Giá trị văn hóa – lịch sử chùa Cảnh Phước (TS. Trần Văn Dũng)


Cố đô Huế nổi tiếng bởi không chỉ sở hữu những danh lam thắng cảnh đẹp tuyệt vời mà còn lưu giữ nhiều di tích lịch sử, văn hóa nghệ thuật mang nhiều giá trị độc đáo. Trong đó không thể không nhắc đến chùa Cảnh Phước – một trong những ngôi chùa cổ ở xứ Huế. Nằm cách xa trung tâm TP. Huế khoảng 40km về phía Nam, chùa Cảnh Phước tọa lạc tại làng Cao Đôi (thuộc thị trấn Phú Lộc, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế) đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2016. Từ bao đời nay, chùa Cảnh Phước là nơi dân làng thành tâm lễ Phật vào những ngày lễ, Tết và cũng là chốn vãn cảnh của du khách thập phương.

1. VÀI NÉT VỀ QUÁ TRÌNH TỤ CƯ, KHAI THIẾT XÃ HIỆU 

Làng Cao Đôi là một trong những ngôi làng còn bảo tồn được khá nhiều yếu tố gốc của một làng Việt cổ truyền vùng duyên hải miền Trung, được thành lập sớm ở xứ Thuận Hoá. Quá trình tụ cư lập nghiệp của cư dân nơi đây gắn liền với quá trình di dân mở cõi về phía Nam của lưu dân Việt. Theo ghi chép của Quốc Sử Quán triều Nguyễn, thời Bắc thuộc, từ năm 179 trước Công nguyên đến thế kỷ thứ II, Thừa Thiên Huế là vùng đất thuộc quận Nhật Nam [1]. Năm 192, Khu Liên cùng nhân dân Champa nổi dậy đánh đuổi quân Hán ra khỏi quận Nhật Nam, giành nền độc lập, từ đó quận Nhật Nam trở thành lãnh thổ nước Lâm Ấp. Khoảng từ thế kỷ IV, Thừa Thiên Huế nằm trong địa bàn phía Bắc của vương quốc này, về sau được gọi là châu Lý. Năm 1306, vua Champa là Chế Mân đem hai châu Ô và Lý làm sính lễ cưới Huyền Trân Công chúa nhà Trần. Từ đấy, hai châu Ô và Lý thuộc Đại Việt, được vua Trần đổi tên thành Thuận Châu, Hóa Châu năm 1307. Từ đây, Thừa Thiên Huế thuộc vùng đất Hóa Châu. Thời nhà Minh cai trị đầu thế kỷ XV, Hóa Châu thuộc phủ Thuận Hóa, được chia thành 07 huyện: Lợi Bồng, Sạ Lệnh, Tư Dung, Bồ Đài, Bồ Lãng, Sĩ Vang, Trà Kệ [2]. Từ thế kỷ XIV-XVI, ngoài cư dân Champa còn có thêm sự hiện diện cộng đồng cư dân Việt. Những người đến đây lập nghiệp đã lao động hăng say, khai hoang vỡ đất, dần dần thành lập nhiều làng xã trù phú. Có thể nói, Cao Đôi đã thiết lập xã hiệu trong bối cảnh lịch sử này. Trong sách Ô Châu cận lục do Dương Văn An viết năm 1553, Cao Đôi có tên trong 69 xã của huyện Tư Vinh, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa [3], với nghề tơ lụa truyền thống nổi tiếng: “Dâu Cao Đôi buông rủ cành xanh, đầy hòm tuyết trắng” [4]. Như vậy, danh xưng Cao Đôi xuất hiện với tư cách của một đơn vị hành chính là vào khoảng đầu thế kỷ XVI.

