Nghệ thuật Ứng phú đạo tràng ở Nam Bộ (ĐĐ. Thích Huệ Nghiêm)

Tại vùng đất Nam bộ, nghệ thuật Ứng phú đạo tràng không chỉ có vai trò quan trọng trong đời sống quần chúng nhân dân, mà còn tác động rất lớn đến văn hóa – xã hội bản địa, cũng như công tác hoằng pháp tại vùng đất này.

Nghi lễ là một bộ phận quan trọng của Phật giáo, không chỉ là phương tiện hoằng pháp hữu dụng, mà còn đóng góp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ đạo pháp, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Phật giáo, bản sắc dân tộc. Do tính đặc thù, đa dạng của bản sắc văn hóa Việt Nam, nghi lễ Phật giáo cũng hình thành nên những đặc thù riêng biệt gắn liền với văn hóa, phong tục, tập quán của con người mỗi vùng miền.

Đặc biệt, khi nhắc đến Phật giáo ở Nam bộ đồng nghĩa với việc nhắc đến một nét nghệ thuật nghi lễ âm nhạc độc đáo đó là khoa “Ứng phú đạo tràng” đã đồng hành, gắn bó sắt son với đời sống tín ngưỡng tâm linh dân gian. Trong quá trình kế thừa và phát triển, có thể khẳng định rằng nghệ thuật Ứng phú đạo tràng đã và đang là phương tiện độ sanh tích cực trong việc truyền bá giáo lý Phật Đà, cũng như giữ vai trò quan trọng trong đời sống thường nhật của người dân tại vùng đất Nam bộ, góp phần tạo nên nét phong phú, tô điểm cho bức tranh văn hóa, nghi lễ Phật giáo Việt Nam thêm phong phú và sinh động.

TÌM HIỂU KHÁI NIỆM NGHỆ THUẬT ỨNG PHÚ ĐẠO TRÀNG 

Theo nghiên cứu và nhận định của Hòa thượng Thích Đồng Bổn [1], danh từ “Ứng phú đạo tràng” có khởi nguồn từ Trung Hoa, thời Minh (1368-1644).

HT.Thích Thiện Đắc – bậc Thầy nghệ thuật Ứng phú đạo tràng Nam bộ. (Ảnh: sưu tầm)

Năm 1368, sau khi nhà Nguyên sụp đổ, Chu Nguyên Chương thành lập nên nhà Minh. Trong quá trình xây dựng đất nước, ông nhận thấy các nhà sư Phật giáo trong xã hội lúc bấy giờ chủ yếu thuộc ba tông phái lớn: Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông. Đối với Mật tông, do các nhà sư Đạt-lai Lạt-ma từng gắn bó với nhà Nguyên nên không còn phù hợp với nền thống trị hiện hữu; các sư Thiền tông do ngài Đức Sơn đảm trách có quan điểm thích ngao du sơn thuỷ, cũng như các nhà sư Tịnh độ tông luôn cầu về cảnh giới Cực Lạc không chịu sự quản lý và chi phối bởi triều đình. Do đó, chỉ có những nhà sư gắn bó và đáp ứng được những nhu cầu tín ngưỡng trong quần chúng dân gian, đồng thời, chịu sự quản lý của triều đình mới đáng tin cậy và khế hợp. Vì thế, Chu Thái Tổ thành lập nên một tổ chức Phật giáo gọi là “Giáo tông” chuyên về việc cúng bái, thực hành các sinh hoạt về nghi lễ, Ứng phú đạo tràng nhằm giải quyết các nhu cầu tín ngưỡng tâm linh, chống mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu đang hiện hữu. Đồng thời, tổ chức Phật giáo này có sự liên kết mật thiết và chịu sự quản lý về hành chính của triều đình nhà Minh [2]. Sau này, dân gian thường dùng từ “Ứng phú đạo tràng” hơn là “Giáo tông” để chỉ cho các nhà sư của tông phái Phật giáo này.

Đến khi nhà Thanh thay thế nhà Minh ở Trung Quốc, do xáo trộn chính trị khiến các vị Tăng sĩ theo giáo phái này cùng đoàn người Minh Hương phải lưu vong đến vùng đất Nam bộ nước ta. Tại đây, nghệ thuật Ứng phú đạo tràng cũng như nghi lễ Phật giáo từng bước được hoằng truyền và phát triển.

Đề cập đến khái niệm “Ứng phú đạo tràng” ở nước ta, trong “Thiền sư Việt Nam”, mục “Tăng Cang Tiên Giác – Hải Tịnh”, Hòa thượng Thích Thanh Từ có giải thích từ “Ứng phú” như sau: “Ứng phú là dùng âm nhạc cổ truyền của đạo Phật và dân tộc vào các buổi lễ tại chùa hay các lễ cầu an, cầu siêu, tang lễ… ở nhà các tín đồ”.

Về Hán ngữ, nguyên “Ứng phú đạo tràng” có nghĩa: “Ứng” (應) là đáp lời mời; “Phó” (赴) [3] là đi đến, quang lâm; “Đạo tràng” (道場) là nơi hành đạo, thuyết pháp, truyền giới, những nơi thực hiện các Phật sự đều gọi chung là đạo tràng”. Như vậy, có thể định nghĩa “Ứng phú đạo tràng” là “lời thỉnh mời chư Tăng đến nhà tín đồ, Phật tử để thực hiện các nghi lễ về Phật giáo”; mà danh từ bình dân thường được gọi là “đi làm đám”.

Ứng phú đạo tràng không chỉ giới hạn trong khuôn khổ của Phật giáo, mà đây còn là một loại hình nghệ thuật. Bởi lẽ, chúng ta biết rằng: “Nghệ thuật là sự sáng tạo, là các lĩnh vực hoạt động để tạo ra các sản phẩm mang lại những giá trị to lớn về tinh thần, tư tưởng và mang tính thẩm mỹ, chứa đựng những giá trị văn hóa, đạo đức và làm rung động cảm xúc, tư tưởng tình cảm của khán giả. Trong mỗi loại hình nghệ thuật lại có những quy định và ý nghĩa khác nhau, nhưng đều có chung quan điểm để con người chiêm nghiệm, thưởng thức qua các giác quan, từ đó ngưỡng mộ bởi trình độ, tài năng, kĩ xảo cao vượt lên trên mức thông thường phổ biến, thậm chí siêu việt”. Do vậy, Ứng phú đạo tràng được xem là một loại hình nghệ thuật khi hoạt động này hội đủ và dung hòa được các yếu tố: Giá trị tinh thần; giá trị thẩm mỹ và bản sắc văn hóa.

