Tìm hiểu Nhã nhạc thập tam âm (Lê Hải Đăng)

DUYÊN KHỞI VỚI THẬP TAM ÂM 

Đầu năm 2018, chúng tôi được Khoa Âm nhạc học Truyền thống, Trường Đại học Nghệ thuật Quốc lập Đài Bắc mời sang nói chuyện chuyên đề về di sản âm nhạc truyền thống, trong đó chủ yếu tập trung vào một số loại hình đã được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, đồng thời mở lớp (Master class) dạy về Đờn ca Tài tử. Biết chúng tôi đến từ Việt Nam, nhà nghiên cứu Lý Tịnh Huệ, Nguyên Trưởng khoa Âm nhạc học Truyền thống, kiêm Chủ tịch Hội nhạc sĩ Đài Loan cùng nhạc sĩ Y Văn vốn là một học trò cũ sống và làm việc ở thành phố Cao Hùng đã sắp xếp một cuộc hội ngộ, giao lưu giữa nghệ sĩ Việt Nam và nhóm nhạc Thập tam âm Dĩ Thành tại Văn miếu, thành phố Đài Nam.

Trước tiên, chúng tôi phải di chuyển bằng tàu cao tốc từ thủ đô Đài Bắc xuống thành phố Đài Nam qua chặng đường dài hơn 300km, sau đó chuyển sang tàu hỏa vốn là phương tiện dành cho khách tham quan mấy trạm ga cũ của thành phố Đài Nam. Thành phố này nằm ở cực nam đảo Đài Loan, từng là thủ phủ dưới thời cai trị của đế quốc Hà Lan, Trịnh Thành Công và nhà Thanh suốt hai thế kỷ (XVII-XIX). Đài Nam không giống như Đài Bắc, Cao Hùng với nhiều tòa nhà chọc trời mà ẩn mình, khiêm tốn như một thị trấn êm đềm. Người học trò cũ, nhạc sĩ Y Văn không ngừng giới thiệu về di sản của thành phố. Nó được ví như cố đô Kyoto của đất nước Nhật Bản.

Văn miếu Đài Nam tọa lạc ở số 2, đường Nam Môn, khu Trung Tây, thành phố Đài Nam. Tôi từng tới Khổng miếu ở thành phố Khúc Phụ, quê hương Khổng Tử thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc, cũng như Khổng phủ (nơi phu tử dạy các học trò), Khổng lăng (khu lăng mộ an táng Khổng Tử cùng những thành viên thuộc dòng trực hệ nhà họ Khổng), nên thấy quang cảnh cổ kính của quần thể di tích Văn miếu Đài Loan khá quen thuộc. Đón tiếp chúng tôi có thầy Đỗ Khiết Minh, trưởng nhóm Thư viện Dĩ Thành, Cục nhạc Văn miếu. Ấn tượng đầu tiên về con người này trông giống như một đạo sĩ với dáng vẻ nho phong đạo cốt hơn là một nghệ sĩ. Cảm giác đó mách bảo tôi nên thận trọng. Vì, đạo sĩ không hề dễ tiếp cận. Họ thường có thái độ điềm tĩnh, thoát tục, không nhiệt tình, hồ hởi… Song, thầy Đỗ Khiết Minh vô cùng cởi mở, hiếu khách. Thầy dẫn chúng tôi đến tham quan phòng hòa nhạc. Nghe tiếng nhạc văng vẳng, du dương giữa không gian u tịch, cổ kính, trầm mặc không khỏi thấy xao xuyến, bồi hồi. Thấy chúng tôi, các thành viên khác đưa mắt chào trong khi vẫn thực hành âm nhạc. Biết ý, chúng tôi chỉ quan sát, lắng nghe, giữ trật tự để không ảnh hưởng tới buổi tập, đồng thời vẫn thưởng thức được vẻ đẹp thanh nhã, điềm tĩnh của nhạc Thập tam âm. Tôi từng nghe nhà nghiên cứu Lý Tịnh Huệ giới thiệu sơ qua về Thập tam âm trong lần giao lưu với Khoa Nhã nhạc, Học viện Âm nhạc Huế cách đây 10 năm. Bấy giờ, chi tiết đáng ngờ khiến tôi tò mò, thắc mắc là hiện tượng tương đồng giữa hệ nhạc khí Thập tam âm và nhạc cổ truyền Việt Nam, như đàn tranh (thập lục), tam âm la… Tôi từng coi chúng là những sản phẩm chỉ còn bảo lưu ở Việt Nam! Sau lần điền dã tại Văn miếu Đài Loan tôi đã phải thay đổi quan niệm của mình. Vì, chính tại đây, tôi đã gặp lại những người bà con xa cách lâu ngày, nhưng vẫn kịp nhận ra nhau. Bằng chứng là, Thập tam âm còn đang sử dụng loại đàn thập lục (đàn tranh 16 dây), tam âm la (chỉ khác “chiếc áo” khoác bên ngoài được dùng làm đồ trang sức). Ngoài ra, hệ thống bài bản Thập tam âm cũng sử dụng chữ nhạc Hò, xự, xang (hay còn gọi là Công xích phổ). Đó là những điểm tương đồng với âm nhạc truyền thống Việt Nam, như âm nhạc cung đình triều Nguyễn, Đờn ca Tài tử Nam Bộ… Bởi vậy, Thập tam âm đã thôi thúc tôi tìm hiểu nguồn gốc, lịch sử, hệ nhạc khí, bài bản… của nó.

