Thực trạng công tác đào tạo, giáo dục chư Tăng của Phật giáo Nam tông Khmer hiện nay: Những kết quả, hạn chế và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục chư Tăng của Phật giáo Nam tông Khmer góp phần trang nghiêm Giáo hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh (HT. Đào Như)

LTS: Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo trân trọng giới thiệu bài viết Thực trạng công tác đào tạo, giáo dục chư Tăng của Phật giáo Nam tông Khmer hiện nay: Những kết quả, hạn chế và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục chư Tăng của Phật giáo Nam tông Khmer góp phần trang nghiêm Giáo hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh của HT. Ðào Như. Ðây là bài tham luận trích từ Hội thảo “Phát huy vai trò của Tăng, Ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc” được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ) tổ chức vào tháng 01/2022.

Chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer đã có truyền thống hiếu học xem việc đi tu được học là điều cần thiết quan trọng trong cộng đồng người Khmer. (Ảnh: sưu tầm)

Chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer vừa là người dân tộc Khmer vừa là Tu sĩ hệ phái Nam tông trong lòng Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tập trung ở các tỉnh thành đồng bằng sông Cửu Long, miền Tây Nam Bộ, một số ở miền Đông Nam Bộ và TP. Hồ Chí Minh. Có tất cả 454 chùa với hơn 8.500 chư Tăng đang tu học, dân tộc Khmer khoảng 02 triệu người và hầu hết đều theo Đạo Phật hệ phái Nam truyền, nên gọi là “Phật giáo Nam tông Khmer”. Chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer đã có truyền thống hiếu học, xem việc đi tu được học là điều cần thiết quan trọng trong cộng đồng người Khmer. Từ xưa đến nay, những vị tiền bối khi tập trung thành lập Phum (xóm) thì họ xây dựng ngôi chùa ngay trong trung tâm Phum Srok và có trường học dạy chữ cho con em đồng bào dân tộc Khmer. Ngôi chùa Khmer thường có diện tích đất rộng (do thời xưa, đất rộng, người thưa), chùa luôn có các hạng mục như:

  1. Ngôi Chánh điện là nơi dành cho chư Tăng lễ bái Tam bảo, tụng kinh sáng chiều và hành Tăng sự như tụng Giới bổn (nửa tháng 01 lần), thọ giới Sa-di, Tỳ-kheo, xuất tu, lễ dâng Y Kathina,…
  2. Nhà Trai đường dành cho Phật tử bổn chùa đến nhân ngày Rằm, 30 hoặc các ngày thường để thỉnh chư Tăng tụng kinh cầu an, cầu siêu, đồng thời cũng là nơi thọ thực hằng ngày.
  3. Tăng xá là nơi ở của chư Tăng.
  4. Trường lớp nơi dạy và học chữ Khmer cho con em đồng bào dân tộc Khmer ở xung quanh chùa, dạy Kinh – Luật – Luận hoặc Pali giáo lý cho quý vị Sa-di, Tỳ-kheo.
  5. Nhà bếp.
  6. Sân để phục vụ văn hóa, văn nghệ dân gian do Phật tử trong bổn tự thành lập.
  7. Ngôi tháp để thờ xương cốt của các vị tiền bối hữu công.
  8. Xây cổng, làm lộ, trồng hoa cảnh, kiểng, ao hồ trồng sen,…
  9. Trồng cây cổ thụ như cây Bồ-đề, cây Sa-la (Song thọ), sao, dầu, thốt nốt,..

Do đó, ngôi chùa của người Khmer được xem như là trung tâm văn hóa tại địa phương, là nơi duy trì tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo và dân tộc.