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHỆ THUẬT ỨNG PHÚ ĐẠO TRÀNG Ở NAM BỘ 

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư: Từ cuối thế kỷ thứ I, một số Thiền sư Ấn Độ đã theo những thuyền buôn để đến Giao Châu, tiếp đến các vị Cao Tăng từ Trung Quốc cũng sang đất Giao Châu để truyền đạo…, như ngài Khương Tăng Hội (ở Giao Châu), ngài Trúc Pháp Lan, Chi Khiêm, Cưu Ma La Thập (ở Lạc Dương). Các Ngài dạy dân bản xứ, thắp nhang, lễ Phật, cúng bái, dạy đọc các Kệ tụng, theo Kệ Khúc (gọi là Phạm bái [4]). Từ đó, chư Tổ sư cùng dân bản xứ cảm nhận được những điệu khúc và hoá thành tín ngưỡng tâm linh quan trọng của người dân. Đạo Phật từ đây đã bén rễ, ăn sâu vào đời sống sinh hoạt thường nhật của dân gian, cùng với sự phát triển của âm nhạc cổ truyền đã trở thành nghi lễ Phật giáo. Như vậy, đạo Phật Việt Nam từ thời kỳ du nhập đã lấy nghi lễ làm phương tiện để truyền đạo rất hữu hiệu và thiết thực [5].

Khi nhắc đến Phật giáo ở Nam bộ đồng nghĩa với việc nói đến một nét nghệ thuật nghi lễ âm nhạc độc đáo đó là khoa “Ứng phú đạo tràng” đã đồng hành, gắn bó sắt son với đời sống tín ngưỡng tâm linh dân gian. (Ảnh: phatgiao.org.vn)

Tại vùng đất Nam bộ, kể từ khi du nhập, đạo Phật đã có những tiền đề lịch sử – xã hội cho sự phát triển của mình. Những ngôi chùa đầu tiên trên vùng đất mới như: Vạn An, Hộ Quốc, Long Thiền, Đại Giác, Kim Cang, Hội Khánh… ở Đông Nam bộ; Khải Tường, Từ Ân, Giác Lâm ở Gia Định; Tam Bảo ở Hà Tiên… là những ngôi chùa theo các hệ phái Bắc tông và Tông phái Lâm Tế, cùng với sự hoằng hóa truyền đạo của các Thiền sư Trung Hoa đến Nam bộ vào thế kỷ XVII như: “Thiền sư Minh Hoằng – Tử Dung (đời thứ 34 tông Lâm Tế), Bổn Quả – Khoáng Viên (đời thứ 32 tông Lâm Tế), Thiền sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch (đời thứ 33 tông Lâm Tế), Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo (đời thứ 34 của tông Lâm Tế). Các Thiền sư Việt Nam kế thế truyền thừa vào thế kỷ XVIII, XIX thuộc tông Lâm tế như: Thiền sư Thành Đạo – Kỳ Phương, Thiền sư Thành Nhạc – Ẩn Sơn (đời thứ 34 tông Lâm Tế), Thiền sư Thiệt Diệu – Liễu Quán (đời thứ 35 tông Lâm Tế), Thiền sư Phật Ý – Linh Nhạc (đời thứ 35 tông Lâm Tế), Tổ tông – Viên Quang (đời thứ 36 tông Lâm Tế), Thiền sư Tiên Thiện -Từ Lâm, Thiền sư Tiên Giác – Hải Tịnh (đời thứ 37 tông Lâm Tế), Thiền sư Minh Giảng – Thiện Đạo (đời thứ 38 tông Lâm tế), Thiền sư Như Hiển – Chí Thành, Thiền sư Như Trí – Khánh Hòa (đời thứ 39, tông Lâm Tế),…từ những ngôi chùa đầu tiên này cùng với sự hoằng hóa của các Thiền sư tông Lâm Tế, Phật giáo được phát triển mạnh mẽ trong đó có nghi lễ Phật giáo và khoa nghi Ứng phú đạo tràng.

Nghệ thuật Ứng phú trong Phật giáo Nam bộ bắt đầu phát triển cực thịnh từ giữa thế kỷ XIX, gắn liền với thời kỳ hành đạo của Tăng Cang Tiên Giác – Hải Tịnh, Ngài được xem là vị Tổ của nghệ thuật Ứng phú đạo tràng tại vùng đất Nam bộ.

NHỮNG GIÁ TRỊ ĐỘC ĐÁO CỦA NGHỆ THUẬT ỨNG HÚ ĐẠO TRÀNG 

Sở dĩ được gọi là nghệ thuật, bởi vì Ứng phú đạo tràng trong Phật giáo cổ truyền Nam bộ là sự kết hợp hài hòa, tinh tế giữa nhiều yếu tố khác nhau, tạo nên những nét đặc trưng riêng biệt, gắn liền với phong tục tập quán của dân gian, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng và tín đồ Phật tử để duy trì, phát triển ở Nam bộ như những đặc trưng về: Ban Kinh sư, pháp phục, pháp khí, các thể loại điệu thức xướng tụng, các khoa nghi, những đặc trưng trong lễ nhạc Phật giáo Nam bộ,…

Ban Nhạc lễ Ứng phú Nam bộ (ảnh do Émlie Gsell người Pháp chụp khoảng vào năm 1875 -1879)
Vị sám chủ (giữa) và kinh sử Ứng phú Nam bộ (ảnh do Émlie Gsell người Pháp chụp khoảng vào năm 1875 – 1879)

Ban Kinh sư

Ban Kinh sư Ứng phú tại Nam bộ thông thường là những vị được đào tạo rất tinh chuyên, có khả năng vận dụng các pháp khí, cũng như các thể loại tán tụng và đi Đàn theo vị thầy dạy Ứng phú cho mình, trong đó có thể cố định vị trí chức sự hoặc thay đổi nhiệm vụ trong tuỳ trường hợp, tất cả do sự chỉ dạy và sắp xếp của vị Sám chủ Đàn tràng [6]. Theo thường lệ, Ban Kinh sư có 7, 9 hoặc 13 vị [7], gồm: 02 vị Sám chủ (Nội và Ngoại đàn) [8]; 02 vị tả, hữu Dạ đà phụ tá việc tán tụng hai bên trái, phải vị Sám chủ; 02 vị Thủ Vĩ (01 vị Vĩ thuận, 01 vị Vĩ nghịch); 02 hoặc 04 vị Trung khoan chia đều ở giữa hai bên (phụ tá việc hộ Đàn, tụng Kinh…; 01 vị Tư chung, 01 vị Tư cổ).

