Tác phẩm “Thuốc” của Lỗ Tấn qua lăng kính đạo đức học Phật giáo (SC. Thích Nữ Huệ Quang)


Sức khỏe và trí tuệ là hai điều kiện quan trọng tạo nên hạnh phúc cho con người. Sức khỏe thuộc về thân vật chất. Trí tuệ thuộc về lĩnh vực tinh thần. Khi thân bệnh, chỉ cần đến bệnh viện, nghe lời bác sĩ khám bệnh, uống thuốc theo đơn thì căn bệnh có thể sẽ thuyên giảm và hồi phục. Nhưng khó chữa hơn cả là tâm bệnh, một khi tinh thần đã bị tiêm nhiễm bởi các loại kiến chấp, thói quen, tập tục lầm lạc thì thuốc thang ngàn phương cũng không thể trị khỏi. Vì phương thuốc ấy ở chính người bệnh, khi họ xoay chuyển nhận thức, biết vượt qua chính mình, vượt qua tập quán thấy biết  của mình, dũng cảm vượt lên tâm lý thấy biết của số đông như bông hoa sen sinh ra và sống trong bùn nhưng nó không để bùn tanh thấm nhiễm, nó dám vươn mình lên khỏi mặt nước trở, thành đóa hoa quân tử được người đời yêu mến.

Để có được chánh kiến, chánh tư duy chúng ta phải siêng học hỏi, trau dồi kinh kệ, học để hiểu lời Phật dạy mà hành trì để tự mình giác ngộ, thực chứng lời dạy trong kinh để có an lạc, hạnh phúc cho bản thân, và sau nữa là hướng dẫn mọi người đi đúng trên con đường tu tập để cùng được lợi ích.

Ngược dòng lịch sử Trung Quốc hơn một thế kỷ trước, đây là thời điểm diễn ra cuộc vận động Ngũ Tứ. Và cũng là thời điểm mà các phong trào đấu tranh chống phong kiến, đế quốc của học sinh, sinh viên tại Bắc Kinh bùng nổ. Nhà văn Lỗ Tấn đã cho ra đời truyện ngắn Thuốc năm 1919. Câu chuyện kể về những người dân sống trong một vùng quê u ám, tù đọng, lạc hậu, ít học thức, sống theo những quan niệm, tập quán sai lầm đưa đến hậu quả khổ đau và bất hạnh qua cái chết của hai cậu thanh niên trẻ tuổi. Một người là Hạ Du – anh lính cách mạng tràn đầy nhiệt huyết nhưng bị mọi người cho là thằng điên, thằng phản nghịch và người còn lại là Thuyên, là đứa con trai của vợ chồng chủ quán trà bị bệnh lao rất nặng, được chữa bệnh bằng phương thuốc rất kinh dị “chiếc bánh bao tẩm máu người”. Qua lăng kính của đạo đức học Phật giáo, hậu quả của sự vô minh, không có chánh kiến, chánh tư duy đưa đến khổ đau, bất hạnh qua tác phẩm Thuốc được phản ánh một cách rõ nét với những hình ảnh nổi là bật chiếc bánh bao được tẩm bằng máu của người chiến sĩ cách mạng Hạ Du, con đường mòn chia đôi khu nghĩa địa. Nó khiến đọc giả phải lắng lòng suy tư và biết chọn cho mình một lối sống, một cách nhận thức, suy nghĩ, hành động đúng đắn để có được hạnh phúc trong cuộc đời.

CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA NHÀ VĂN LỖ TẤN 

Thân thế tác giả:

Lỗ Tấn tên thật là Chu Chương Thọ (1881-1936), sinh ra trong một gia đình quan lại đã sa sút tại tại huyện Thiệu Hưng, tỉnh Chiết Giang. Cha ông là Chu Bá Nghi (1861-1896) đỗ Tú tài nhưng không được ra làm quan, bị bệnh nặng không có thuốc chữa nên mất năm Lỗ Tấn 13 tuổi. Mẹ của ông là Lỗ Thụy (1858-1943). Khả năng văn chương của Lỗ Tấn được hun đúc từ rất sớm qua nhiều câu chuyện cổ dân gian được mẹ ông kể.

