Quan điểm về cư sĩ đắc thánh quả trong kinh Mi Lan Ðà vấn đạo (Vĩnh Không)

Cư sĩ có khả năng đắc quả là điều được xác nhận bởi chính Đức Thế Tôn và trong thời của Ngài đã có rất nhiều cư sĩ đắc quả. (Ảnh fizdi.com)

Kinh Mi Lan Đà vấn đạo (Milindapañhā) là tác phẩm ghi lại những cuộc hỏi, đáp về Phật pháp giữa vua Mi Lan Đà (Milinda) và Tỳ kheo Na Tiên (Nāgasena) có niên đại khoảng thế kỷ I TCN. Nội dung các câu hỏi, đáp xoay quanh những vấn đề tinh yếu trong giáo lý của Đức Phật, được thể hiện qua những kiến giải trung thành với quan điểm nguyên thủy của Phật giáo. Do đó, kinh này được xem là một tác phẩm quan trọng trong nghiên cứu Phật học. Ở Việt Nam, kinh Mi Lan Đà vấn đạo được phổ biến với hai phiên bản là kinh Na Tiên Tỳ kheo trong Bắc tạng và kinh Mi Tiên vấn đáp trong Nam tạng. Trong bài viết này, chúng tôi sử dụng dữ liệu từ bản kinh Mi Tiên vấn đáp, do Hòa thượng Giới Nghiêm dịch.

Tỳ kheo (tu sĩ nam), Tỳ kheo ni (tu sĩ nữ), ưu bà tắc (cư sĩ nam), ưu bà di (cư sĩ nữ) là tứ chúng trong Phật giáo. Mối quan hệ giữa người xuất gia và người tại gia là mối quan hệ có từ thời Đức Phật và kéo dài xuyên suốt trong lịch sử Phật giáo cho đến nay. Trên thực tế, trong mối quan hệ ấy dĩ nhiên sẽ có những lúc không thể tránh khỏi những vấn đề phức tạp nảy sinh. Do đó, mối quan hệ này không chỉ được Đức Phật làm rõ trong kinh điển, mà tiếp tục được các thế hệ sau đề cập. Trong kinh Mi Lan Đà vấn đạo, có ít nhất hai lần vấn đề cư sĩ đắc thánh quả được đề cập trực tiếp, đó là câu hỏi “Bậc Thánh cư sĩ tại sao phải đảnh lễ, cúng dường phàm Tăng” và câu hỏi “Về cư sĩ A la hán”.

THÁNH CƯ SĨ CUNG KÍNH TĂNG

Ở câu hỏi này, vua Mi Lan Đà thắc mắc về một lời dạy của Đức Phật. Đức Phật dạy người đắc pháp xuất thế gian xứng đáng cho chư thiên và nhân loại cúng dường, nhưng lại dạy cư sĩ đắc quả Tu đà hoàn phải đảnh lễ và cúng dường Tỳ kheo bất kể thánh hay phàm. Ngài Na Tiên giải đáp, dù phàm tăng vẫn có hai mươi pháp hành cao thượng của bậc sa môn, cộng với hai pháp cao thượng thuộc về tăng tướng. Tỳ kheo thực hành hai mươi hai pháp ấy có thể tiến lên các thánh quả. Trong khi đó, người cư sĩ dù đắc quả vẫn không có được các pháp cao thượng ấy.

Ở Việt Nam, kinh Mi Lan Đà vấn đạo được phổ biến với hai phiên bản là kinh Na Tiên Tỳ kheo trong Bắc tạng và kinh Mi Tiên vấn đáp trong Nam tạng. (Ảnh: sưu tầm)

Song, nhà vua tiếp tục băn khoăn nếu vị Tỳ kheo thực hành các pháp ấy nhưng chưa thành tựu đầy đủ, thậm chí thực hành hư hỏng, làm sao cư sĩ bậc Thánh lại cung kính được. Ngài Na Tiên trả lời, dẫu vị Tỳ kheo như thế vẫn xứng đáng được cung kính, bởi họ đã thọ trì giới bổn thanh tịnh, có khả năng làm những việc mà cư sĩ bậc thánh không làm được, đặc biệt là chính họ đang kế thừa hạt giống Bồ đề.