Pháp phục

Thuở ban đầu, pháp phục Kinh sư rất đơn sơ, khi chưa có thuốc nhuộm hóa học, muốn nhuộm màu cho áo hậu, chư Tăng thường dùng lá bàng, vỏ cây dà, cây cóc, lá và, vỏ sú vẹt hoặc trái dưa nưa…, cho nên áo hậu của chư Tăng thuở đó hay có màu trắng, vàng ngà và màu xanh. Khi có vải nhập cảng, thì dùng vải ú, lụa satin, phi, vì tính tiện dụng, phù hợp với khí hậu Nam bộ. Sau này, vải gấm được sử dụng rộng rãi, có xuất phát từ đời nhà Tống (Trung Quốc), khi du nhập vào Việt Nam được thịnh hành ở miền Bắc. Đến cuối thế kỷ XVII, hát bội đã phát triển đến một mức đáng kể ở Nam bộ, cho nên khoa Ứng phú đã tiếp biến và có điều kiện để áp dụng với trang phục áo hậu màu xanh ngọc thạch; cổ và tay áo viền màu; nền vải thường có hình lá cây, Rồng nhí, chữ Thọ… để phục vụ các lễ nghi cúng cầu an và cầu siêu tại vùng đất này.

Đối với vị thầy Cả, áo hậu có màu vàng, xanh dương hoặc áo bá nạp tùy vào từng khoa giáo; y được sử dụng là hồng y. Về hồng y, tại Nam bộ, “hồng y được may bằng vải thường màu đỏ hoặc gấm hoa văn chữ Thọ cách điệu, đệm thêm vào đó hoa lá xen lẫn mây, màu đỏ tươi có 25 điều, mỗi điều là tiêu biểu cho ruộng phước điền, nhưng có khác là hậu, vì chiếc hậu miền Nam là hậu bá nạp màu trắng và đen, đan xen với nhau thành từng mảng, mỗi mảng vải được ghép lại với nhau từ nhiều hình chữ nhật” [9]. Thêm vào đó, khi cử hành các lễ Nhập tịch, Khai kinh, cúng Phật, cúng Ngọ, thầy Cả Văn trong đàn Trình thì vị Sám chủ đầu đội mão Hiệp Chưởng; thầy Cả đàn Chẩn tế đội mão Tỳ Lô (mão trái bí đặc thù của miền Nam) có thêm Ngũ quang Phật; ngoài ra, trong lễ Nhập tịch hay thầy Cả Võ trong đàn Trình cũng có thể đội mão Tỳ Lô; chân đi hia hoặc giày. Đối với vị Pháp sư đăng tòa thuyết pháp, mặc hậu vàng, đắp hồng y, đầu đội mão Hiệp Chưởng, chân đi giày.

Đám Trai đàn Chẩn tế tại Sài Gòn năm 1955                                                      HT. Huệ Thành, Tăng thống GHPG Cổ truyền Việt Nam, đắp y hồng Hiệp chưởng Chứng minh Đại hội Phật giáo Cổ                                                                                                                                      truyền.

 

Các vị trong Ban Kinh sư không đội mão, mặc áo hậu vàng, đắp y, chân đi giày. Ngày nay, Kinh sư thường có đồng phục quy định theo từng Ban để có sự thống nhất và trang nghiêm đạo tràng khi hành lễ.

Pháp khí

Pháp khí của Ban Kinh sư gồm có: Thủ lư, Thủ xích, đẩu [10], khăn ấn, Tích trượng, gậy Như ý [11], Linh xử, gương, bút đề phan, chuông, mõ, khánh, chập chõa, tiểu chung, bản, Đại hồng chung, đại cổ,… Đặc biệt, trong Khoa giáo Cổ truyền Nam bộ phải có tum và đẩu, nếu không thì khoa nghi đó đã cải cách không còn bản chất cổ truyền nữa.

Các thể loại, điệu thức xướng tụng

Các điệu thức xướng tụng trong khoa nghi Ứng phú rất đa dạng, phong phú với những khúc chiết gồm có như: Bạch, nói, thỉnh, nguyện, tụng, tán, dẫn, tán mắc [12], điệu Tẩu mã, điệu Tứ cú, điệu tán dẫn, điệu tán trạo, điệu Khách tử, …

Theo đó, Tán là điệu thức phổ biến và quan trọng nhất trong nghệ thuật của khoa nghi này. Tán có nghĩa khác là tán thán, xưng tán, ngợi khen những công hạnh của chư Phật và Bồ tát, khi tán phải theo nhịp đẩu, nhịp tum và hòa cùng nhạc lễ, với quy cách: 4 nhịp sẽ thành một lớp đẩu; 8 nhịp sẽ thành một lớp đàn của nhạc lễ; cho nên số lớp trong mỗi bài tán, điệu tán đều rơi vào con số chẵn như 6, 8, 10 lớp, … Ví dụ: Câu 1 trong điệu tán Tứ cú sẽ có 24 nhịp tương đương với 6 lớp đẩu, thì tất nhiên sẽ là 3 lớp đàn, cả bài 4 câu như vậy sẽ là 24 lớp đẩu bằng 12 lớp đàn,… Ngoài ra, hiện nay nếu chỉ tính riêng loại hình “Tán” sẽ có trên 20 thể điệu, cách thức khác nhau như: Điệu Tứ cú, tán dẫn, tán rơi, tán Thiền, tán Tẩu mã, tán sốc, tán chúc Thánh, … trình độ cao hơn là “Tán mắc”. Các điệu tán Ứng phú thường đưa hơi ngân nga, luyến láy bằng câu “í…a…” thay vì “ứ…ư…” như hát bội hoặc “hò…hơ…” như hò.

Nói đến việc tán tụng, trong một buổi nói chuyện về âm nhạc Phật giáo, GS.TS. Trần Văn Khê đã khẳng định: “Tán tụng Phật giáo không phải là tán tụng để chơi, mà mỗi câu, mỗi bài đều mang ý nghĩa nhiệm mầu, gắn liền với những giáo lý, chuyển tải hình tượng Phật giáo. Khi tán tụng, phải để hết tâm tư cảm nhận và hiểu hết lời kinh tiếng kệ, nhằm loại bỏ tham, sân, si đạt trạng thái tâm thanh thản, Thiền định” và đây cũng chính là dụng ý của chư Tổ sư khoa nghi này.

Ngoài ra, với nghi lễ Phật giáo Cổ truyền Nam bộ không thể thiếu những bộ điệu, bộ Kim Cang, Thất Tinh và Học trò lễ trong Đàn Trình Thập (Lục) cúng – loại hình nghi thức đặc trưng của các vị Sư Ứng phú Nam bộ, đó là các bước đi khoan thai, tự tại kết hợp với những nghi thức mang ngôn phong súc tích và biểu đạt với sự học tập điêu luyện cụ thể cũng là một nghệ thuật không phải ai cũng thực hiện được mà tất cả đều được học và tập luyện rất công phu. Những bộ này đòi hỏi thể hiện sự trang nghiêm, nhưng cũng không thiếu sự linh hoạt, uyển chuyển, chính những yêu cầu này đã thể hiện phần nào quá trình rèn luyện thân và tâm của những vị sư Ứng phú.