Hoành phi chùa Cảnh Phước. (Ảnh: Tác giả)

Đến năm 1558, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng (1525-1613) vào trấn thủ Thuận Hóa, mở ra một thời kỳ mới đối với vùng đất này. Trong Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư do Đỗ Bá Công Đạo vẽ vào năm 1686 có nhắc đến làng Cao Đôi như sau: “Trọ ở quán Cao Đôi, ăn thì ở Tứ Chính…, ăn thì ở núi Hải Vân. Trọ thì ở Chân Đẳng, ăn thì ở chợ Hàn Quảng. Trọ thì ở Từ Cú, ăn thì ở kho Hội An. Trọ thì ở quán Thì Lại. Lại có một con đường thượng đạo, vốn bị cấm không cho đi. Trọ thì ở Cao Đôi, ăn thì ở Cây Mít” [5]. Như vậy, vào thế kỷ XVII, làng Cao Đôi có nhiều quán trọ dành cho khách bộ hành nghỉ chân.

Bảng công đức tại chùa Cảnh Phước. (Ảnh: Tác giả)

Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết năm 1776, xứ Thuận Hóa vào thời kỳ này gồm hai phủ, tám huyện, một châu và 882 thôn, phường, giáp; trong đó làng Cao Đôi thuộc tổng Dã Lê (có 11 xã, 03 thôn, 09 phường, 01 sách), huyện Phú Vang [6]. Vào giữa thế kỷ XVII, thời chúa Nguyễn Phúc Tần, do dân số ngày càng đông nên làng Cao Đôi chia tách thành 03 làng, gồm: Cao Đôi xã, Cao Đôi sách và Cao Đôi ấp. Trong đó, Cao Đôi xã là làng chính, Cao Đôi sách là làng nằm ven chân núi Bạch Mã, Cao Đôi ấp là ngôi làng nhỏ nằm dọc theo khu vực sông Cầu Hai [7]. Đây là một hiện tượng tách lập làng mới trên cơ sở làng cũ có từ trước diễn ra khá phổ biến dưới thời chúa Nguyễn (1558-1775).

Đến thời các vua đầu triều Nguyễn, làng Cao Đôi vẫn thuộc thuộc tổng Dã Lê, huyện Phú Vang. Địa giới của làng được ghi chép cụ thể như sau: “Xã Cao Đôi, Đông giáp các phường Cao Đôi, Trung An, La Chử Trung Hiền, Quảng Bình, thôn Mậu Tài, sách Cao Đôi, núi, khe suối; Tây giáp các phường Trung An, Võng Trì, Cao Đôi, Phụ Ổ Tiên Nộn, La Chử Trung Hiền, Quảng Bình, An Mỹ, các thôn Đông Kiều, Mậu Tài, xã Gia Cốc, núi; Nam giáp các phường Cao Đôi, Phụ Ổ Tiên Nộn, La Chử Trung Hiền, Quảng Bình, Trung Anh thôn Mậu Tài, xã Gia Cốc, núi; Bắc giáp Võng Trì, Cao Đôi, Trung An, Phụ Ổ Tiên Nộn, Quảng Bình, An Mĩ, các thôn Đông Kiều, Mậu Tài, khe suối” [8]. Sau này, làng Cao Đôi thuộc tổng Lương Điền, huyện Phú Lộc. Sách Đồng Khánh dư địa chí (1885-1888) cho biết, “tổng Lương Điền gồm 31 xã, thôn, ấp, giáp, sách: Giáp Thượng xã Lương Điền, Giáp Đông xã Lương Điền, xã Sư Lỗ Đông, xã Vĩ Dạ Hạ, ấp Quý Lộc La Chử, ấp Đồng Dân, ấp Tiên Nộn Phụ Ổ, ấp Thái Bình Dã Lê, ấp Mỹ An Vi Dã, ấp La Chử Hạ, ấp Khuê Chử, ấp Hoàn Lương, ấp Cao Đôi, ấp Hòa Bình, thôn Thiện Loại, ấp Mỹ Thành, ấp Tế Xuân, thôn Đông Kiều, sách Cao Đôi, xã Gia Cốc, ấp Lương Năng, ấp Phú Sủng, ấp Trung An, ấp Võng Trì, thôn Mậu Lâm, ấp Lương Tri, ấp Bạch Thạch, xã Cao Đôi, ấp Trúc Đăng, ấp An Mỹ, ấp Lương Sơn” [9]. Đến tháng 5/1958, chính quyền Sài Gòn ban hành Nghị định số 214HV/P6/NĐ chia nhỏ đơn vị hành chính huyện, xã; trong đó huyện Phú Lộc chia thành 03 quận: Phú Lộc, Nam Lộc và Vinh Hòa. Quận Phú Lộc gồm các xã khu I, II: Lộc An, Lộc Bổn, Lộc Điền, Lộc Hải, Lộc Sơn, Lộc Thủy, Lộc Trì, Lộc Tụ, quận lỵ đóng ở Cầu Hai. Trong đó, làng Cao Đôi thuộc xã Lộc Trì quản lý.

Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975), đến tháng 3/1977, Chính phủ quyết định nhập 03 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế thành tỉnh Bình Trị Thiên, thì Phú Lộc là một huyện thuộc tỉnh Bình Trị Thiên gồm: 23 xã, một thị trấn, trong đó làng Cao Đôi thuộc thị trấn Cầu Hai, huyện Phú Lộc. Đến tháng 10/1990, sau khi chia tỉnh Bình Trị Thiên thành 03 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế, huyện Phú Lộc được tách thành 02 huyện Phú Lộc và Nam Đông. Huyện Phú Lộc có 17 xã, một thị trấn: Thị trấn Phú Lộc và các xã Lộc Bổn, Lộc Sơn, Lộc Bổn, Lộc An, Lộc Bình, Lộc Vĩnh, Lộc Thủy, Lộc Tiến, Lộc Hải, Lộc Trì…. Lúc này, địa phận làng Cao Đôi thuộc thị trấn Phú Lộc và một phần của xã Lộc Trì cho đến ngày nay.

Cùng với quá trình tụ cư lập làng, hệ thống thiết chế văn hóa ở làng Cao Đôi nhanh chóng được quan tâm xây dựng, trở thành những điểm quy ngưỡng tâm linh của đại bộ phận người dân nơi đây. Chùa làng là một phần ký ức của những lưu dân Việt được mang theo trong suốt hành trình mở đất về phương Nam.

2. CHÙA CẢNH PHƯỚC – CHỐN QUY HƯỚNG TÂM LINH CỦA CỘNG ĐỒNG 

Trong hệ thống thiết chế văn hóa ở các làng xã vùng Huế, chùa làng là một thực thể kiến trúc có vai trò rất quan trọng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng chốn hương thôn. Chúng ta không có nhiều tư liệu để xác định chắc chắn thời điểm tạo lập chùa làng Cảnh Phước. Nhưng có thể khẳng định một điều chắc chắn rằng, thời điểm chùa xuất hiện, tổ chức làng Cao Đôi lúc đó đã có một sự ổn định nhất định về mặt cơ cấu tổ chức.

Chánh điện chùa Cảnh Phước. (Ảnh: Tác giả)

Người Việt luôn quan niệm “Đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt”. Vì vậy, vị trí xây dựng chùa Cảnh Phước luôn được cộng đồng làng Cao Đôi ưu tiên lựa chọn nơi có thế đất tốt. Vì người xưa tin rằng sự yên ổn của chùa có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân trong làng. Ngày trước, đình làng Cao Đôi là nơi hội họp, gặp gỡ bàn luận những công việc trọng đại trong làng và chỉ dành cho nam giới, còn chùa Cảnh Phước là nơi luôn mở rộng cửa đón nhận tất cả mọi người. Đối với mỗi người dân Cao Đôi, chùa Cảnh Phước là trung tâm chiêm bái, ngưỡng vọng, nơi gắn kết tất cả mọi thành viên chung tay xây dựng quê hương ấm no, thuận hòa. Chùa được xây dựng theo lối kiến trúc nhà rường gỗ, kiểu ba gian hai chái, mái lợp ngói liệt. Sau này, chùa được trùng tu, tôn tạo lại nhiều lần nhưng vẫn giữ nét kiến trúc truyền thống.