Dẫu sự thực hành khiếm khuyết thì “họ vẫn đang trong tăng tướng và phẩm mạo cao thượng; họ đang đi trên con đường phạm hạnh, họ ăn một bữa, họ thiểu dục, tri túc; họ thường sống nơi tịch mịch, xa chỗ huyên náo ồn ào, xa chỗ ngũ dục thấp hèn”. Trong khi đó, cư sĩ dù đắc quả nhưng “vẫn có gia đình với vợ và con, bạc tiền, của cải, danh vọng, địa vị, nghề nghiệp nuôi sống. Ta không cắt móng tay, không cạo râu tóc, vẫn trang điểm, vẫn thoa vật thơm, y phục lành tốt, thọ hưởng ngũ dục, ăn ngon, mặc ấm, giường cao, nhà rộng…” [1].

Chúng ta biết, cư sĩ có khả năng đắc quả là điều được xác nhận bởi chính Đức Thế Tôn và trong thời của Ngài đã có rất nhiều cư sĩ đắc quả. Phật cho biết, cư sĩ có thể đạt được quả vị Tu đà hoàn, tạo tiền đề để đi đến quả vị chánh giác trong đời vị lai. Song, để đắc quả Tu đà hoàn, người cư sĩ cần giữ gìn và thực hành năm pháp một cách hoàn hảo, đồng thời có được bốn tăng thượng tâm. Năm pháp ấy là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu. Bốn tăng thượng tâm ấy là niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới.

Trong bài kinh Ưu bà tắc, thuộc bộ kinh Trung A Hàm, Đức Phật giảng dạy rõ về điều kiện và kết quả mà người cư sĩ có thể thực tập và đạt được: “Này Xá Lợi Phất, nếu thầy biết rằng bạch y thánh đệ tử gìn giữ, thực hành năm pháp một cách hoàn hảo và được bốn tăng thượng tâm, thì đối với hiện pháp lạc trú dễ được, chứ không phải khó được. Này Xá Lợi Phất, thầy nên xác nhận rằng thánh đệ tử này không còn đọa địa ngục, cũng không còn sanh vào loài súc sanh, ngạ quỷ và các chỗ ác, được quả Tu đà hoàn, không đọa ác pháp, nhất định thẳng tiến tới quả vị chánh giác, tối đa chịu bảy lần sanh tử nữa, sau bảy lần qua lại cõi trời, nhân gian, liền được chấm dứt khổ đau” [2].

Tỳ kheo (tu sĩ nam), Tỳ kheo ni (tu sĩ nữ), ưu bà tắc (cư sĩ nam), ưu bà di (cư sĩ nữ) là tứ chúng trong Phật giáo. Mối quan hệ giữa người xuất gia và người tại gia là mối quan hệ có từ thời Đức Phật và kéo dài xuyên suốt trong lịch sử Phật giáo cho đến nay. (Ảnh: pixy.org)

CƯ SĨ ĐẮC QUẢ A LA HÁN

Cư sĩ không chỉ có khả năng đắc quả Tu đà hoàn, mà còn có thể đắc quả Tư đà hàm, A na hàm, thậm chí là A la hán. Trong thời Đức Phật, cũng đã có những vị cư sĩ đắc quả A la hán. Tuy nhiên, khi một cư sĩ đắc quả A la hán vào ngày nào thì phải xuất gia ngay ngày ấy. Trong trường hợp không xuất gia được vì lý do nào đó (chẳng hạn không tìm được thầy tế độ) thì vị ấy bắt buộc phải nhập Niết bàn. Đây cũng chính là thắc mắc của vua Mi Lan Đà.