HT. Thích Giác Điền Khai kinh, bạch Phật                                                                                                 HT. Thích Huệ Thông cùng tác giả thực hiện nghi thức Tiến sư, huý kỵ lần thứ 15 Hòa thượng thượng Thiện hạ Từ                                                                                                                                                                      tại chùa Minh Đạo năm 2021.

Lễ nhạc

Trong nghệ thuật Ứng phú đạo tràng tại Nam bộ, ngoài các pháp khí của Ban Kinh sư thì Ban Nhạc lễ Ứng phú còn giữ vai trò rất quan trọng góp phần tạo nên sự trang nghiêm và thành tựu trong khóa lễ. Lễ nhạc Nam bộ là âm nhạc được sinh ra do nhu cầu phục vụ tín ngưỡng, lễ thức và đời sống tinh thần của người di dân, là vốn văn hóa dân gian của những lưu dân người Việt vào khai khẩn đất Nam bộ trong giai đoạn đầu, nhạc lễ Nam bộ được tiếp biến từ Nhã nhạc Cung đình Huế, thông qua những người làm Nhạc sư triều Nguyễn, đồng thời là hệ quả của sự giao lưu, thụ ứng và tiếp biến âm nhạc của cộng đồng các dân tộc cùng chung sống.

Trong Phật giáo, lễ nhạc là một trong sáu món cúng dường (Lục cúng: Hương, hoa, đăng, trà, quả, nhạc). Ban Nhạc lễ thường sử dụng các nhạc cụ như: Đàn cò, đàn gáo, đàn sến, đàn kìm, đàn tranh, đàn bầu, ghi-ta thùng phím lõm (sau này có guitar điện), kèn lá, kèn tiểu cùng trống đạo và xáng bạc với ngũ cung: Hò, xự, xang, xê, cống, phối hợp theo từng khoa, từng nghi thức mà có sự quy chuẩn nhất định theo 20 bài Tổ của nhạc lễ Cổ truyền [13]. Những tiết tấu thể hiện sự trang nghiêm, uy nghi, dõng dạc sẽ sử dụng bài Hạ, Hơi xuân, Tham lễ,…; những tiết tấu thể hiện sự tang thương, ai oán sẽ sử dụng bài Xuân Nữ (thành phố), Nam Ai…; những tiết tấu thể hiện tính thoát tục, như về phía vô định sẽ sử dụng bài Nam đảo (năm lớp cổ truyền), Nam xuân – bụa…; những tiết tấu hối hả, khẩn trương sẽ sử dụng bài Bình Bán Vắn, Lưu Thuỷ Đoản… Ngoài ra, còn theo các lớp, điệu tán khác nhau, đòi hỏi nhạc công phải tìm đến học với các vị Ứng phú Sư. Tại Nam bộ đã đào tạo các vị Nhạc sư nổi tiếng trong lĩnh vực nhạc lễ như: Nhạc sư Tư Bộ (Thủ Dầu Một), Mười Liêu (đờn cò), Tư Khía (Kèn), Nhạc sư Hai Mến (quận 4), Nhạc sĩ Ba Vị, Nhạc sĩ Cổ truyền Lê Hoàng, Nhạc sĩ Phú Quý (TP HCM), Nhạc Hùng (Kiên Giang), sư Bửu Võ, (Vĩnh Long), Hữu Phước (Bắc Bình Minh, Cần Thơ), Tư Khôi (Vĩnh Phú)…

Đặc biệt, quý thầy Kinh sư ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) thuở trước còn thông thạo khoa Bát Bộ. Đám Trai đàn có riêng chương trình hát tuồng: “Quan Âm giáng thế” do quý thầy Kinh sư đảm nhiệm (quý Hòa thượng như: Thới Đạt, Thới Liên, Thới Thiền là Kinh sư danh tiếng khắp miền Đông và Tây Nam bộ lúc bấy giờ) [14].

Nội dung

Có thể phân biệt thành hai loại là Khoa Giàn và Khoa Đất [15]. Trong đó, Khoa Giàn là nghi thức Trai đàn Chẩn tế; Khoa Đất: gồm có 14 khoa: Khoa Nghinh Thần chủ, Khoa Thỉnh Thánh, Khoa Phát Chí tâm (Phát lược), Khoa Trí Linh, Khoa Cấp thuỷ, Khoa Mộc dục, Khoa Tịnh trù, Khoa Trừ Thần (Trừ Phục), Khoa Trình Thập cúng (Lục cúng), Khoa Phát tấu, Khoa Mông chuông, Khoa Dương Phan, Khoa Thập Điện, Khoa Dược Sư. Ngoài ra, trong các khoa này còn có các tiểu mục gọi là “Phần” như: Phần sái, Phần chỉ, và các “Nghi” như: Nghi Đề Triệu, Đề Phan, nghi Hưng tác (thỉnh Thần hoàng Bổn cảnh), nghi thượng phan, nghi tiến linh, nghi xá hạt, xá mã,…

Bên cạnh những nghi lễ truyền thống của Phật giáo, tại Nam bộ thực hiện theo những nghi thức Ứng phú như: Tết Nguyên Đán, Lễ Phật Đản, Lễ Vu Lan, Lễ Tam Ngươn (Rằm tháng Giêng – Thượng ngươn Thiên quan Giáng phước, Rằm tháng Bảy – Trung ngươn Địa quan Xá tội, Rằm tháng Mười – Hạ ngươn Thủy quan Giải ách), Lễ Tống chư Thiên (đưa chư Thiên vào khuya ngày 23 hoặc 25 tháng Chạp), Lễ Nghinh Thiên (rước chư Thiên, vào đêm 30 tháng Chạp), tống Tăng… tất cả được thực hiện tại Già Lam, những khoa giáo này còn thực hiện tại tư gia của tín đồ Phật tử.

Khoa nghi Ứng phú này gồm các pháp sự khoa nghi được thực hành ở các cuộc lễ theo yêu cầu tín ngưỡng của công chúng, nhằm khế hợp với cơ duyên của thế nhân, ngỏ hầu hoằng hóa chúng sinh theo chủ trương “dĩ huyễn độ chơn”, tức vận dụng các hình thức, phương tiện diễn xướng nghi lễ nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của quần chúng và truyền bá đạo pháp.