Chánh điện chùa Cảnh Phước được thiết trí gồm có 03 tầng: Tầng cao nhất thờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngồi tọa thiền trên đài sen ở giữa, hai ngài Quan Thế Âm Bồ tát và Địa Tạng Vương Bồ tát đứng ở hai bên; tầng giữa thờ pho tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và 02 vị Hộ pháp bằng gỗ xưa được chạm khắc tinh xảo; tầng dưới cùng thờ tượng Ngọc Hoàng Thượng đế ở giữa, Nam Tào và Bắc Đẩu ở hai bên cũng chế tác bằng gỗ. Hai bên tả hữu chánh điện có thiết trí hai bàn thờ: Bên tả thờ Quan Công, đứng hầu hai bên là Quan Bình và Châu Thương, các tượng thờ này được tạc bằng gỗ quý, đặt trong khám thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng; bên hữu là bàn thờ các vị khai khẩn, khai canh của làng Cao Đôi, với năm bài vị cũng được đặt trong khám thờ sơn son thếp vàng. Năm bài vị khai khẩn, khai canh được thiết trí và có nội dung như sau: Ở giữa, Phụng thỉnh tiền khai khẩn Võ Đại lang húy Công Hảo tước phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần; phía hữu 01, Phụng thỉnh khai canh Võ Phước húy Dũ quý công chi thần vị; phía hữu 02, Phụng thỉnh khai canh Võ Tôn húy Giai quý công chi thần vị; phía tả 01, Phụng thỉnh khai canh Võ Chiêm húy Tinh quý công chi thần vị; phía tả 02, Phụng thỉnh khai canh Võ Công húy Thích quý công chi thần vị [10].

Phía trên liên ba gian chánh điện chùa Cảnh Phước có treo ba bức hoành phi bằng gỗ sơn son thếp vàng, đường viền xung quanh chạm khắc biểu tượng “lưỡng long triều dương” (hai con rồng chầu mặt trời), mây dây lá cách điệu. Bức hoành phi treo chính giữa chánh điện chùa chạm nổi 05 chữ: Sắc tứ Cảnh Phước Tự – 敕 賜 境 福 寺; lạc khoản: Bảo Đại thập tứ niên thập nhị nguyệt nhị thập nhật – 保 大 十 四 年 十 二 月 二 十 日, Lễ Công bộ đại quan Tôn Thất cung lục – 禮 工 部 大 臣 尊 室 恭 錄 (Ngày 20/12 niên hiệu Bảo Đại năm thứ 14 [1939], đại quan Tôn Thất bộ Lễ kính viết).

Bên phải treo bức hoành phi đề chữ: “Di đa phước – 貽 多 福” (Để lại nhiều phước đức); lạc khoản: Duy Tân Giáp Dần đông – 維 新 甲 寅 冬, Võ Phước tộc phụng cúng – 武 福 族 奉 供 (mùa Đông năm Giáp Dần niên hiệu Duy Tân [1914], Võ Phước tộc phụng cúng). Bên trái treo bức hoành phi đề chữ: “An thả mỹ – 安 且 美” (Yên ổn và đẹp đẽ); lạc khoản: “Khải Định Kỷ Mùi đông – 啓 定 己 未 冬, Võ Văn Tộc phụng cúng – 武 文 族 奉 供” (mùa Đông năm Kỷ Mùi niên hiệu Khải Định [1919], Võ Văn Tộc phụng cúng). Ngoài ra, trên các hàng cột còn trang trí các câu đối bằng chữ Hán:

1. Nguyên văn:

景 福 片 覃 云 者 青 者 黄 非 闹 地        

高 堆 萬 寳 授 而 根 而 葉 是 恩 天          

Phiên âm: 

Cảnh Phước phiến đàm vân, giả thanh giả hoàng phi náo địa;

Cao Đôi vạn bảo thọ, nhi căn nhi diệp thị ân thiên.

