Tìm hiểu bài kệ “Thị thái uý Tô Hiến Thành, thái bảo Ngô Hòa Nghĩa” của Thiền sư Trí Thiền (SC. Thích Nữ Lương Uyên)

THIỀN SƯ TRÍ THIỀN VÀ BỐI CẢNH RA ĐỜI CỦA BÀI KỆ 

Trong những năm gần đây, nghiên cứu chủ đề tôn giáo trong văn học trung đại thời Lý – Trần được nhiều học giả quan tâm, bởi đây là thời kỳ hưng thịnh của Phật giáo nói chung và văn học Thiền tông nói riêng. Văn học giai đoạn này được coi như “những viên ngọc quý lấp lánh ánh sáng nhưng đã bị che phủ bởi một lớp bụi thời gian mà hiện nay giới nghiên cứu văn học đang tìm tòi lượm lặt”. Nếu như thơ Thiền đời Trần thiên về cảm xúc trữ tình, mang hình thức gần gũi với thể loại thi ca khác thì thơ Thiền đời Lý lại thường thiên về bày tỏ giáo lý nhà Phật thông qua các bài kệ chỉ bày, răn dạy đệ tử. Thiền sư Trí Thiền thời Lý đã thực hành rốt ráo lộ trình tu tập giải thoát, ngộ được bản tánh nhiệm màu, mượn phương tiện ngôn ngữ để hiển bày thâm ý, chỉ dạy cho hai vị học trò qua bài kệ “Thị Thái uý Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hoà Nghĩa”.

Thiền sư Trí Thiền, tên thật là Lê Thước, pháp hiệu Tĩnh Lư, quê quán ở Châu Phong (Vĩnh Phúc), nối pháp đời thứ 16, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Cả gia đình Sư đều làm quan to dưới triều Lý, bản thân Sư cũng từng theo nghiệp trường ốc, thi đỗ tiến sĩ, được phong chức Cung hậu thư gia. Sư có hai vị môn đồ đặc biệt là Thái uý Tô Hiến Thành và Thái bảo Ngô Hoà Nghĩa. Tô Hiến Thành sống và làm quan dưới triều vua Lý Anh Tông (1133 – 1174) và Lý Cao Tông (1175 – 1209), là một trung thần văn võ song toàn, một danh nhân kiệt xuất về chính trị, quân sự, văn hóa của đất nước. Còn Ngô Hoà Nghĩa là quan Thái bảo dưới triều vua Lý Anh Tông. Tuy không nhiều sử liệu ghi chép nhưng được biết Thái bảo Ngô Hoà Nghĩa có lòng mến mộ Đạo Phật và nhận mình là học trò của Thiền sư Trí Thiền. Bài kệ là những lời giảng dạy quý giá về đạo lý giải thoát khá súc tích của Sư dành cho hai vị môn đồ đặc biệt này.

Ý NGHĨA CỦA BÀI KỆ

Mở đầu bài kệ, Thiền sư Trí Thiền đã nhắc đến chí nguyện xuất gia của người đệ tử Phật: “Ký hoài xuất tố dưỡng hung trung”. “Ký” mang nghĩa là đã, rồi. Phải là người có nhân sâu dày với Phật pháp mới ấp ủ trong lòng hạt giống Bồ đề để chờ đủ duyên nảy mầm. Hạt giống đó được nuôi dưỡng và ngày ngày tưới tẩm bởi chí nguyện muốn thoát ra ngoài cõi tục. Ở đây, không nhất thiết chỉ hiểu nghĩa, thoát ra ngoài cõi tục phải là cạo tóc đi tu, rời xa gia đình, mà hai chữ “xuất gia” còn có nghĩa ra khỏi phiền não, tham sân, ích kỷ,… vượt ra ngoài sự chi phối, ràng buộc của ba cõi.

Tu đạo nương kinh Phật
Hành đạo từ tâm khởi
Siêng năng tinh tấn học
Kiên trì hành sẽ thành.