Để giải đáp nghi vấn này, Ngài Na Tiên trả lời: “Phẩm mạo cư sĩ thấp thỏi quá, thật không xứng đáng với quả vị A la hán mà người ấy đã đắc, do vậy phải thay đổi phẩm mạo xuất gia. […] Chính phẩm mạo xuất gia như kẻ có đức, có trí, có tài, nhiều phước báu, mới xứng đáng với quả vị A la hán. Phẩm mạo xuất gia có thể được ví như một bảo cái lớn rộng, có khả năng che chở cho quả vị A la hán, tâu đại vương!” [3]. Ngài ví dụ thêm, quả A la hán như món ăn thượng vị, mà phẩm mạo cư sĩ như một thể xác suy yếu, không đủ khả năng tiêu hóa thức ăn ấy.

Quả thật, mặc dù cư sĩ có khả năng thành tựu quả vị A la hán, nhưng đạt được điều đó khó hơn rất nhiều so với người xuất gia. Đến khi đắc quả, người cư sĩ ấy phải xuất gia ngay hoặc nhập Niết bàn. Nói cách khác, không thể có quả vị A la hán tồn tại lâu dài trong phẩm mạo của người tại gia. Trong lịch sử Phật giáo cũng có hai trường hợp tiêu biểu để chứng minh cho vấn đề này, đó là Ngài Da Xá và vua Tịnh Phạn. Chàng thanh niên Da Xá là con của một triệu phú ở thành Ba La Nại, tìm đến Đức Phật nghe pháp và đắc quả Tu đà hoàn. Ông triệu phú đi tìm con và tiếp tục được Đức Thế Tôn giáo hóa. Sau khi nghe những lời Phật dạy cho cha mình, Da Xá đắc quả A la hán và xin xuất gia. Ngài trở thành vị Tỳ kheo thứ sáu trong Tăng đoàn, sau năm anh em Kiều Trần Như [4].

Khi vua Tịnh Phạn lâm trọng bệnh, Đức Thế Tôn và các ngài Nan Đà, A Nan, La Hầu La cùng với chúng Tỳ kheo trở về thành Ca Tỳ La Vệ thăm viếng. Nhận thấy duyên lành để tiếp độ phụ vương, Đức Phật đã thuyết pháp cho nhà vua nghe trong bảy hôm. Đến ngày cuối cùng, vua Tịnh Phạn đắc quả A la hán và nhập Niết bàn ngay trong ngày hôm đó [5].

Như vậy, có thể thấy rõ ngài Da Xá và vua Tịnh Phạn đều đắc quả A la hán khi chưa xuất gia. Sau khi đắc quả, ngài Da Xá đã xuất gia trong ngày hôm ấy, còn vua Tịnh Phạn thì nhập Niết bàn trong ngày hôm ấy, đúng như hai trường hợp mà kinh điển đã cho biết.

MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH VÀ LIÊN HỆ

Hai câu hỏi nêu trên phần nào cho thấy, ngay từ buổi bình minh của Phật giáo, mối quan hệ giữa Tỳ kheo và cư sĩ trong tu tập đã là vấn đề được quan tâm. Câu hỏi của vua Mi Lan Đà chắc hẳn cũng là thắc mắc chung của nhiều người trong thời kỳ đó và đến cả ngày nay. Tuy nhiên, quan điểm của Phật giáo đã rất nhất quán trong mối quan hệ này. Phật giáo thừa nhận khả năng thành tựu các quả vị của cư sĩ, song sự đắc quả của cư sĩ khó khăn hơn rất nhiều so với Tỳ kheo.