Với những đặc thù riêng của chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer, trường lớp đóng một vai trò quan trọng trong suốt bao đời nay. Dù trong hoàn cảnh nào việc dạy và học luôn theo truyền thống; nghĩa là học để biết chữ Khmer, kinh kệ, luật giới mới chấp nhận cho đi tu, sau khi tu xong phải tiếp tục học. Thời xưa, người biết chữ dạy người chưa biết chữ, thầy đứng lớp dạy theo sự phân công của vị trụ trì chùa tên gọi là Dhmmachar dạy Kinh – Luật và Luận, Udesachar là thầy dạy Pali giáo lý vị này đòi hỏi phải khá giỏi tiếng Khmer và văn phạm ngữ pháp Pali tốt. Việc giảng dạy thời xưa không hề nghĩ đến tiền lương hay thù lao gì cả mà truyền đạt hiểu biết của mình để giúp đỡ nhau và mong muốn sau này các Tăng sinh cố gắng học tập tốt nhằm mục đích giữ gìn tiếng nói, chữ viết và am hiểu được giáo lý, giáo luật của Phật giáo là có phước, hữu ích cho cộng đồng là được. Song song đó, chư Tăng còn học và hành thêm Thiền học Vipasana, đây được gọi là học theo truyền thống.

Hiện nay, toàn cầu hóa đã trở thành xu hướng phát triển, mở rộng giao lưu như trong lời nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam đại diện cho Tăng, Ni, Phật tử trong nước và ngoài nước…”. Từ đó, Tăng, Ni, Phật tử Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trong đó có chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer cũng luôn chuyển mình theo đà phát triển, cần thiết phải tập trung trí tuệ, bàn bạc trong nội bộ dưới hệ thống của Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương, với mục tiêu đào tạo Tăng tài phục vụ lâu dài cho Giáo hội và chùa chiền. Qua đó, góp phần vào sự ổn định trật tự an toàn xã hội dưới mái ấm của ngôi nhà đại đoàn kết các dân tộc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Ngôi chùa của người Khmer được xem như là trung tâm văn hóa tại địa phương là nơi duy trì tiếng nói, chữ viết, phong tục tập quán, lễ nghi tôn giáo và dân tộc. (Chùa Vàm Ray, tỉnh Trà Vinh).
(Ảnh: Tea Ice)

Việc dạy và học của chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer đã được cải tiến suốt 30 năm qua. Từ năm 1990 có cải cách mang tính hài hòa nội điển và ngoại điển đưa tiếng Việt vào phần Sơ cấp Pali, Trung cấp Pali Khmer; tại Trà Vinh chư Tăng phụ trách giáo dục Phật giáo liên hệ với trường Bổ túc Văn hóa cấp II, cấp III tại địa phương nhằm giúp cho Tăng sinh vừa học được các môn Phật học tại chùa vừa có trình độ phổ thông của trường nhà nước. Năm 1992, cụ Maha Huỳnh Cương nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đề nghị với Đảng và Bộ Giáo dục giúp cho thành lập trường Bổ túc Văn hóa Pali Trung cấp Nam Bộ tại Sóc Trăng, vào mỗi năm trường tuyển được khoảng 50 vị Tăng sinh. Đến năm 2014, trường Bổ túc Văn hóa Pali-Khmer tỉnh Trà Vinh cũng tiếp nhận được 31 Tăng sinh. Vào năm 2006, Chính phủ và Ban Tôn giáo Chính phủ cho phép Trung ương GHPGVN thành lập Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ là Học viện thứ tư sau Học viện Phật giáo tại Hà Nội, Học viện Phật giáo tại TP. Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo tại Huế.