Bản thân Thiền sư là người xuất chúng, các vua Lý Anh Tông, Lý Cao Tông nhiều lần mời ra làm quan nhưng Sư đều từ chối, bởi lẽ đã ấp ủ trong lòng chí muốn xuất trần. Ngài sớm ngộ đạo, không luyến châu ngọc, đua chen danh lợi mà quý trọng sát-na tĩnh lặng của sự giải thoát nhiệm màu. Bởi thế, Thiền sư chỉ bảo hai vị môn đồ tuy sống trong đời thế tục, làm quan triều đình vẫn có thể nuôi dưỡng chí giác ngộ. Khi đã ấp ủ trong lòng ý thoát tục, người học Phật phải biết rằng:

“Tu đạo nương kinh Phật

Hành đạo từ tâm khởi

Siêng năng tinh tấn học

Kiên trì hành sẽ thành.”

Những câu thơ còn lại của bài kệ là lời dạy của Thiền sư về lộ trình tu đạo giải thoát:

“Văn thuyết vi ngôn, ý duẫn tùng

Tham dục truất trừ thiên lý ngoại

Hy di chi lý nhật bao dung.”

“Vi ngôn” là những lời vi diệu, nhiệm mầu, là chánh pháp thâm sâu, giáo lý uyên áo. Những lời huyền diệu chư Phật, chư Tổ dạy được đúc kết trong Tam tạng giáo điển có công năng khai mở đại nguyện, phát khởi tín tâm để hành giả nương theo tu tập. Thuở xưa, Thiền sư Trí Thiền cũng nhờ học và nghe theo Thiền sư Giới Không (đời thứ 15, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi) giảng Kinh Kim Cương mà cảm ngộ. Nay chỉ bảo môn đồ khi có nhân duyên nghe lẽ diệu huyền thì chân thành tin theo.

Niềm tin là cánh cửa bước đầu vào đạo, là thức ăn nuôi lớn căn lành. Niềm tin của Đạo Phật không dừng lại ở một niềm tin thuần túy, chỉ là sự mến mộ và hy vọng vào những điều tốt đẹp. Niềm tin chân chánh của Đạo Phật phải xuất phát từ trí tuệ siêu việt, là niềm tin có chánh kiến. Niềm tin đó phải song hành cùng sự hiểu lý Phật dạy và thực hành trong đời sống tu tập. Bởi thế sang câu thứ ba, Trí Thiền Đại sư đã chỉ dạy đệ tử: “Tham dục truất trừ thiên lý ngoại”.

Lời Đức Phật dạy trong kinh để tham cứu yếu chỉ mà tu tập nhưng chưa thoát khỏi tướng văn tự. Muốn rốt ráo thành tựu đạo quả và vẹn tròn chí nguyện xuất gia thì đệ tử Phật phải tinh tấn tu hành, trước hết là diệt trừ tham dục. Bài học đầu tiên này bất cứ người học Phật nào cũng biết, nhưng không phải ai cũng thực hiện được. Sở dĩ Thiền sư chỉ dạy môn đồ phải trừ đuổi sự tham muốn ra ngoài nghìn dặm vì tham dục là nguyên nhân của phiền não, là cội gốc sanh tử luân hồi trong ba cõi, là mầm mống của biết bao nguy hại, chướng ngại trên con đường thể nhập chân tánh. Vì một chữ “tham” người ta sẵn sàng đánh đổi nhân phẩm, lòng tự trọng, bất chấp dùng các thủ đoạn mưu mô hòng đoạt được quyền lợi cho bản thân. Mà người xưa vẫn nói “tham thì thâm”, đặt trong bối cảnh sáng tác, Đại sư Trí Thiền muốn răn dạy cho quan Thái uý, Thái bảo đang giữ chức vụ trong triều đình thì việc sáng suốt ý thức mình lại càng quan trọng hơn.

