Thấu hiểu và vị tha theo tinh thần của Phật giáo (SC. Thích Nữ Chơn Ngọc)

Trong cuộc sống bộn bề nhiều suy tính, lo âu, có mấy khi chúng ta dừng lại, tĩnh tâm để lắng nghe những điều vi diệu xung quanh. Và những cuốn hút quá nhanh của nhịp đập cuộc đời đã kéo chúng ta về những phương trời vô định mà quên đi cuộc sống tâm linh, thấu hiểu kết nối giữa người và người với thế giới thực tại xung quanh. Tất cả đều rất cần một thông điệp của sự kết nối yêu thương, vị tha và thấu hiểu.

“Nhờ lắng nghe ta thấu hiểu, nhờ thấu hiểu ta có thể hàn gắn, xóa mờ đi nét vằn vện, loang lổ, trầy xước mà cuộc đời ban tặng cho mỗi người. Nghe để thông cảm hơn nỗi đau của người khác. Nghe để biết mình đang tồn tại và được sống”.

HÌNH ẢNH THẤU HIỂU VÀ VỊ THA 

Sự thấu hiểu biểu hiện ở trải nghiệm của con người đối với thế giới bên ngoài, xuất phát từ quan điểm của người khác bằng sự cảm nhận theo quan điểm của họ. Điều này chứng tỏ bản thân ta có được sự thấu hiểu tốt, có sự xúc tác giữa hai con người trong ý niệm của sự yêu thương đồng cảm với nhau.

Có thể nhìn nhận dưới lăng kính của Phật giáo, sự thấu hiểu là bước đệm đầu tiên để phát triển và vun bồi tâm từ bi. Trong kiếp sống nhân sinh với nhiều biến động vô thường, nếu sự thấu hiểu không tồn tại vững chắc trong tâm thức mỗi người, chúng ta sẽ khó có thể tìm được tình yêu thương sâu sắc. Vì nếu không thấu hiểu giá trị đích thực, yêu thương sẽ mất dần và không thể tồn tại. “Lắng nghe và thấu hiểu – thì bạn sẽ cùng tôi cười một nụ cười thật tươi và nói với họ rằng cảm ơn bạn, nhưng tôi sẽ không buồn như bạn muốn đâu, vì tôi chẳng thích buồn, mà  không  biết  buồn để được gì. Khi ấy bạn đã thành công và niềm hạnh phúc sẽ trở lại bên bạn, ngay hiện tại và ở đó trong tâm hồn bạn rồi đấy” [1].

Một người nói hay không bằng một người nghe giỏi. Giao tiếp không chỉ gói gọn trong việc chúng ta nói thế nào mà còn đòi hỏi chúng ta lắng nghe bằng tai, bằng cả con tim và khối óc. Có người nói thì phải có người nghe. Ai trong chúng ta cũng đều mong muốn, khi giao tiếp với người khác, có thể nói thật hay, gây ấn tượng với người đối diện. Nhưng dường như chúng ta quên rằng, người được chú ý không phải là người nói nhiều nhất mà là người biết lắng nghe nhiều nhất. Biết lắng nghe giúp chúng ta biết được ẩn ý, sở thích, mong muốn, niềm vui và phiền muộn,.. của những người xung quanh. Biết lắng nghe đã là món quà quý giá trước khi nó được tô điểm bằng những lời động viên và khích lệ. “Nhờ lắng nghe ta thấu hiểu, nhờ thấu hiểu ta có thể hàn gắn, xóa mờ đi nét vằn vện, loang lổ, trầy xước mà cuộc đời ban tặng cho mỗi người. Nghe để thông cảm hơn nỗi đau của người khác. Nghe để biết mình đang tồn tại và được sống” [2]. Nghe để thấy nỗi đau mình trải qua ít hơn niềm vui mình được nhận. Nghe để chúng ta nhìn thế giới này khách quan hơn. Sự thông thái chính là tặng phẩm của một đời biết lắng nghe và im lặng đúng lúc.