Tạm dịch:

Cảnh Phước muôn ngàn đám mây lành nào xanh nào vàng đều không phải cảnh ồn náo;

Cao Đôi nào cành ngọn nào gốc rễ đều là một bầu trời âm đức.

Dòng lạc khoản:

“Duy Tân tam niên tạo – 維新三年造; Đại sư hiệu Phước Phong [11] phụng cúng – 大 師 號 福 豐 奉 供” (chế tạo vào niên hiệu Duy Tân năm thứ 03 [1909]; Đại sư hiệu Phước Phong phụng cúng).

Am thờ
Thiên Y A Na Thánh Mẫu.
(Ảnh: Tác giả)

2. Nguyên văn:

境 悟 慧 根 色 是 空 空 是 色

福 圓 妙 菓 心 即 怫 佛 即 心

Phiên âm: 

Cảnh ngộ huệ căn, sắc thị không, không thị sắc;

Phước viên diệu quả, tâm tức Phật, Phật tức tâm.

Tạm dịch:

Cảm nhận được bằng huệ căn, thì sắc tức là không, không tức là sắc;

Phước tâm không động thì tâm tức là Phật, Phật tức là tâm.

Từ hàng cột nhất gian giữa phía trong chánh điện trở về sau chùa được thiết kế một vách ngăn bằng gỗ tạo thành hậu điện và trổ hai lối ra vào chánh điện với phía sau. Gian giữa hậu điện thiết trí án thờ tượng Đạt Ma Sư Tổ, hai bên là án thờ phụng những người đã quá cố. Phía trên gian giữa treo một bức hoành phi bằng gỗ, sơn son thếp vàng, đề chữ: “Hữu lợi tai – 哉 利 有” (Có lợi thay); lạc khoản: “Khải Định Mậu Ngọ hạ, Võ Đức tộc phụng cúng – 啓 定 戊 午 夏, 武 德 族 奉  供” (mùa Hạ năm Mậu Ngọ niên hiệu Khải Định, họ Võ Đức phụng cúng).

Chùa Cảnh Phước hiện đang còn gìn giữ một đại hồng chung bằng đồng quý. Hiện nay, các Phật tử vẫn sử dụng chuông này trong pháp sự của chùa. Chuông dáng thon dài, miệng loe, quai chuông tạo hình con bồ lao hai đầu với bốn chân bám vào đỉnh chuông, mặt ngoảnh về hai hướng, miệng ngậm ngọc. Xung quanh thân chuông đúc nổi các đường gờ chia thân chuông thành 4 ô trên hình chữ nhật đứng và 4 ô dưới hình chữ nhật ngang. Mỗi ô chữ nhật thân trên đúc nổi hoa văn gập thước thợ ở 4 góc. Chính giữa 4 ô trên này đúc nổi 4 chữ Hán: “Cảnh Phước tự chung – 境 福 寺 鐘. Văn chuông chùa viết: “Giáp Tuất niên tam nguyệt cát nhật tạo – 甲戌年叁月吉日造” (Chú tạo vào ngày tốt tháng 3 năm Giáp Tuất [1934]); “Sắc tứ Vạn Phúc tự tôn chứng hiệu Giác Hạnh A xà lê sư chứng minh – 敕 賜 萬 福 寺 尊 證 號 覺 荇 阿 闍 棃 師 證 明”; “Cao Đôi xã Cảnh Phước tự Công Thiện phổ Hội chủ Võ Hữu Sung pháp danh Nguyên Mãn tự Tâm Chơn đồng bổn phổ tịnh thiện nam tín nữ đẳng phụng cúng đại hồng chung nhất quả – 高 堆 社 境 福 寺 公 善 譜 會 主 武 有 充 法 名 源 滿 序 心 真 仝 本 譜 並 善 男 信 女 等 奉 供 大 洪 鐘 壹 菓”; “Trọng bát thập bát cân – 重 捌 十 捌” (Trọng lượng 88 cân). Qua nội dung văn chuông cho thấy, Hội chủ Võ Hữu Sung cùng thiện nam, tín nữ đúc chuông đồng trọng lượng 88 cân (khoảng 53kg) cung tiến vào chùa Cảnh Phước vào tháng 3 năm Giáp Tuất (1934), dưới sự chứng minh của Hòa thượng Thích Giác Hạnh (1880-1981), trú trì chùa Sắc tứ Vạn Phước [12].