Bút danh Lỗ Tấn là ghép từ họ của mẹ và chữ Tấn trong tấn hành, nghĩa là đi nhanh lên. Do lúc nhỏ Lỗ Tấn thường đi học muộn, bị thầy giáo phê bình và ông đã cầm dao khắc hai chữ tấn hành lên bàn học để tự nhắc nhở mình cần nhanh hơn. Trước khi trở thành nhà văn, Lỗ Tấn đã học và làm qua nhiều nghề: Nghề hàng hải với mong muốn được mở mang tầm mắt, nghề khai thác mỏ để làm giàu tổ quốc và xuất dương sang học y học ở Nhật Bản với mong muốn cứu chữa cho dân nghèo để họ không phải chết vì không có thuốc như cha mình. Song, trong một lần xem phim, ông đã tỉnh ngộ khi thấy đồng bào Trung Quốc của ông khoái trá trước cảnh quân Nhật hành hình một người Trung Quốc bị buộc tội “Hán gian” cho Nga. Sự việc này dày vò suy nghĩ của Lỗ Tấn để rồi cuối cùng ông quyết định chọn nghiệp văn chương. Vì theo ông, chữa bệnh thể xác không quan trọng bằng chữa bệnh tinh thần cho quốc dân. Ông ấp ủ khát vọng dùng ngòi bút vạch trần những thói hư tật xấu của nhân dân với mong muốn họ tự ý thức, phấn đấu vươn lên để tự cường dân tộc [1]. Từ một người muốn lấy nghề thuốc để cứu chữa cho con người, ông chuyển sang lấy văn chương chữa bệnh cho xã hội. Những năm ba mươi của thế kỉ XX, nhà văn Lỗ Tấn từng được đề cử làm ứng viên giải thưởng Nobel về văn học, nhưng ông từ chối với lời tâm sự cùng bạn bè: Nếu lấy tiền thưởng rồi không viết được gì hay hơn thì thật xấu hổ; chi bằng cứ sống nghèo khổ không tiếng tăm gì nhưng nhàn tâm mà hơn” [2].

Lỗ Tấn không chỉ là nhà văn hóa lớn mà còn là nhà giáo dục lớn. Ông chú ý nhất là vấn đề lập nhân – xây dựng và đào tạo con người. Sinh thời, nhà thơ Hoàng Trung Thông từng ca ngợi: Không có ai như Lỗ Tấn, trong văn học hiện đại Trung Quốc đã viết ra những trang văn dữ dội với hiện thực của đất nước Trung Hoa lúc bấy giờ đến thế. Chỉ có ông mới dám nói thẳng sự thật “người ăn thịt người” trong xã hội đó [3]. Lỗ Tấn qua đời vào năm 1936 tại Thượng Hải. Tang lễ ông hết sức trọng thể. Phủ lên trên quan tài ông là lá cờ đề ba chữ “Dân tộc hồn” có nghĩa là linh hồn của dân tộc. Đó là sự tôn trọng của nhân dân Trung Quốc dành cho Lỗ Tấn đến tận cuối cuộc đời. Năm 1981, ông được phong tặng danh hiệu Danh nhân văn hóa nhân loại.

Lỗ Tấn được xem là người “đơn thương độc mã” trên văn đàn Trung Quốc. Ông dùng ngòi bút như một thứ vũ khí chiến đấu rất sắc sảo, quyết liệt để chống lại bọn thống trị Tưởng Giới Thạch đương thời. Ông cũng là một trong những người tổ chức, lãnh đạo phong trào văn học cách mạng, xuất bản nhiều tạp chí giới thiệu lý luận văn nghệ Mác-xít, đặt nền móng cho nền văn chương hiện đại Trung Quốc và là bậc thầy của thể loại truyện ngắn với những tác phẩm nổi tiếng: Tết Đoan Ngọ, AQ chính truyện, Nhật ký người điên. Toàn bộ sáng tác của Lỗ Tấn bao gồm 16 tập tạp văn (bình luận chính trị, xã hội, văn nghệ) đặc biệt là ba tập truyện ngắn Gào thét, Bàng hoàng, Truyện cũ viết theo lối mới, cùng nhiều bài thơ… đều hướng vào chủ đề “phê phán quốc dân tính”. Hầu hết tác phẩm của Lỗ Tấn mang đậm tính nhân văn vì đều tập trung phê phán căn bệnh tinh thần khiến cho quốc dân mê muội, tự thỏa mãn.