Các khoa nghi Ứng phú có nhiều nguồn gốc khác nhau, có nhiều nghi thức bắt nguồn từ Phật giáo, nhưng cũng có một số nghi lễ tuy trên danh nghĩa là của Phật giáo nhưng bị ảnh hưởng hoặc mượn hình thức của Nho giáo, Đạo giáo và những tín ngưỡng từ dân gian, văn hóa bản địa theo tư tưởng “Tam giáo đồng nguyên”. Hiện nay, có rất nhiều nghi thức khác nhau thuộc lĩnh vực chúc thọ, cầu an, cầu siêu, tang ma, nhương tinh, giải hạn, Tam nguyên, Tứ quý. Đặc biệt, các khoa nghi sử dụng nhiều Thần chú, ấn quyết theo Mật tông Phật giáo kết hợp với âm điệu diễn xướng, pháp khí, cùng hình thức bày biện Đàn lễ và nghi lễ trang nghiêm khiến cho không khí buổi lễ trở nên huyền bí, hiếu kỳ, dễ dàng thâm nhập và phổ biến đến mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội. Chính vì vậy mà Khoa nghi Ứng phú đã là một trong những phương tiện hoằng pháp thiện xảo mà chư Tổ đã thực hiện và lưu truyền đến ngày nay.

Ý NGHĨA CỦA NGHỆ THUẬT ỨNG PHÚ ĐẠO TRÀNG 

Ứng phú đạo tràng biểu hiện lòng tôn kính Tam bảo

Không chỉ riêng đối với nghệ thuật Ứng phú đạo tràng tại Nam bộ, mà với nghi lễ Phật giáo nói chung, đây là một phương thức bày tỏ niềm tin, lòng thành kính đối với Đức Phật, chánh pháp và chúng Tăng, người Phật tử đảnh lễ cúng dường, ca ngợi Tam bảo, khiến niềm tin thêm vững chắc sẽ tạo nên sự chuyển hóa tốt đẹp trong tâm hồn của họ. Trong nghĩa rộng hơn của nghi lễ thì ba ngàn oai nghi, tám vạn tế hạnh đều là nghi lễ cả, cũng như nghệ thuật Ứng phú đạo tràng Cổ truyền Nam bộ chính là một phương pháp, phương tiện để thể hiện sự trang nghiêm, oai nghi của chư Tăng, qua đó truyền tải những hình ảnh cao đẹp, trang nghiêm của Tăng đoàn và bày tỏ lòng kính tin Tam bảo của tín đồ Phật tử. Do vậy, để có thể thực hành các Khóa lễ Ứng phú, chư Tăng cần phải trải qua một quá trình học tập, rèn luyện, nâng cao được giới hạnh, cũng như khổ luyện về thân và tâm.

HT. Thích Thiện Đắc chùa Linh Tiên, (vị Tổ Ứng phú đạo tràng tại Nam bộ) đăng đàn chẩn tế tại Chùa Phước Tường, TP Thuận An

Ứng phú đạo tràng nghệ thuật hóa triết học Phật giáo

Nền triết học của đạo Phật rất cao siêu, nên đối với quần chúng trong xã hội rất khó thâm nhập. Đặc biệt, với đặc thù của vùng đất Nam bộ, dân cư sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp, đời sống đơn thuần, tính tình con người chất phát, giản dị, do đó thông qua nghệ thuật Ứng phú đạo tràng, giáo lý cao siêu của Phật giáo được truyền tải và cảm nhận bằng tình cảm của chư Tăng đối với gia đình Phật tử, bằng lòng mến đạo, bằng các hình thức sinh hoạt nghệ thuật dân gian sẽ thuận tiện và dễ dàng hơn với những bài tán, kệ tụng mang ý nghĩa thâm thúy, nội hàm nhân quả, giải thoát, dung chứa nhiều tư tưởng triết lý Phật giáo sẽ dễ dàng ăn sâu và đi vào lòng người hơn là những bài giảng khô khan như nhận định của Thiền sư Tiên Giác – Hải Tịnh.

Tuy nhiên, cũng cần nhấn mạnh, nghi lễ nói chung và nghệ thuật Ứng phú chính là những pháp phương tiện của Phật giáo, một khi đã được xác quyết là pháp phương tiện thì chúng không phải là cứu cánh. Cũng vậy, vị thầy thực hành Ứng phú cần có những giới hạn nhất định và nên có thái độ vô chấp đối với nghi lễ. Nhất là phải tạo cho nghi lễ có những ý nghĩa giải thoát mọi sự ràng buộc, khổ đau. Từ triết lý Phật gia hóa thành nghệ thuật và từ nghệ thuật Ứng phú đạo tràng chuyên chở thành triết lý Phật gia.

Điển hình như văn thỉnh Bồ tát Địa Tạng: “Địa ngục vị không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề”, mới nghe qua chúng ta chỉ hình dung đây là câu phát nguyện của ngài Địa Tạng, thế nhưng ý nghĩa lại rất thâm tuý: “Địa Ngục, chúng sanh” chỉ cho sự đau khổ, vô minh, phiền não, tham sân si…; “Phật, Bồ đề” là sự giác ngộ, giải thoát, Niết bàn. Khi nào địa ngục không còn, nghĩa là mọi khổ đau phiền não do tham, sân, si của chúng sanh không còn phát khởi, thì ngay lúc đó sự giác ngộ, giải thoát và trí tuệ liền xuất hiện. Đó mới thực là ý nghĩa thâm thuý và vai trò chân thật của nghệ thuật Ứng phú trong Phật giáo.

Ứng phú đạo tràng là một pháp môn tu tập

Nghi lễ là phương tiện khơi gợi lên sự rung cảm nơi tâm thức con người, nên khi thực hành nghi lễ chính là một con đường đưa đến giải thoát mọi nỗi khổ niềm đau. Con đường đó là bằng tư duy để ngộ nhập chân lý, nghi lễ tác động trực tiếp đến năng lực tinh thần, từ đó tạo dựng lòng tin Tam bảo, giúp con người vượt lên những khổ ải, bi lụy.

Trong các phương tiện dẫn dắt người dân vào đạo, nghi lễ là một phương tiện phổ biến, diệu dụng. Thực tế cho thấy, có nhiều người không bao giờ đi chùa, nhưng khi gia đình có hữu sự như: cha, mẹ, ông, bà, thân quyến qua đời, liền thỉnh quý thầy đến giúp trong lễ tang, từ đó họ phát tín tâm đi chùa, quy y Tam bảo. Trước những áp lực từ cuộc sống, nhu cầu về tinh thần của con người trong xã hội là rất lớn. Đối diện với những bế tắc chưa được giải quyết, con người thường lựa chọn việc cầu nguyện như một phương pháp tốt nhất khi những bất an xảy đến cho họ mà không thể hoặc chưa giải quyết được bằng các phương diện khác.