Việc đúc chuông đồng chùa Cảnh Phước cũng đã được ngài Võ Hữu Sung ghi chép một cách rõ ràng trên bảng công đức bằng gỗ (hiện còn treo ở hậu điện chùa) vào ngày mồng 2 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 09 (1934). Chúng tôi xin trích dẫn nguyên văn nội dung bản dịch lưu tại chùa Cảnh Phước như sau:

“Phía Bắc là núi cao trùng điệp, phía Nam là Đào Thành, ở đó, xã này đã kiến tạo một ngôi chùa Phật, có hiệu là chùa Cảnh Phước, đã nhiều năm rồi. Đêm đến thì trăng soi cảnh Phật; ngày về thì mặt trời ánh lên ráng màu rực rỡ, tưởng chừng bảo lạc trang nghiêm. Cảnh vật lung linh, phảng phất cảnh giới châu ngọc. Nơi đây có một đại hồng chung chưa kịp đúc tạo. Vào tháng sáu năm Quý Dậu. Tôi, kẻ hèn mọn Võ Hữu Sung và Nguyễn Chút cùng các thiện nam tín nữ tâm thành tự nguyện, mỗi người bớt ra ít nhiều tiền của nhà mình, thỉnh hồng chung này phụng cúng vào Chùa. Qua mùa Hạ năm Giáp Tuất, từ ngày 24 đến 26 tháng 5, cung kính cử hành lễ khai chuông, tụng kinh, thí thực… Lòng thành đốt nén tâm hương, nguyện cầu cho tất cả đều được thập phần viên mãn. Kính nguyện âm vận hồng chung sẽ cùng trống pháp luôn vang vọng đến tận đất trời. Hễ ai được nghe, đều không nén được lòng mình, bất chợt rủ bỏ tục lụy, phát khởi tâm Bồ đề. Mới biết, hồng chung chính là pháp khí lớn để cảnh tỉnh cho mọi người.

Tịnh tài cúng dường có được, dù ít hay nhiều, cho khắc vào bảng để biểu thị lòng thành của mỗi người. Nay xin được ghi chép ra đây:

– Xã này phụng cúng mười đồng.

– Quan Tri huyện của Huyện này là Hồ Ngận phụng cúng năm đồng.

– Kiểm thảo Võ Hữu Quang phụng cúng năm đồng.

– Kiểm thảo Võ Thành Tể phụng cúng năm đồng.

– Hồng Lô Tôn Thất Bằng phụng cúng năm đồng.

– Trần Duy Chỉ phụng cúng năm đồng.

– Nguyễn Xuân Điền phung cúng năm đồng.

– Lê Thị Vượng phụng cúng năm đồng.

– Hoàng Như Ký phụng cúng năm đồng.

– Lê Thị Đinh phụng cúng năm đồng.

– Ngô Nguyên Phù phụng cúng năm đồng.

– Phạm Thị Nậy phụng cúng năm đồng.

– Tùng lục Tôn Thất Vũ phụng cúng ba đồng.

– Trợ giáo Nguyễn Hữu Kỳ phụng cúng hai đồng, năm hào.

– Trợ giáo Tôn Thất Đôi phụng cúng hai đồng, năm hào.