KHÁI QUÁT VỀ THẬP TAM ÂM 

Nhã nhạc Thập tam âm hay “Thập tam xoang” xuất hiện trong lễ Thích điện, nghi lễ tế tự Khổng Tử diễn ra vào hai ngày xuân phân và thu phân hàng năm tại Văn miếu, thành phố Đài Nam, Đài Loan. Trước và sau khi được đưa vào nghi thức tế tự Khổng Tử, Thập tam âm vốn là một loại hình âm nhạc dân gian phổ biến tại đảo Đài Loan. Nhìn vào hệ nhạc khí của nó cho thấy nhiều chủng loại tương đồng với Nhã nhạc cung đình triều Nguyễn, Việt Nam như cây đàn tranh sử dụng loại 16 dây, người Việt Nam từng gọi là đàn thập lục, người Đài Loan gọi là Tần tranh hay đàn tam, nhạc cụ gõ tam âm la (chiêng 3 âm)…

Theo nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc Hứa Thường Huệ, ban đầu “Thập tam âm” gọi là “Thập tam xoang”, cũng không đính kèm “nhãn hiệu” Nhã nhạc. Nó chỉ là một chủng loại hòa tấu âm nhạc dân gian phổ biến. Theo tư liệu lịch sử viết về nhạc vũ Khổng Tử ở Đài Loan sớm nhất xuất hiện trong mục “Văn miếu – Điển tự chí, quyển 6, Đài Loan phủ chí” thời Khang Hy thứ 35 (1696). Bấy giờ người ta chỉ ghi chép lễ nhạc Khổng miếu, tuyệt nhiên không đề cập tới loại hình Nhã nhạc Thập tam âm. Tới thời nhà Thanh có Lưu Lương Bích bắt đầu ghi chép tỉ mỉ về lễ tế Khổng Tử trong “Đài Loan phương chí”. Đời Càn Long năm thứ 7 (1743), Tiền Chu chỉnh sửa “Phước Kiến Đài Loan phủ chí”, trong đó quyển thứ 9, “Chú thích tế điển lễ nghi thức tiên sư chí thánh” có đề cập tới nhạc khí, nhạc vũ Đại thành, bài bản ca và múa… nhưng vẫn chưa thấy xuất hiện khái niệm “Nhã nhạc Thập tam âm”.

Nhã nhạc Thập tam âm xuất hiện trong văn tự sớm nhất vào thời Nhật trị thứ 10 (1921) trong cuốn: “Đài Loan phong tục chí”. Trong đó, chương 1, tập 4 mang tên Âm nhạc Đài Loan với mục 2: “Nhạc Thập tam xoang”. Theo đó, “Nhạc Thập tam xoang là loại hình âm nhạc nằm ngoài hệ thống Nam, Bắc quản, một hình thức hòa tấu khí nhạc với vài người sử dụng hai mươi mấy loại nhạc khí. Chủng loại âm nhạc này dành cho giới trí thức, thân sĩ, tầng lớp thương gia, trí thức. Họ lấy tên Hội hoặc Nhóm để định danh, rồi tổ hợp thành một đoàn thể thường cùng nhau hòa tấu âm nhạc nhằm mục đích tiêu khiển. Những nhóm nhạc này phổ biến khắp các địa phương trên đảo như: Cơ Long, Đài Bắc, Sĩ Lâm, Bản Kiều, Tân Trúc, Chương Hóa, Đài Nam. Ngày nay Đài Nam có hai nhóm Sĩ Lâm và Dĩ Thành” [1].