Những bậc đại trí thức luôn có cái nhìn xa rộng, nắm được căn tính đệ tử mình mà tuỳ duyên hoá độ. Biết hai vị đệ tử đều là những bậc xuất chúng, tài năng và đức độ, lại có lòng yêu mến Phật pháp, lời lẽ của Ngài không vòng vo, ẩn ý mà đi thẳng vào nội dung, chỉ bày con đường tu tập không gì khác là phải đoạn diệt tham muốn, tẩy trừ cấu uế tâm xa đến ngàn dặm.

Câu thơ cuối bài là lời nhắc nhở về tự tánh chơn như sẵn có trong mỗi người:

“Hy di chi lý nhật bao dung.”

“Hy di” là tâm thể rỗng lặng huyền diệu, không thanh không sắc. Thiền sư Minh Trí (? – 1196) thời Lý diễn đạt hai từ “Hy di” bằng bài kệ:

“Giáo ngoại khả biệt truyền

Hy di tổ Phật uyên

Nhược nhân dục biện đích

Dương diệm mịch cầu yên” [1, 523].

Nghĩa là giáo ngoại chỉ có thể truyền theo cách riêng. “Hy di” là bắt nguồn từ cõi Thiền. Nếu người ta muốn phân tích về nó thì có khác chi tìm tia khói ở trong bóng nắng. Thể tánh rỗng lặng thì có sẵn nhưng chúng sanh “nhìn mà không thấy, lắng mà chẳng nghe”, chỉ có thể dẹp trừ tham ái, vô minh, phiền não thì thể tánh sáng trong tự nhiên hiển bày. Đối chiếu với bản dịch của Phạm Tú Châu, ta có thêm cách lý giải mới:

“Tin nghe theo lẽ diệu huyền

Bởi lòng đã quyết lánh miền trần ai

Ý tham gạt bỏ dặm ngoài

Nhiệm mầu lẽ ấy, ngày ngày chắt chiu” [1, 510].

“Chắt chiu” là giữ gìn, chăm sóc, nâng niu những gì quý giá. Diệu tánh không hình không tướng, như như rỗng lặng thì sao giữ gìn? Ở đây phải hiểu trên phương diện tương đối (tục đế), cũng chính là chỉ bày cách tu tiệm giáo. Với diệu dụng của Phật pháp tuỳ thuận căn cơ người mới vào cửa Đạo, Ngài chỉ bày cho họ ngày ngày lau chùi bụi vô minh phủ gương tâm thanh tịnh, đoạn trừ tham dục cấu uế bám bản tâm vi diệu nhiệm màu, tương ứng với bài kệ của ngài Thần Tú:

“Thân thị Bồ đề thọ

Tâm như minh cảnh đài

Thời thời cần phất thức

Vật sử nhạ trần ai.”

Dịch nghĩa:                                         

“Thân là cây Bồ đề

Tâm như đài gương sáng

Luôn luôn siêng lau chùi

Chớ để dính bụi dơ.”

Còn với người đã đạt ngộ, hiểu được sự thật như thật về thế giới và con người thì lẽ nhiệm màu là thể tánh như Lục tổ Huệ Năng nói:

“Bồ đề bổn vô thọ

Minh cảnh diệc phi đài

Bổn lai vô nhất vật

Hà xứ nhạ trần ai.”

Dịch nghĩa:

“Bồ đề vốn không cây

Gương sáng cũng chẳng đài

Xưa nay không một vật

Chỗ nào dính bụi dơ?”

Đó là cái nhìn chân đế thấy được tâm thể huyền diệu, tự tánh minh minh mà không cần phải lau chùi mới thấy. Sự chứng ngộ thì không thể diễn đạt bằng ngôn từ, “Đạo khả đạo phi thường đạo” (đạo mà nói được thì không phải đạo).

Chúng ta phải dùng chánh kiến của mình để quan sát. Lộ trình Thiền sư chỉ dạy cho hai vị đệ tử là ứng dụng phương tiện, tuỳ thuận nhân duyên chúng sanh mà giáo hoá, không nhất thiết cứ phải học rồi hành, sau đến chứng. Bởi sự đạt ngộ là bất khả thuyết, ngôn ngữ thế gian không thể diễn tả cũng như Phật tánh chất chứa trong mỗi chúng sanh, ai có thể đem ra luận giải sát nghĩa nhất? Lẽ nhiệm màu người thực chứng tu tập chỉ có thể cảm nhận không thể nói, cũng như ai uống nước mới biết nước nóng lạnh thế nào. Thiền sư đang mượn ngôn ngữ thế gian để diễn tả cho người sau học đạo phần nào hiểu nghĩa lý kinh, cách tu tập đoạn trừ tham dục mà thể nhập thật tánh chơn như.