Hình ảnh lắng nghe để thấu hiểu và ban rải tình thương trong Phật giáo đó là đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Khi con người đau khổ, đứng trước tôn dung của Ngài dâng lên lời nguyện cầu với tâm thành tha thiết hay lời than thở đau thương, Ngài luôn từ hòa nở nụ cười khả ái, hoan hỷ lắng nghe và thấu hiểu để tiếp thêm sức mạnh yêu thương đến với họ. Khi nhân sinh đang oằn mình trong biển trầm luân đau khổ, chúng ta mới thật sự hiểu được: “Lắng nghe và cảm nhận chỉ khi có khổ đau mới nhận diện được đầy đủ giá trị của hạnh phúc, có thất bại mới thấy thành công là điều đáng quý, có sanh – già – bệnh – chết của kiếp người thì mới chợt tỉnh cơn mê giữa chốn hồng trần mà quay về bến giác…” [3].

Hình ảnh lắng nghe để thấu hiểu và yêu thương qua hình tượng đức Quán Thế Âm Bồ Tát.
(Ảnh: sưu tầm)

Nếu con người cứ sống trong vòng luẩn quẩn của sự nhỏ nhen, ích kỷ và vô tâm thì sẽ tự mình tạo ra bức tường vô hình ngăn cách với mọi người. Tại sao chúng ta không thử mở lòng, nhìn nhận mọi việc khách quan hơn với sự bao dung, vị tha và thấu hiểu? Chỉ cần cho đi một chút tình thương, ta sẽ mang đến cho người khác niềm hạnh phúc, động lực để tiếp tục cuộc sống còn nhiều cơ cực. Dĩ nhiên, ngay cả bản thân chúng ta cũng sẽ cảm thấy dễ chịu và hạnh phúc hơn. Từ đó, chúng ta sẽ cảm nhận có một sợi dây vô hình dần nối kết mình và mọi người lại với nhau.

Trong Phật giáo có rất nhiều mẫu chuyện kể về sự đồng cảm, thấu hiểu từ trong tâm hồn giúp cho đời sống tu tập tâm linh ngày càng thăng tiến. Truyện kể rằng, vua Thuận Trị là người Mãn Châu, lúc ông thống nhất đất nước Trung Hoa và gặp Ngọc Lâm Thiền sư thì nhận ra Thiền sư là bạn cố tri từ kiếp quá khứ, đến nay thì một người làm vua, một người tu hành. Tuy khác hoàn cảnh, nhưng hợp nhất tâm, nên họ mới thấu hiểu nhau sâu sắc. Vua Thuận Trị phong cho Ngọc Lâm làm Quốc sư. Ông nhớ lại tiền kiếp mình từng ở Tây phương Tịnh độ, nay thác sanh chốn nhân gian này mà tạo nghiệp chém giết trong suốt mười bảy năm chinh chiến. Ông bèn từ bỏ ngôi vua, vào Ngũ Đài sơn quyết tâm tu hành, sám hối các nghiệp ác đã tạo, để cầu trở về Tịnh độ Tây phương. Hoặc điển hình như trường hợp vua Lương Võ Đế và một vị sư thời đó là Chí Công Hòa thượng. Hai người cũng là bạn cố tri trong tiền kiếp. Tuy hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng thấy nhau sanh tâm kính trọng [4].

Hơn thế, thấu hiểu sẽ mở rộng tấm lòng bằng cả trái tim yêu thương, ấm áp theo tinh thần của đạo Phật là sống từ bi, vị tha, vô ngã. “Qua khái niệm Vị tha (tiếng Anh: altruism, altruist; tiếng Pháp: altruisme, altruiste), ta có thể hiểu một cách đơn giản, nôm na là vì người khác, là biết thương yêu, nhường nhịn, san sẻ… với người khác, vốn là hình thức ứng xử thương người như thể thương thân hay lá lành đùm lá rách trong cảm thức sống của người Việt, nhưng cũng là phẩm chất và yêu cầu cơ bản của giáo lý nhà Phật, liên quan đến quan niệm từ, bi, hỷ, xả của Phật giáo với nguyên tắc lợi lạc quần sinh, vô ngã vị tha” [5].