Theo ông Vĩnh Chấn, từng đảm nhận chức Lý sự những năm 1980 ở Thư viện Dĩ Thành (nhóm nhạc Thập tam âm nổi tiếng nhất Đài Nam hiện nay): “Âm nhạc thập tam xoang bắt đầu từ Khổng miếu, Đài Nam rồi lan truyền sang các địa phương khác, như: Chương Hóa, Cao Hùng… Thập tam âm ban đầu do những người Đài Loan đi thi hay làm ăn ở Đại Lục đem về 13 loại nhạc khí kết hợp lại thành một chủng loại âm nhạc mới, tức Thập tam xoang. Ở Đại Lục không có tên gọi “Thập tam xoang này”.

Theo tổng kết của nhà nghiên cứu Hứa Thường Huệ:
Thập tam xoang hay Thập tam âm Đài Loan có thể bắt nguồn từ “Thập toàn xoang”, “Thập phiên xoang”, đặc biệt là “Thập phiên” hoặc “Thập ca” của Phước Kiến, nhưng ở Phước Kiến gọi là “Thập”, còn Đài Loan gọi là “Thập tam”.

– “Thập tam xoang” cũng gọi là “nhã nhạc” hoặc “thánh nhạc” xuất phát bởi nó được dùng làm thứ âm nhạc tiêu khiển sau khi nhã nhạc tế Khổng Tử kết thúc, tấu trước và sau “Chương nhạc Đại thành”. Vì, ban đầu nhạc sinh ở miếu Khổng Tử, Đài Nam tới Phúc Châu học tập Chương nhạc Đại thành tiện thể học luôn hòa tấu “Thập toàn” hay “Thập phiên”, rồi đem về Đài Loan gọi “Thập tam xoang” là nhã nhạc hoặc thánh nhạc nhằm chỉ tính chất nghiêm túc, thanh nhã về mặt phong cách chứ không phải Nhã nhạc trong nghi thức tế tự cung đình ngày trước.

– Mặc dù “Thập tam âm” sử dụng 13 loại nhạc khí, nên mới có tên gọi như vậy, song trên thực tế cũng có chỗ không trùng khớp, huống hồ khi diễn tấu thực tế số lượng nhạc khí còn có thể lên tới hơn 20 loại. Thực trạng trên giống như “Bát âm” của người Hẹ (Khách Gia), “Thập âm” của người Nam Mân (Phước Kiến), Đài Loan. Số lượng ấy chỉ có ý nghĩa nhiều, chứ không mang tính chất cố định.
– “Thập tam xoang” hay “Thập tam âm” du nhập Đài Loan khoảng năm Đạo Quang thứ 15 (1835) sau khi Cục Lễ nhạc miếu Khổng Tử (tiền thân của Thư viện Dĩ Thành) thành lập. Từ đó trở đi, “Thập tam xoang” nhanh chóng lan ra môi trường dân gian ở các địa phương khác, từ Cao Hùng tới Đài Bắc đều có những nhóm nhạc diễn tấu loại hình âm nhạc này. Tên gọi chủng loại âm nhạc cũng diễn ra sự thay đổi, như: “Thập tam không” (十三箜), “Thập tam xoang”, “Thập toàn xoang”, “Thập toàn không”, “Nhã nhạc Thập tam âm”, “Tục nhạc Thập tam xoang”… rồi trải qua một thời gian, khu vực miền Trung, miền Bắc lại xuất hiện “Côn xoang”, (崑腔) hoặc (錕腔) (cũng đọc là Côn xoang), “Côn xoang trận” (崑腔陣), “Côn đội” (崑隊), “Khanh thương trận” (鏗鏘陣). Có thể thấy, âm nhạc dân gian trong quá trình lưu truyền, ngoài sự thay đổi bản thân âm nhạc ra còn phổ biến hiện tượng dùng chữ “hài âm” nhằm thay thế (danh từ gốc) [2].