Học viện Phật giáo Nam tông Khmer khai giảng khóa I (2007-2011) tuyển sinh được 68 Tăng sinh các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long và sau đó số lượng Tăng sinh từ khóa II tiếp tục giảm dần, một số vị Tăng sinh được học các trường Phổ thông Dân tộc Nội trú của các tỉnh. Nhìn chung, nhờ cải tiến việc dạy và học từ truyền thống đã trở thành trường lớp có tổ chức, quản lý đào tạo tốt. Kết quả những vị Tăng sinh đều có trình độ học vấn rất khả quan, một số vị được thi đậu vào các trường Đại học, Cao đẳng,… Có vị thi đậu đi du học vào các trường Phật giáo ở các nước: Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Ấn Độ, Sri Lanka,… Một số đã hoàn tục làm cán bộ trong MTTQVN, Ban Tôn giáo, Ban Dân tộc, Công an, báo đài tiếng Khmer, giáo viên giảng dạy tiếng Việt, Khmer, Anh,.. và một số vị làm hướng dẫn viên du lịch. Đây là kết quả hết sức đáng mừng. Bên cạnh đó còn rất nhiều những khó khăn đối với chư Tăng và Tăng sinh Phật giáo Nam tông Khmer. Vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long có nhiều lợi thế về nông nghiệp, ngành công nghiệp và du lịch còn hạn chế, đồng bào dân tộc Khmer nghề chính là nông dân sản xuất nông nghiệp, thu nhập thấp cộng với sự biến đổi khí hậu, vùng xâm nhập mặn, thời tiết không ổn định, sản phẩm làm ra từ ngành nông nghiệp thì giá cả bấp bênh, cho nên đa số đời sống người dân còn khó khăn. Một số người có nghề nghiệp ổn định như: Buôn bán, cán bộ công nhân viên nhà nước, giáo viên,… Đời sống chỉ đạt mức trung bình-khá, chưa giàu nên cần được sự quan tâm nhiều hơn. Những nông dân nghèo vừa qua nhờ có sự quan tâm của Đảng, Nhà nước ban hành chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số về đất ở, đất sản xuất, xây dựng nhà đại đoàn kết,… Chủ trương về xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh sáng – xanh – sạch – đẹp, xây dựng đường, trường, trạm vùng đồng bào dân tộc Khmer có phần chuyển biến tích cực hơn. Việc làm tại chỗ của người dân còn hạn hẹp và do nhu cầu đời sống hiện nay rất cao, do đó, người dân Khmer phải rời nhà cửa, rời Phum Srok của mình đi làm thuê, làm mướn tại TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai,… Có người phải đi cả gia đình dù con cái trong độ tuổi ăn học, một số vị Tăng sinh đang tu học cũng phải hoàn tục để tiếp giúp cha mẹ. Các vị Tăng sinh đang theo học tại các trường không đủ khả năng về tài chính cũng phải xin nghỉ học, mặc dù nhà trường cố gắng vận động hỗ trợ nhưng chỉ được phần nào, còn khá đông không đủ khả năng để giải quyết.

Việc giảng dạy thời xưa không hề nghĩ đến tiền lương hay thù lao gì cả mà truyền đạt hiểu biết của mình để giúp đỡ nhau mong muốn sao các tăng sinh cố gắng học tập tốt nhằm mục đích giữ gìn tiếng nói, chữ viết và am hiểu được giáo lý, giáo luật của Phật giáo là có phước, hữu ích cho cộng đồng là được. Song song đó chư tăng còn học và hành thêm Thiền học Vipasana, đây được gọi là học theo truyền thống.

Về trình độ văn hóa bằng cấp tại các trường Phật học nói chung là chỉ sử dụng được trong nội bộ Phật giáo, cần thiết các vị Tăng sinh phải đăng ký học thêm tại các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Do đó, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer năm 2015 đã xin liên kết với trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, lớp Cử nhân chuyên ngành Tôn giáo học và đã được Ủy ban Nhân dân TP. Cần Thơ, Trung ương GHPGVN và Ban Tôn giáo Chính phủ chấp thuận cho phép và mở được một khóa, đã làm lễ Tốt nghiệp và trao bằng Cử nhân Tôn giáo học vào ngày 14/12/2019, nay tiếp tục xin mở tiếp cao học và cử nhân Tôn giáo học. Đây là giải pháp giúp nâng cao trình độ vừa Phật học và thế học cho Tăng sinh.