– Thừa phái Chu Văn Liệu phụng cúng hai đồng.

– Võ Thị Hoành phụng cúng hai đồng.

– Võ Đức Hòe phụng cúng hai đồng .

– Gia Hưng Hiệu phụng cúng hai đồng.

– Võ Đức Sắc phụng cúng một đồng, năm hào.

– Đãi chiếu Võ Điềm phụng cúng một đồng.

– Nguyễn Tuyển phụng cúng một đồng.

– Võ Phước Tể phụng cúng một đồng.

– Đãi chiếu Hoàng Như Sơ phụng cúng một đồng.

– Ấm sanh Nguyễn Hữu Tăng phụng cúng một đồng.

– Võ Khiêm phụng cúng một đồng.

– Nguyễn Cửu Lai phụng cúng một đồng.

– Hoàng Thị Chiểu phụng cúng một đồng.

– Nguyễn Cửu Thị Thừa phụng cúng một đồng.

– Phạm Uyên phụng cùng một đồng.

– Võ Lư phụng cúng năm hào.

– Võ Phương phụng cúng năm hào.

– Nguyễn Thị Ốc phụng cúng năm hào.

– Trần Thị Xuân phụng cúng năm hào.

– Trần Thị Chí phụng cúng năm hào.

–  Phan Thị Sương phụng cúng ba hào.

– Lê Huyền phụng cúng ba hào.

– Võ Bổng phụng cúng một quan tiền.

Ngày mồng 2 tháng 10 năm Bảo Đại thứ 09

Võ Hữu Sung pháp danh Nguyên Mãn tự Tâm Chơn ghi lại” [13].

Trong khuôn viên chùa Cảnh Phước, dân làng còn xây dựng một am thờ Thiên Y A Na Thánh Mẫu. Bà được vua nhà Nguyễn ban sắc phong làm Thượng đẳng thần. Từ lâu, Thiên Y A Na đã trở thành một vị thần chủ chiếm vai trò quan trọng trong đời sống tín ngưỡng dân gian làng xã vùng Huế nói chung và làng Cao Đôi nói riêng. Người dân luôn tôn kính Bà như một người Mẹ, một vị phúc thần luôn che chở, truyền dạy nghề và mang lại cho họ cuộc sống ấm no, an bình và hạnh phúc. Hàng năm cứ mỗi độ vào dịp xuân tế (tháng 3 Âm lịch) và thu tế (tháng 7 Âm lịch) thì người dân tổ chức cúng tế Thiên Y A Na Thánh Mẫu.

Chuông đồng chùa Cảnh Phước. (Ảnh: Tác giả)

Chùa Cảnh Phước là một công trình kiến trúc độc đáo, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, đồng thời chùa được xây dựng, trùng tu bảo quản qua hàng trăm năm lịch sử nhờ vào ý thức của dân làng Cao Đôi nên nó lưu giữ những giá trị tiêu biểu của chùa làng xứ Huế. Bên cạnh giá trị nổi bật về mặt lịch sử, chùa Cảnh Phước còn hàm chứa giá trị về mặt văn hóa nghệ thuật, chủ yếu trên lĩnh vực kiến trúc gỗ truyền thống, di tích mang phong cách nhà rường truyền thống Huế với kết cấu ba gian hai chái. Các đồ án trang trí theo lối nghệ thuật thời Nguyễn thế kỷ XIX, gắn liền với các ngành nghề thủ công truyền thống địa phương như: Chạm khắc gỗ, khảm sành sứ, nghề đắp nổi… Hệ thống tuồng mộc ở chùa được bố trí với kết cấu chuẩn mực, hài hòa với hệ thống tuồng nề, chứng minh bàn tay người thợ tinh xảo của thế kỷ trước. Các họa tiết trang trí, chạm khắc ở hai đầu trên, kèo, hoa văn đắp nổi ở bờ quyết, đạt đến sự tinh xảo và mang tính thẩm mỹ cao.