Ứng phú Đạo tràng làm trang nghiêm thân và tâm

Trang nghiêm là cốt lõi của nghi lễ Phật giáo. Với Ứng phú đạo tràng là sự dung hòa của nghi lễ và nhạc lễ, trong đó “Nghiêm” là cốt lõi của nghi lễ, “Hòa” là cốt lõi của nhạc lễ [16]. Để hành sự Ứng phú được nghiêm thì “lễ” phải có “nghi” và Ban Nhạc lễ được hòa thì “nhạc” phải có “điệu”. Đây là nguyên tắc cơ bản mà buộc những vị Tăng sĩ hành sự phải kinh qua quá trình tu tập, rèn luyện bản tâm, cũng như thành thục trong việc thực hành nghi lễ, khoa giáo. “Nghi nghiêm – nhạc hòa” là hai yếu tố cơ bản định danh nên pháp môn “Nghi lễ Thiền gia”. Vì vậy, “nghi nghiêm” và “nhạc hòa” hay để “danh” song hành với “thực” nên mới có câu: “Lễ nhạc hòa minh – Thánh Hiền vân tập”.

Từ những yêu cầu mang tính chuẩn mực ấy, nghi lễ trong Phật giáo nói chung đòi hỏi người hành trì nghi lễ, đối tượng nghi lễ và nội dung nghi lễ phải có một số phẩm chất nhất định:

Đối với người hành lễ

Cần hội đủ những phẩm chất sau: Có Thanh văn tướng trang nghiêm (tức âm thanh sắc tướng) có chiều sâu nhất định (Về mặt tu tập tâm linh, từ 10 hạ lạp trở lên), có sự thuần thục về nghi lễ (phải thông thạo và thấu đạt nghĩa lý của các bản văn khoa nghi tán tụng nội – ngoại khoa, Hán văn) [17].

Về đối tượng nghi lễ

Ở đây chính là những đối tượng mà nghi lễ phục vụ, hay nói một cách khác hơn là những người có nhu cầu về tín ngưỡng tâm linh, phải có “Thành”, có “Tín” và có “Lễ”, có sự thành tâm, tin tưởng thì nghi lễ mới thật sự có ý nghĩa, có giá trị và phát sinh hiệu dụng.

Về nội dung nghi lễ

Khi tiến hành một cuộc lễ, người chủ lễ cùng những người tham dự lễ phải giữ cho thân, khẩu, ý đều thanh tịnh, chuyên chú vào nội dung cuộc lễ, được như vậy thì tâm của mọi người đều được trang nghiêm. Đạo tràng pháp sự phải trang nghiêm, tương tự như ba yếu tố cốt tủy trong các Đại Giới đàn của Phật giáo: “Giới tử phát tâm dõng mãnh, Giới sư thanh tịnh, Giới tràng trang nghiêm” – “Tín chủ thành tâm, Tăng chúng thanh tịnh, Đàn tràng trang nghiêm”. Nếu một Khóa lễ Ứng phú không đảm bảo được ba đặc tính căn bản này thì khoá lễ Ứng phú sẽ không mang lại lợi lạc mà còn có những hệ lụy tiêu cực.

NHỮNG ĐÓNG GÓP VÀ SỰ TRUYỀN THỪA CỦA NGHỆ THUẬT ỨNG PHÚ ĐẠO TRÀNG 

Từ những vai trò mà Ứng phú đạo tràng, hay nói rộng ra là nghi lễ Phật giáo mang lại, chúng ta có thể kết luận, nghi lễ hay Ứng phú có vai trò rất lớn và quan trọng đối với Phật giáo Việt Nam.

Trên chặng đường thăng trầm hình thành và phát triển của nghệ thuật Ứng phú đạo tràng ở Nam bộ, lịch sử Phật giáo đã ghi nhận sự cống hiến to lớn của những bậc danh Tăng Thạc đức, tiền hiền thiện nghệ như: Hòa thượng Ấn Nhâm – Từ Lương [18], Từ Phong (chùa Sắc Tứ Thiên Tôn, Thuận An), Hòa thượng Nguyên Chất – Giác Điền (Tây Ninh), Hòa thượng Thiện An (Thầy Mười Chỉ, Bàu Lớn,Tây Ninh), Hòa thượng Chơn Thinh – Từ Văn (chùa Hội Khánh, Thủ Dầu Một), Hòa thượng Huệ Thành (chùa Long Thiền, Đồng Nai), Hòa thượng Thới Đạt, Thới Liên, Thới Thiền (Thủ Dầu Một), Hòa thượng Chơn Hữu, sư Thiện Chánh (chùa Phước Lưu, Tây Ninh), Hòa thượng Như Phòng – Mỹ Định (chùa Hội Sơn, Thủ Dầu Một), Hòa thượng Bửu Thanh (chùa Sắc Tứ Thiên Tôn, Thuận An), Hòa thượng Hồng Võ (chùa Từ Quang, Gia Định), Hòa thượng Hồng Nhơn (chùa Từ Thoàn, quận 8, TP HCM), Hòa thượng Thiện An (Sông Bé), Hòa thượng Nhật Thiện (chùa Định Thành, TP HCM), Hòa thượng “Trà Úi” (Cần Thơ), Hòa thượng Thiện Thành (Bạc Liêu), Hòa thượng Thiện Tài, Hòa thượng Nhật Quang (Đồng Tháp) Hòa thượng Hồng Hớn – Thiện Thanh (Thuận An), Hòa thượng Thiện Huê, (Chùa Phước Quang, Thuận An), Hòa thượng Mỹ Phước (chùa Long Sơn, Thủ Dầu Một), Hòa thượng Huệ Trang (Tu viện Giác Nguyên, Long An), TT. Minh Phát – Nguyên Đức (TP HCM), … Tại đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Bạc Liêu, đầu thế kỷ XX nổi bật nhất có Thiền sư Nguyệt Chiếu (1882-1947), người đã có công tập hợp, biên soạn lại các bài nhạc lễ Phật giáo, làm nền tảng cho lễ nhạc Phật giáo Nam bộ sau một quãng thời gian phong trào Ứng phú bị quên lãng.