– “Thập tam xoang” thời kỳ đầu, tức khi mới truyền từ Phước Kiến sang Đài Loan vẫn bảo lưu phong cách ưu nhã, thanh cao mực thước, nên mới gọi là nhã nhạc hay thánh nhạc, nhưng sau khi từ Đài Nam truyền vào môi trường dân gian vùng miền Trung, miền Bắc Đài Loan, hấp thu Khúc bài trong Nam quản, Bắc quản tổ hợp thành Tản khúc và Liên khúc (套曲), phong cách càng mang đậm sắc thái âm nhạc dân gian, trở thành một chủng loại âm nhạc thường xuyên xuất hiện trong môi trường lễ hội, cũng như quan hôn tang tế.

– “Thập tam xoang” là một chủng loại âm nhạc dân gian đại diện cho Đài Loan nằm ngoài hệ thống Nam – Bắc quản, nhưng trước đây những học giả nghiên cứu về nó rất ít. Mọi người chỉ để ý đến cổ nhạc Nam quản, Bắc quản hoặc Ca tử hí vốn nhận được sự yêu thích của người dân mà không ngó ngàng tới địa vị của “Thập tam xoang”. Hệ thống “Thập tam xoang” có thể phức tạp hơn những chủng loại âm nhạc kia, xét về nội dung. Nó có thể du nhập Đài Loan từ các vùng miền ở Trung Quốc với thời điểm khác nhau, rồi tái cấu trúc tại Đài Loan.
Trên đây là những nhận xét của nhà nghiên cứu Hứa Thường Huệ – một học giả nghiêm cẩn, uyên thâm trong giới nghiên cứu âm nhạc dân tộc ở Đài Loan.

HỆ NHẠC KHÍ VÀ BÀI BẢN TRONG THẬP TAM ÂM 

Chủng loại nhạc khí

Như trên đã đề cập, Thập tam âm là một chủng loại hòa tấu khí nhạc (thiên về bộ phận ty trúc), nên sử dụng hỗn hợp nhiều nhạc khí. Thập tam (13) lại chỉ có nghĩa là “nhiều”, chứ không phải con số cố định, bởi thế, nhạc khí xuất hiện trong Thập tam âm khá phong phú, gồm:

1. Nhạc khí dây với hai chi: dây kéo và dây gảy.
Chi dây kéo có đàn đề cầm, chung huyền, hòa huyền, cổ huyền, tứ huyền, đề hồ, miêu huyền. Chi dây gảy có đàn tam, đàn song thanh, đàn tần tranh.

2. Nhạc khí hơi có địch, sênh, quản, tiêu.

3. Nhạc khí gõ có ngạc đạc, khiếu la, tam âm, đàn bản, bính cổ, song âm.

Bài bản

Thập tam âm tuy xuất hiện trong lễ Thích điện, tế tự Khổng Tử tại Văn miếu, Đài Loan, song xét về thời gian, loại hình âm nhạc này diễn ra trước và sau nghi lễ chính kết thúc. Nói cách khác, suy xét sự kiện văn hóa tế tự Khổng Tử như một dạng lễ hội cộng đồng thì ở đó nghi lễ tế tự là phần lễ, còn hòa tấu nhạc Thập tam âm chỉ mang tính chất hội! Mặc dù người ta vẫn có đầy đủ lý do để xếp Thập tam âm vào phạm trù nhạc lễ với tính chất trình thức, đề cao nghi tiết trong quá trình diễn tấu. Ngoài ra, Thập tam âm cũng dùng cho lễ Ngũ đại tiên vương…

Về bài bản, theo ba tập nhạc phổ lưu giữ tại Thư viện Dĩ Thành, Cục nhạc Văn miếu Đài Nam, cuốn thứ nhất lấy tên “Đồng thanh tập” xuất bản năm Chiêu hòa thứ 8 thời Nhật trị (1933). Cuốn này sử dụng chữ nhạc truyền thống (hò xự xang… hay Công xích phổ). Cuốn thứ hai và ba đều sử dụng giản phổ (hiểu là nhạc số) dưới dạng chép tay. Cuốn “Đồng thanh tập” lại chia thành ba bộ phận, bộ phận thứ nhất lấy tiêu đề “Đồng thanh tập” gồm 126 bài. Bộ phận thứ hai lấy tên “Tự Tiên Đạt từ phổ” có 4 bài. Bộ phận thứ ba “Tạp phổ” có 86 bài.

