thể hiện quan niệm nhân quả theo giáo lý của nhà Phật với mục đích khuyến thiện, khuyến khích chúng sinh nên làm lành lánh dữ, ở hiền sẽ gặp lành hay làm lành gặp lành, làm ác gặp ác.

Chùa Hội Phước – ngôi cổ tự ở xứ Trảng Bàng (Tây Ninh) là nơi lưu dấu bước chân hoằng pháp độ sinh của Hòa thượng Liễu Linh Chơn Ứng, một vị danh tăng nơi vùng đất Nam Bộ. Ngôi chùa mang đậm nét của sự dung hòa giữa tôn giáo và dân gian trong kiến trúc, lối thờ tự cùng những câu chuyện truyền miệng đã thể hiện được tinh thần nhập thế của Phật giáo nơi mảnh đất phương Nam. 

Chú thích:

1. Ủy ban Nhân dân tỉnh Tây Ninh (2006), Địa chí Tây Ninh, tr.513.

2. Thành hội Phật giáo TP.Hồ Chí Minh (2001), Biên niên sử Phật giáo Gia Định – Sài Gòn – TP.Hồ Chí Minh, Nxb TP.HCM, tr.46.

3. Xem thêm: Thành hội Phật giáo TP. Hồ Chí Minh (2001), Biên niên sử Phật giáo Gia Định – Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh, Sđd, tr.58,59.

* Ảnh của tác giả

Hội Phước cổ tự ở Trảng Bàng (Phí Thành Phát)

Trả lời