Hiện nay, với tinh thần “Tổ Tổ tương truyền, Sư Sư tương kế”, nghệ thuật Ứng phú đạo tràng được truyền thừa và phát triển mạnh mẽ ở Nam bộ. Những Ứng phú Sư danh tiếng như: HT. Hiển Tu (chùa Phật Học Xá Lợi, TP HCM), HT. Thiện Đắc (chùa Linh Tiên, TP HCM), HT. Thiện Tấn (chùa Từ Thoàn, TP HCM), HT. Thiện Tín (An Giang), HT. Huệ Thông (chùa Hội Khánh, Bình Dương), HT. Chơn Minh (Đồng Tháp), HT. Thiện Phát, HT. Thiện Lương; HT. Lệ Trang (chùa Định Thành, TP HCM), HT. Thích Thiện Tài (Long An), TT. Đồng Văn (chùa Viên Giác, TP HCM), TT. Thiện Hỷ, TT. Thiện Lạc (chùa Cửu Thiên, TP HCM), TT. Thiện Luận (Tây Ninh), TT. Thiện Ý (chùa Thiên Phước, Sóc Trăng), TT. Quảng Chơn (TP HCM), TT. Minh Chí (chùa Phước Thạnh, Bình Dương), TT. Phước Cường (Long An), TT. Huệ Trí (TP HCM), TT. Thanh Mẫn (Bến Tre), TT. Phước Quang (chùa Giác Lâm), ĐĐ. Phước Thuận; ĐĐ. Minh Quy (Sóc Trăng)… cũng như một số Tổ đình, tự viện cũng đã và đang duy trì mang tính truyền thừa, thực hành và phát triển cho nghệ thuật Ứng phú [19] như: Tổ đình chùa Long Thiền (Đồng Nai), Tổ đình Chùa Long Thạnh (TP HCM), Tổ đình Giác Lâm, Giác Viên (TP HCM), Tổ đình chùa Hội Khánh (Bình Dương), Tổ đình Phước Lâm (Tây Ninh), Tổ đình Linh Tiên (TP HCM), Tổ đình Từ Thoàn (quận 8, TP HCM), Tổ đình Giác Định (Bình Tân), Tổ đình Vĩnh Tràng (Tiền Giang), Tổ đình Long Thạnh (TP HCM), Tổ đình Giác Nguyên, Kim Cang (Long An) chùa Tứ Phước (quận 11, TP HCM), Tổ đình Phước Long (An Giang),.. và nhiều sơn môn, hệ phái khác vẫn còn truyền thừa và phát triển nghệ thuật này.

Trong các phương tiện dẫn dắt người dân vào đạo, nghi lễ là một phương tiện phổ biến, diệu dụng, thực tế cho thấy rằng có nhiều người không bao giờ đi chùa, nhưng khi gia đình có hữu sự như cha, mẹ, ông, bà, thân quyến qua đời, liền thỉnh nhờ quý thầy giúp đỡ trong lễ tang, từ đó họ phát tín tâm đi chùa, quy y Tam bảo.

Tại vùng đất Nam bộ, nghệ thuật Ứng phú đạo tràng không chỉ đóng vai trò quan trọng trong đời sống quần chúng nhân dân, mà còn tác động rất lớn đến văn hóa – xã hội bản địa, cũng như công tác hoằng pháp tại vùng đất này.

Tạm kết
Ứng phú tại Nam bộ là một nghệ thuật văn hóa Phật giáo đặc sắc, tô điểm cho nền đạo đức của xã hội. Do vậy, với quá trình hình thành lâu dài, nghi lễ đã đóng góp một cách thiết thực và hiệu quả trong công cuộc hoằng pháp lợi sanh của Phật giáo Việt Nam. Với trách nhiệm của những Tăng sĩ kế thừa, tiếp nối truyền thống cao đẹp của thầy Tổ, phương tiện tùy duyên, đòi hỏi người hành giả thực hành nghi lễ phải quán triệt sâu sắc giáo lý Phật Đà, triệt để không phô trương hình thức bên ngoài mà bỏ quên ý nghĩa thuần tuý của chánh pháp, không phù hợp với hình thức bản sắc dân tộc, tránh làm cho người đời xem đó là hình thức mê tín dị đoan, ảnh hưởng đến nét trong sáng, chân nguyên của nghi lễ Phật giáo Việt Nam.

Ứng phú sở hữu công năng diệu dụng, thế nhưng, không phải ai cũng có thể vận dụng trọn vẹn mặt tích cực của Ứng phú, nên dần dà danh từ “đi đám” đã làm mất đi ý nghĩa ban đầu. Để rồi, khi nhắc tới hai chữ “đi đám” thì người ta liên tưởng tới các hình ảnh của các vị chuyên đi cúng, “thầy tụng” không phải là tu sĩ Phật giáo. Mặt khác, các buổi lễ Ứng phú cũng từ đó mà vơi đi những ý nghĩa thiêng liêng, cao đẹp, trở thành như một “cuộc trao đổi” giữa gia chủ và người “đi đám”. Như điều mà bậc tiền bối, Tổ sư thường nhấn mạnh: “Nghi lễ dù quan trọng vẫn chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sinh vào đạo, chứ không phải là con đường thật sự đạt đến giác ngộ, giải thoát. Đồng thời, cũng đừng vì góc nhìn phiến diện, tự tôn, cố chấp mà chúng ta để đánh mất những giá trị cao quý mà các bậc tiền nhân, kỳ túc, Trưởng lão đã dày công tạo dựng”.

Ghi nhận điều đó, chúng ta càng phải trân trọng, đánh giá cao và không ngừng học hỏi cũng như bảo tồn các giá trị văn hoá, nghệ thuật và tín ngưỡng, không chỉ riêng tại vùng đất Nam bộ, mà còn ở cả mọi miền đất nước! Đặc biệt, cần tránh tư tưởng bài xích, so sánh, áp đặt quan điểm, tư tưởng Phật giáo ở khu vực này, vùng miền này, lên khu vực khác, vùng miền khác! Đảm bảo được điều đó, chính là điều kiện để nghi lễ Phật giáo Việt Nam nói chung và nghệ thuật Ứng phú đạo tràng nói riêng luôn được phát triển bền vững và cao đẹp.

ĐĐ. Thích Huệ Nghiêm

 

Chú thích:

* Đại đức Thích Huệ Nghiêm – Uỷ viên Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương, học viên Thạc sĩ khóa III, Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. HCM.