PHƯƠNG PHÁP THẤU HIỂU VÀ VỊ THA 

Với phương châm “lấy trí tuệ làm sự nghiệp”, nếu nói theo ngôn ngữ ngày nay, thực sự đạo Phật đã thể hiện tinh thần toàn cầu hóa. “Chính nhờ vào ngọn đuốc trí tuệ của chánh pháp mà hàng đệ tử Phật trên con đường hoằng hóa độ sanh, sống với tinh thần vô ngã và vị tha, nên đã tiếp thu văn minh nhân loại theo khuynh hướng Hội nhập và toàn cầu” [6]. Cốt lõi này thường được các nhà truyền giáo thể nghiệm, gọi là tùy duyên nhưng bất biến, đã giúp cho Phật giáo tồn tại và phát triển hơn hai ngàn năm và cho đến ngày nay, Phật giáo vẫn tiếp tục là kim chỉ nam hướng dẫn loài người sống an vui, hạnh phúc.

Tứ nhiếp pháp được xem là bốn nguyên tắc Đức Phật dạy đệ tử về cách sống vị tha, nhiếp hóa chúng sanh một cách thiết thực và hữu ích trong cuộc sống. Khi thực hiện trọn vẹn bốn nhiếp pháp, chúng ta sẽ được lợi ích trên ba phương diện. Đầu tiên trên phương diện cá nhân, chúng ta làm lợi cho mọi người nhưng thực chất là làm lợi cho cả hai. Mỗi hành động là một hạt giống của nghiệp quả, làm được một việc tốt thì gieo vào đó một nhân lành. Việc làm của chúng ta được mọi người tán thán, tôn trọng thì nhất định sẽ gặt hái kết quả tốt. Thứ hai, về phương diện gia đình, chúng ta sẽ được người thân cảm mến, quý trọng. Lấy đức độ cảm hoá mọi người, ta sẽ trở thành tác nhân chính mang lại hạnh phúc đến cho gia đình. Có thể vì cảm mến đức độ của mình mà gia đình trở nên thuần lương, hướng thiện, trên thuận dưới hoà, hạnh phúc không kể xiết. Về xã hội, thực hiện Tứ nhiếp pháp chính là làm phúc lợi, giúp hoán cải phần nào tệ nạn xã hội, cực đoan trong tình hình thực tại. Số lượng người tu theo Tứ nhiếp pháp càng nhiều, xã hội càng được cải tiến, tránh xa chiến tranh, đem lại sự thanh bình hạnh phúc. Chỉ một tiêu chuẩn này thôi cũng đủ thấy những đóng góp của Phật giáo đối với nhân loại.

“Lắng nghe và cảm nhận chỉ khi có khổ đau mới nhận diện được đầy đủ giá trị của hạnh phúc, có thất bại mới thấy thành công là điều đáng quý, có sanh – già – bệnh – chết của kiếp người thì mới chợt tỉnh cơn mê giữa chốn hồng trần mà quay về bến giác…”

Có thể thấy, trong xã hội, khi thâu tóm lại trong phạm vi hẹp cũng như phạm vi rộng ví như: “Nhỏ như một gia đình, lớn như toàn thế giới, nếu muốn tổ chức lại thành một đoàn thể thì Tứ nhiếp pháp là đức mục không thể thiếu. Điều này cũng như Phật bảo nhờ đó mà thâu tóm toàn thế giới như chiếc xe dựa vào sự điều khiển của người Xà-ích vậy. Tăng già của Phật cũng nhờ ở tinh thần ấy mà được thống lĩnh. Lại như đệ tử tại gia của Phật là Thủ Trưởng Giả (Hatthaka) cũng nhờ có Tứ nhiếp Sự mà thống nhiếp được năm trăm đại chúng và Phật thường tán thưởng cái thành tích trác việt đó. Bởi thế tôi có thể nói rằng, nếu như ngày nay ta cũng ứng dụng Tứ nhiếp Pháp để đoàn kết các đoàn thể thì chắc chắn những sự phân hóa cũng được điều hòa” [7].