Thập tam âm tồn tại trong môi trường văn hóa dân gian, tác phẩm cổ nhạc đa phần thuộc loại khuyết danh, nên không thể tránh khỏi hiện tượng xâm nhập, ảnh hưởng qua lại giữa các loại hình âm nhạc khác, như trong phần “Tạp phổ” xuất hiện cả nhạc Nam quản, Bắc quản vốn là hai đại diện tiêu biểu trên đảo Đài Loan.

VĨ THANH

Cách đây 10 năm, khi nghệ sĩ đàn tỳ bà nổi tiếng thế giới Vương Thế Vinh, người Đài Loan dẫn các học trò sang Việt Nam học tập cổ nhạc, ông từng ví công việc này như cuộc hành hương thỉnh kinh. Bấy giờ tôi đùa rằng, trong đó có cả mong muốn tìm thân nhân nữa phải không thầy? Nghệ sĩ Vương Thế Vinh chỉ cười đầy ngụ ý. Sau khi sang Đài Loan dạy học, tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề, biểu diễn giao lưu… tôi dần hiểu thêm nhiều di sản âm nhạc tại hòn đảo này, từ Nam quản, Bắc quản, Ca tử hý, Rối tay cho đến Thập tam âm… Đài Loan không chỉ tập trung nhiều người Việt đang sinh sống, làm việc, học tập mà còn có nhiều mối liên hệ văn hóa tới nước ta. Tham gia các chương trình giao lưu nghệ thuật, ban đầu tôi không hiểu tại sao nhiều nghệ sĩ Đài Loan thích chọn Việt Nam, như: học giả Ngô Vinh Thuận, Nguyên Hiệu trưởng Trường Nghệ thuật Quốc lập Đài Bắc, Chủ nhiệm Trung tâm Hý khúc truyền thống Đài Loan, nghệ sĩ múa Trương Hiểu Hùng, Viện trưởng Viện múa thuộc Trường Nghệ thuật Quốc lập Đài Bắc, nhạc sĩ âm nhạc Đương đại Thái Lăng Huệ, Trưởng khoa Âm nhạc học Truyền thống… Họ luôn ủng hộ nhiệt tình cho các chương trình giao lưu văn hóa, nghệ thuật với Việt Nam, trong đó có những công việc quan trọng, như thiết kế ý tưởng, huy động nguồn lực, trực tiếp tham gia chỉ đạo nội dung chương trình… Được biết học giả Ngô Vinh Thuận vốn là đồng môn của nhà Âm nhạc học dân tộc Việt Nam nổi tiếng thế giới Trần Quang Hải (con trai trưởng nhà nghiên cứu Trần Văn Khê). Nghệ sĩ Trương Hiểu Hùng thuở nhỏ gắn bó thân thiết với khu người Hoa, Chợ Lớn, thành phố Hồ Chí Minh. Ông từng theo ngành sử học, sau chuyển sang làm nghệ thuật (biên đạo múa), nhưng vẫn đau đáu, ấp ủ ý tưởng viết cuốn sử về di dân người Hoa ra đi từ miền Nam, Việt Nam. Giáo sư Thái Lăng Huệ, nhà soạn nhạc Đương đại Đài Loan có bà ngoại sinh sống tại miền Nam, Việt Nam trước năm 1975…

Xưa nay, giới nghiên cứu trong nước thường quan tâm nghiên cứu nhóm di dân từ nơi khác đến Việt Nam mà ít chú ý đến những di dân ra đi từ Việt Nam. Trong số họ có rất nhiều người đang âm thầm cống hiến cho đất nước mình, đồng thời trở thành nhịp cầu nối chúng ta với thế giới.

 

Chú thích:

[1] 許常惠: “台灣的民間音樂十三腔”雅樂十三音 台南孔廟樂局以成書院出版 第9頁.
[2] Nhằm chỉ hiện tượng từ đồng âm, nhưng khác chữ.

Lê Hải Đăng

Trả lời