“Không kể phàm, không kể thánh – chỉ ngay cái phẩm vị Tỳ kheo – đã là phẩm vị cao thượng, xứng đáng cho trời và người lễ bái, tôn trọng, cúng dường” (Ảnh: javafurniture.co.nz)

Khi cư sĩ đã đắc ba quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm thì vẫn phải cung kính, lễ bái, cúng dường Tỳ kheo dù chưa đắc quả. Bởi Tỳ kheo là người thọ giới thanh tịnh, sống đời phạm hạnh, lãnh trách nhiệm truyền bá chánh pháp. Khi cư sĩ đã đắc quả A la hán thì phải xuất gia hoặc nhập Niết bàn ngay, không thể có người đắc quả A la hán mà vẫn mang hình tướng cư sĩ lâu dài. Mặc dù cư sĩ có khả năng đắc quả A la hán, nhưng đây là trường hợp đặc biệt, rất khó xảy ra. Phẩm mạo cư sĩ chỉ tương xứng với ba quả Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm. Trên thực tế thời Đức Phật, không có nhiều vị cư sĩ đắc quả A la hán mà đa phần các vị cư sĩ đắc quả Tu đà hoàn.

Ngày nay, xuất hiện một số trường hợp cư sĩ có thái độ thiếu tôn trọng Tăng Ni thậm chí có người cực đoan cho rằng Tăng Bảo trong Tam bảo chỉ là các bậc thánh tăng đệ tử Phật chứ không phải phàm tăng ngày nay!. Không thể phủ nhận rằng, sự thiếu tôn trọng ấy có một phần lý do xuất phát từ những trường hợp cá biệt. Tăng Ni sống không đúng giới luật, dẫn đến mất hình tượng đối với cư sĩ. Song, Tăng đoàn là tập thể lớn và cao quý, chư Tăng Ni là người đang tu tập, không thể mang một vài trường hợp cá biệt để đánh đồng toàn thể Tăng đoàn. Họ không phải là người đã chứng đắc nên không thể tránh khỏi những khiếm khuyết. Đem sai trái của vài người để đánh đồng lên cả Tăng đoàn là điều không hợp lý.

Khi đọc lại kinh Mi Lan Đà vấn đạo, chúng ta nhận thấy những lời dạy trong tác phẩm này càng trở nên có giá trị. Những vấn đề mà chúng ta gặp phải ngày nay đã được vua Mi Lan Đà và ngài Na Tiên đề cập từ cách nay hơn hai ngàn năm. Như đã trình bày ở phần đầu bài viết này, mối quan hệ giữa người xuất gia và người tại gia trong Phật giáo dĩ nhiên sẽ có những lúc không thể tránh khỏi cảm xúc hỷ nộ ái ố. Khi ấy, những người cư sĩ nên đọc lại lời của ngài Na Tiên để cảm thông cho những bậc xuất trần đang bước trên con đường phạm hạnh – con đường mà chính chúng ta đã không dám bước đi. Cuối cùng, thay lời kết cho bài viết này, chúng tôi xin trích dẫn lại lời dạy của ngài Na Tiên với vua Mi Lan Đà: “Không kể phàm, không kể thánh – chỉ ngay cái phẩm vị Tỳ kheo – đã là phẩm vị cao thượng, xứng đáng cho trời và người lễ bái, tôn trọng, cúng dường” [6].

 

Chú thích:

[1] Giới Nghiêm dịch (2014), Kinh Mi Tiên vấn đáp (2014), tái bản, Nxb Tôn giáo, tr.441.
[2] Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1992), Kinh Trung A Hàm, Tập III, Nxb Tôn giáo, tr.86.
[3] Giới Nghiêm dịch (2014), Sđd, tr.603.
[4] Nārada Mahā Thera (2019), Đức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Khánh dịch, tái bản, Nxb Tổng hợp TP.HCM, tr.66-68.
[5] Maha Thong Kham Medhi Vongs (1999), Lịch sử Đức Phật Tổ Cồ Đàm, Nxb Tổng hợp TP.HCM, tr.260.
[6] Giới Nghiêm dịch (2014), Sđd, tr.443.

Trả lời