Thiếu sót cơ bản của chúng ta là chạy theo cái Ta giả tạm với những khao khát, thèm muốn không bao giờ thỏa mãn. Con người trong xã hội hiện đại có thể sống một đời sống tiện nghi, vật chất đầy đủ, nhưng lại dễ dàng thiếu sự tỉnh thức, an lạc trong nội tâm. Đạo Phật chủ trương một cuộc sống vị tha tích cực, vì lợi lạc của tất cả chúng sinh. Trong kinh điển Phật giáo Nguyên thủy có ghi lại những lời dạy của Đức Phật, khuyến cáo các đệ tử hãy tích cực hoằng hóa độ sanh và nhất là thực hành Tứ nhiếp pháp để gần gũi, lợi lạc cho chúng sinh.

Khi sống vị tha, chúng ta sẽ thấy được hạnh phúc từ cái tâm của mình, vì sống vị tha, thấy hạnh phúc từ cái tâm vị tha, nên mới có thể vui với cái vui thiên hạ. Vì giác tỉnh Vô ngã mới có thể khởi tâm vô úy sống vì hạnh phúc của nhân quần xã hội. Vì thấy rõ Vô thường nên tích cực làm nhiều điều thiện. Những yếu tố tích cực ấy cần được đưa vào nội dung giáo dục con người [8].

Mỗi hành động là một hạt giống của nghiệp quả, làm được một việc tốt thì gieo vào đó một nhân lành.

Thấu hiểu và vị tha luôn là sự thông cảm, chia sẻ và đồng hành mang tính nhân văn, tất cả đều mang đến cho nhân sinh tình yêu thương sâu sắc và đáng trân trọng. Thật hạnh phúc khi chúng ta được đón nhận tình cảm yêu thương, thấu hiểu từ người khác và còn hạnh phúc hơn khi bản thân có thể san sẻ yêu thương đến với mọi người. “Cho đi là còn mãi”.

Trong xã hội hiện nay, sự khơi nguồn tình yêu thương, thấu hiểu đang được lan tỏa bằng những hành động đẹp, sưởi ấm những con tim giá lạnh trong từng đợt sóng ngầm tàn phá do dịch bệnh COVID-19 gây nên. Tưởng chừng đơn giản, nhỏ bé như bó rau, quả trứng, hộp sữa hay thậm chí là một ổ bánh mì không nhưng với người đón nhận thì đó là một món quà vô giá, ấm lòng trong khó khăn gian khổ. Có thể nói, vị tha chính là chất xúc tác giúp con người xây dựng nên các mối quan hệ tốt đẹp và mang lại năng lượng an lành tích cực cho tự thân và tha nhân.

 

Chú thích:

* SC. Thích Nữ Chơn Ngọc, Học viên cao học khóa III Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM

1. Giác Minh Luật, Nếu Trở Thành Tu Sĩ, NXB Hồng Đức, 2015, Trang 126.
2. Vạn Lợi Quán Như (Sưu tầm và Biên dịch), Trao Gửi Nhân Duyên, NXB Văn hoá – Văn nghệ, 2020, Tr.76-77.
3. Giác Minh Luật, Nếu Trở Thành Tu Sĩ, Kính Lạy Đức Bồ-Tát Lắng Nghe, NXB Hồng Đức, 2015, Tr.98.
4. Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển I), NXB Tôn Giáo, 2008, Tr.272.
5. Hòa thượng Thích Trí Quảng, Phật Giáo Nhập Thế Và Phát Triển (Quyển II), Phật giáo trong nền toàn cầu hóa, NXB Tôn Giáo, 2008, Tr.83.
6. Phật tính vị tha trong đời sống tinh thần hiện đại: https://phatgiao.org.vn/phat-tinh-vi-tha-trong-doi-song-tinh-than-hien-dai-d13356.html, truy cập ngày 28/09/2021.
7. Hán dịch: Âu Dương Hãn Tồn, Việt dịch: Thích Quảng Độ, Nguyên Thủy Phật Giáo Tư Tưởng Luận, NXB Tôn Giáo, 2012, Tr.312.
8. Thích Chơn Thiện, Bàn Về Tây Du Ký Của Ngô Thừa Ân, NXB Tôn Giáo, 2000, Tr.245.

Trả lời