Từ khi khởi dựng cho đến nay, chùa Cảnh Phước luôn đóng vai trò quan trọng đối với đời sống văn hóa, sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân làng Cao Đôi nói riêng và huyện Phú Lộc nói chung. Mái chùa Cảnh Phước cùng với tiếng chuông sớm chiều ngân vang trong không gian làng quê yên bình, dường như rót vào lòng người sự thanh thản, cảm giác được che chở yên bình, giúp họ vững tâm hơn để đối diện với muôn vàn khó khăn, thử thách của cuộc sống trần tục; đồng thời đó là cách thức để cho những con người ở đây cố kết cộng đồng và cũng là nơi cho người dân làng Cao Đôi đi làm ăn xa tụ họp mỗi dịp trở về thăm quê hương.

 

 

Chú thích và tài liệu tham khảo:

*Tiến sĩ Trần Văn Dũng, Phòng Quản lý Di sản văn hóa, Sở Văn hóa và Thể thao Thừa Thiên Huế.

[1] Quốc Sử Quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, Tập 1, Bản dịch Hoàng Văn Lâu, Nxb. Lao động, 2012, tr.443.

[2] Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, Trần Đại Vinh dịch, bổ chính, Nxb. Đà Nẵng, 2015, tr.21.

[3] Dương Văn An, Ô châu cận lục, Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu đính, dịch chú, Nxb. Thuận Hóa, 2001, tr.64.

[4] Dương Văn An, Ô châu cận lục, Sđd, 2001, tr.64.

[5] Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư và Giáp Ngọ niên bình Nam đồ, Chuyên đề sử liệu Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 109, 2014, Sở Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên Huế, tr.41.

[6] Lê Quý Đôn, Phủ Biên tạp lục, Sđd, 2015, tr.60.

[7] Cũng trong thời kỳ này, do kiêng tên húy của vợ chúa Nguyễn Phúc Tần là bà Tống Thị Đôi nên làng Cao Đôi được đổi tên thành làng Cao Hai, theo nghĩa thuần Việt thì Đôi cũng là Hai. Địa danh Cầu Hai là trong thời kỳ Pháp thuộc, khi lập bản đồ, phiên âm chữ Quốc ngữ bị ghi nhầm Cao Hai thành Cầu Hai và từ đó đến nay Cầu Hai là tên gọi phổ biến được người dân địa phương hay dùng, mỗi khi nhắc đến vùng đất này.

[8] Trung tâm lưu trữ Quốc gia I, Địa danh làng xã Việt Nam qua tài liệu địa bạ triều Nguyễn, Tập II, Bắc Trung bộ (từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên), Nxb. Hà Nội, 2020, tr.537.

[9] Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin (Chủ biên), Đồng Khánh địa dư chí, Tập 2, Nxb. Thế Giới, 2003, tr.1423-1424.

[10] Qua đây cho thấy, ngài Võ Công Hảo là người đến sớm nhất canh phá đất đai và có công lao lớn nhất trong việc mở đất lập làng Cao Đôi nên được dân làng đồng thuận tôn vinh làm tiền khai khẩn và được triều đình nhà Nguyễn ân ban sắc phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò chi thần; còn các ngài Võ Phước Dũ, Võ Tôn Giai, Võ Chiêm Tinh, Võ Công Thích là những người đến sau nên được dân làng tôn vinh làm khai canh. Như vậy, đối với làng Cao Đôi, vị khai khẩn có danh phận lớn hơn vị khai canh.

[11] Đại sư Phước Phong có tên húy là Võ Phước Lễ, phái ba họ Võ Phước làng Cao Đôi.

[12] Chùa Vạn Phước tọa lạc tại ấp Bình An, phường Trường An, thành phố Huế.

[13] Theo bản dịch lưu tại chùa Cảnh Phước.

Giá trị văn hóa – lịch sử chùa Cảnh Phước (TS. Trần Văn Dũng)

Trả lời