Nếu như thơ Thiền đời Trần thiên về cảm xúc trữ tình, mang hình thức gần gũi với thể loại thi ca khác thì thơ Thiền đời Lý lại thường thiên về bày tỏ giáo lý nhà Phật thông qua các bài kệ chỉ bày, răn dạy đệ tử.

Những lời Phật dạy như khuôn vàng thước ngọc có giá trị vượt qua thử thách không gian và thời gian, nhờ các vị Thiền sư đạt ngộ mà giáo lý được chuyển tải bằng những hình thức khác nhau để phương tiện giáo hoá người học đạo. Bài kệ mang đậm tinh hoa triết lý nhà Phật được diễn tả bằng thể loại kệ viết theo thể thất ngôn tứ tuyệt. Tác giả văn học đời Lý đa số là Thiền sư và những tác phẩm đó lại đậm đặc triết lý Phật giáo nên trực tiếp trình bày tư tưởng nhà Phật bằng hình thức bốn câu thơ ngắn gọn cô đúc với cấu trúc chặt chẽ.

Bài kệ ít sử dụng những hình ảnh sinh động, lung linh của ngôn ngữ nghệ thuật mà chủ yếu mang tính khái quát về lộ trình tu đạo. Thiền sư sử dụng văn phong dễ hiểu, cách ngắt nhịp 3/4 thông thường của thơ luật tương ứng với mục đích chỉ bày cho người nghe cách thức tu tập để chứng ngộ bản thể thanh tịnh. Tuy nhiên, ngôn ngữ trong bài kệ không phải quá khô khan, trừu tượng. Trong câu: “Tham dục truất trừ thiên lý ngoại”, tác giả dùng động từ mạnh “truất trừ” cùng với cụm từ giàu chất tạo hình “thiên lý ngoại” để khẳng định ý muốn xuất trừ “tham dục” vốn không hình không tướng ra khỏi tâm càng xa càng tốt.

Qua bài kệ và hành trạng của Thiền sư Trí Thiền, hậu thế xin kính ngưỡng trước công hạnh và sự đạt ngộ của Ngài. Thiền sư luôn nuôi dưỡng chí nguyện thoát ra ngoài cõi tục nhưng không vì thế mà xa lìa thế gian, Ngài vẫn nhập thế tích cực hoá độ chúng sanh. Bài kệ là lời chỉ dạy Thái úy Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa nhưng cũng là lời sách tấn quý báu cho hàng hậu học. Khi có nhân duyên với Chánh pháp, hãy chân thành tin theo, tinh tấn tu học đoạn trừ tham muốn, mỗi giờ mỗi phút luôn luôn chánh niệm quán xét tâm mình sẵn có thể tánh rỗng lặng thường hằng. Như vậy, mới là chứng ngộ rốt ráo, tâm thể huyền diệu.

SC. Thích Nữ Lương Uyên

 

Chú thích và tài liệu tham khảo:

*SC. Thích Nữ Lương Uyên, Ni sinh trường TCPH Đà Nẵng.

[1] Nguyễn Huệ Chi (1977), Thơ văn Lý – Trần, tập I, Ủy ban KHXHVN, Viện văn học, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội.

[2] Nguyễn Công Lý (1997), Bản sắc dân tộc trong văn học Thiền tông thời Lý – Trần, Nxb. Văn hóa Thông tin.

Tìm hiểu bài kệ “Thị thái uý Tô Hiến Thành, thái bảo Ngô Hòa Nghĩa” của Thiền sư Trí Thiền (SC. Thích Nữ Lương Uyên)

Trả lời