Những thuận lợi và khó khăn về việc dạy và học của chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer cùng với những giải pháp tức thời này, chúng tôi nghĩ rằng: Không thể giải quyết được đối với những việc quan trọng trong vấn đề đào tạo Tăng tài nhằm phục vụ cho công tác Phật sự chung tại các chùa Phật giáo Nam tông Khmer để góp phần trang nghiêm Giáo hội và xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc vững mạnh. Chúng tôi đại diện chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer xin kiến nghị như sau:

Một là, chư Tăng Phật giáo Nam tông Khmer vừa là dân tộc thiểu số, vừa là Tu sĩ Phật giáo hệ Nam truyền trong GHPGVN. Về đời sống kinh tế còn gặp khó khăn nên đề nghị quý cơ quan Trung ương và lãnh đạo tổ chức Hội thảo Khoa học giúp nghiên cứu, có cơ chế chính sách đặc thù như thế nào để hoạt động Phật sự chung của GHPGVN được viên mãn, nhất là giáo dục và đào tạo được cả Phật học lẫn thế học.

Hai là, đề nghị Mặt trận Tổ quốc, Ban Tôn giáo Chính phủ, Trung ương GHPGVN khảo sát thực tế đối với các trường Sơ, Trung cấp Phật học và Học viện Phật giáo Nam tông Khmer để có cơ sở, đường hướng giúp đỡ lâu dài trong công tác giáo dục và đào tạo.

Ba là, đề nghị Trung ương GHPGVN có ý kiến chỉ đạo mọi hoạt động Phật sự Phật giáo Nam tông Khmer tập trung vào một nơi ổn định cụ thể như các Phân ban Phật giáo trực thuộc các Ban, Viện Trung ương GHPGVN để các Phân ban hoạt động có hiệu quả.

Năm 2006, Chính phủ và Ban Tôn giáo Chính phủ cho phép Trung ương GHPGVN thành lập Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ là học viện thứ tư sau Học viện Phật giáo tại Hà Nội, Học viện Phật giáo tại TP. Hồ Chí Minh và Học viện Phật giáo tại Huế. (Ảnh: sưu tầm)

Bốn là về tinh thần xây dựng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc: Vừa qua đã được MTTQVN cùng quý cơ quan, ban, ngành Trung ương và địa phương các tỉnh thành thực hiện tốt bằng cách mở các lớp bồi dưỡng kiến thức pháp luật về an ninh – quốc phòng dành cho các vị chức sắc, chức việc các tôn giáo và dân tộc. Hằng năm, Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ luôn phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự TP. Cần Thơ mở lớp bồi dưỡng về chính sách pháp luật an ninh – quốc phòng cho các vị Tăng sinh Học viện và những người có uy tín trong đồng bào dân tộc. Đồng thời, mong muốn MTTQ từ Trung ương đến địa phương giúp đỡ, quan tâm nhiều hơn nữa về vận động khối đại đoàn kết bằng sự gần gũi tìm hiểu về tâm tư, nguyện vọng của các vị để có biện pháp vận động tháo gỡ những khó khăn vướng mắc, thúc đẩy những cơ quan thẩm quyền giải quyết nhu cầu chính đáng của chư Tăng Phật giáo nói chung và Phật giáo Nam tông Khmer nói riêng.

Năm là, giúp đỡ về mọi mặt cho Học viện Phật giáo Nam tông Khmer được phép tổ chức mở lớp bồi dưỡng trụ trì ngắn ngày và có sự tham dự, chỉ đạo của quý cơ quan Trung ương và Trung ương GHPGVN.

(HT. Đào Như)

 

Chú thích và tài liệu tham khảo:

* Hòa thượng Đào Như, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Viện trưởng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer, Trưởng Ban Trị sự GHPGVN TP. Cần Thơ.

Thực trạng công tác đào tạo, giáo dục chư Tăng của Phật giáo Nam tông Khmer hiện nay: Những kết quả, hạn chế và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục chư Tăng của Phật giáo Nam tông Khmer góp phần trang nghiêm Giáo hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh (HT. Đào Như)

Trả lời