[1] Nguyên Trưởng khoa Phật giáo Việt Nam – Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP HCM, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam, trụ trì chùa Phật Học Xá Lợi, quận 3, TP. HCM
[2] Chế độ khen thưởng, ban sắc tứ chùa công, Cấp môn bài cho Tăng sĩ do triều đình quyết định và vào sổ bộ.
[3] Dân gian Nam bộ quen gọi “Phú”
[4] Phạm là thanh tịnh, Bái là tân tụng kinh văn
[5] Theo Hòa thượng Thích Huệ Thông
[6] Xưa, trước khi vào đám, vị sám chủ hoặc Thầy công văn (nếu có) sẽ viết một bảng Cung an chức sự trong Đàn tràng bằng chữ Hán treo ở phía trước; theo từng khoa giáo, từng nghi thức mà vị Kinh sư khi đọc sẽ biết vị trí của mình ở chổ nào và làm những gì trong Trai đàn. Tuy nhiên, hiện nay rất ít Ban Kinh sư còn duy trì áp dụng, vì nhiều lý do khách quan, đa phần vì Kinh sư không giỏi chữ Hán, mà thay bằng chữ Quốc ngữ.
[7] Theo HT. Huệ Trang (Tu viện Giác Nguyên): 7 vị thầy gọi là Đàn, 9 vị thầy gọi là Trai Đàn, 13 vị thầy (3 ngày) gọi là Đại Trai Đàn.
[8] Sám chủ Nội: Đảm trách các Khoa giáo; Sám chủ Ngoại: Đảm trách các nghi thức Khai Kinh, Chẩn tế, Công văn sớ điệp.
[9] Theo Hòa thượng Thích Thiện Đắc, chùa Linh Tiên: Màu trắng để tượng trưng cho ngày (nhựt), Màu đen tượng trưng cho đêm (dạ), như vậy phần biểu trưng nói việc đêm ngày được an lành. An lành ở đây chính là an lành trong các pháp đoạn diệt, an trú tỉnh thức
[10] Tương tự như Tang của miền Trung, nhưng không có cán cầm, chỉ dùng roi bằng tre gai, đặt gọn trong lòng bàn tay, một đẩu thuận và một đẩu nghịch (gọi là cặp Vĩ)
[11] Khi xưa, chủ yếu sử dụng gậy Như ý cho Kinh sư khi nhiễu đàn sái tịnh, chú Phổ Am vào đêm hôm trước của Đàn tràng, khi ấy chưa có đèn điện, nên các vị Kinh sư sử dụng Gậy Như ý phía trên có chừa chỗ cắm đèn cầy vào để dễ đi nhiễu đàn, sái tịnh. Một lập luận khác cho rằng, dùng đèn như vậy thì đặc tính của lửa có công năng tẩy uế trược, làm cho đạo tràng được thanh tịnh và không khí sẽ ấm cúng, linh thiêng hơn.
[12] Những bài tán ít khi sử dụng, có tiết tấu phức tạp (dẫn, rơi, mạt vĩ, nhiều lớp và tiết tấu khác nhau…), hơn các bài phổ thông, phải được Thầy Tổ dạy riêng chứ không phổ biến, thường dành cho các vị Thầy Cả có Tâm Pháp sẽ biết nhiều hơn.
[13] Đây là nguồn gốc, khởi nguyên của nghệ thuật Đờn ca Tài tử Nam bộ
[14] Thích Huệ Thông (2015), Lịch sử Phật giáo Bình Dương, Nxb Văn hoá Văn nghệ TP HCM, tr.332.
[15] Khoa Giàn là khoa thuần tuý Phật giáo như Trai đàn Chẩn tế; khoa Đất gồm 14 khoa đặc thù ở Nam bộ, được tiếp biến từ văn hoá nghệ thuật và ảnh hưởng phù hợp theo dân gian Nam bộ.
[16] Nhạc giả, Thiên – Địa chi hòa giả.
[17] Theo HT. Thiện Đắc, chùa Linh Tiên: Vị thầy Cả Ứng phú phải đầy đủ 10 tuổi Hạ, hoặc “Con nhà Nòi” sớm nhất là 28 tuổi mới được truyền trao Tâm pháp và ra mắt Cả Giàn.
[18] Bậc Ứng phú sư nổi tiếng khu vực Đông Nam bộ.
[19] Lò đào tạo Ứng phú.

 

Tài liệu tham khảo:

1. Nguyễn Lang (1973), Việt Nam Phật giáo sử luận, Tập I, II, III, Nxb Lá Bối, Sài Gòn.
2. Thích Đồng Bổn (1995), Tiểu sử danh Tăng Việt Nam, Tập 1, Nxb Thành hội Phật giáo TP HCM.
3. Thích Thanh Từ (1999), Thiền sư Việt Nam, Nxb TP HCM.
4. Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Hội đồng Trị sự, Ban Nghi lễ Trung ương (2013), Kỷ yếu Hội thảo Nghi lễ Phật giáo Toàn quốc, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.
5. Thích Huệ Thông (2015), Lịch sử Phật giáo Bình Dương, Nxb Văn hoá văn nghệ TP HCM.
6. Thích Huệ Thông (2019), Lịch sử Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam. Nxb Văn hóa Văn nghệ TP HCM.
7. Thích Hoàn Quan (2015), Nghi lễ và bách sự nhật dụng, Nxb Đồng Nai.
8. Nguyễn Khắc Thuần (2016), Đại cương lịch sử cổ Trung Đại Việt Nam, Nxb. Giáo Dục, TP HCM.
9. Huỳnh Ngọc Trảng (2019), Gia Định – Sài Gòn hò, hát, lý, vè và diễn xướng lễ hội, Nxb Văn hoá Văn nghệ.
10. Nguyễn Hiền Đức (1995), Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Tập 1, Nxb TP HCM.
11. Trần Hồng Liên (2000), Đạo Phật trong cộng đồng người Việt ở Nam bộ VN, từ thế kỷ 17 đến 1975, Nxb Khoa học xã hội.
12. Trần Hồng Liên (2008), Chùa Giác Lâm di tích lịch sử văn hóa, Tái bản lần thứ nhất, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
13. Trần Hồng Liên (2019), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb Khoa học xã hội.
14. Từ Xuân Lãnh (tái bản 2019), Phong tục đất phương Nam, Nxb TP HCM.
15. Nguyễn Thị Mỹ Liêm (2018), Nhạc lễ dân gian người Việt ở Nam bộ, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
16. Nguyễn Đại Đồng (2018), Phật giáo Việt Nam từ thời khởi nguyên đến năm 1981, Nxb Tôn giáo.
17. Trần Văn Khê (1997), Âm nhạc Phật giáo, Giác Ngộ số 89.
18. Trần Văn Khê (2001), Phong cách tán tụng trong Phật giáo Việt Nam, Nguyệt san Giác Ngộ số 59.
19. Tài liệu lưu trữ tại Tổ đình chùa Hội Khánh, tỉnh Bình Dương; Tổ đình chùa Long Thiền, Đồng Nai, Tổ đình chùa Giác Lâm, TP HCM, Tổ đình chùa Long Thạnh, TP HCM, chùa Phật Học Xá Lợi, TP HCM.

Trả lời