TRUYỆN NGẮN “THUỐC”

Thuốc là một truyện ngắn xoay quanh việc vợ chồng bà Hoa – lão Thuyên (chủ quán trà nhỏ tại một vùng quê nghèo ở Trung Quốc bấy giờ) chữa bệnh cho cậu con trai có tên là Thuyên bị bệnh lao rất nặng. Nghe theo lời mách bảo của lão Cả Khang, vợ chồng bà Hoa dốc tiền đến Cổ Đình Khẩu từ mờ sáng để mua “thuốc” chữa bệnh cho con, đó là chiếc bánh bao tẩm máu người. Máu người được dùng để tẩm chiếc bánh bao hôm ấy là của một tử tù – người lính cách mạng tên Hạ Du. Hạ Du là chiến sĩ cách mạng dũng cảm, tham gia phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc nhưng bị quần chúng gọi là giặc, là điên, không ai hiểu việc làm của anh nói riêng và những người lính cách mạng nói chung. Chính ông bác Hạ Du lại là người đã tố giác anh với chính quyền để lĩnh thưởng.

Buổi sáng, khi Thuyên ăn chiếc bánh bao tẩm máu người rồi đi nghỉ thì quán trà cũng dần đông khách, mọi người râm ran khẳng định thằng Thuyên sẽ khỏi bệnh rồi bàn tán về Hạ Du. Ai nấy đều cho Hạ Du là “thằng khốn nạn”, “thằng nhãi con” và “điên thật rồi”. Cuối cùng, chiếc bánh tẩm máu người cũng không cứu được cậu Thuyên. Mộ của cậu và của Hạ Du trong cùng một nghĩa trang nhưng cách nhau một con đường mòn nhỏ. Năm sau, trong tiết Thanh minh, bà Hoa buồn rầu ra thăm mộ con nhìn thấy mẹ Hạ Du cũng đến viếng mộ. Với sự đồng cảm, bà Hoa bước qua con đường mòn sang an ủi mẹ Hạ Du và cả hai cùng ngạc nhiên trước vòng hoa đặt trên mộ Hạ Du, họ hỏi “Thế là thế nào nhỉ?”. Truyện kết thúc với hình ảnh hai người mẹ, tiếng quạ kêu và hình ảnh con quạ nhún mình bay vút về phía trời xa.

NHỮNG HÌNH TƯỢNG NỔI BẬT TRONG TÁC PHẨM QUA GÓC NHÌN ĐẠO ĐỨC HỌC PHẬT GIÁO

Hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu của người chiến sĩ cách mạng Hạ Du

Trong truyện, chiếc bánh bao tẩm máu người là một phương thuốc trị bệnh lao hiệu nghiệm theo niềm tin của tất cả mọi người. Máu tẩm trên chiếc bánh bao hôm ấy là của một người cách mạng tiên phong đã ngã xuống vì lý tưởng cứu quốc. Họ đã giết anh và lấy máu đem bán cho những người mê muội mua về tẩm bánh bao làm thuốc chữa bệnh. Thứ “thuốc” kinh dị, hiếm có ấy được rao bán công khai như bán các món hàng bình thường khác: “Ê! Đằng ấy đưa tiền ra, đằng này trao hàng cho”… Một người đen cả người, đứng trước mặt Thuyên già, cặp mắt sắc như hai lưỡi dao chọc vào Thuyên già, làm hắn co rúm lại mất nửa người. Người ấy xòe một bàn tay lớn ra cho hắn, một bàn tay thì túm một chiếc bánh bao màu đỏ tươi, cái màu đỏ ấy vẫn cứ từng giọt từng giọt rỏ xuống…”.

Rõ ràng chữa bệnh bằng một chiếc bánh bao tẩm máu người là phi khoa học, là mê tín dị đoan, không thể có hiệu quả được, nhưng dường như vợ chồng bà Hoa rất mực tin tưởng vào điều đó, nên dốc hết cả tiền dành dụm bấy lâu để mua cho được. Hơn thế nữa, không phải chỉ chồng bà Hoa là lão Thuyên vội vàng đi mua bánh bao tẩm máu người để chữa bệnh, mà rất nhiều người khác cũng có ý định như lão, nên giữa đêm khuya khi “mặt trời chưa mọc… Ngoài những giống đi ăn đêm, còn thì ngủ say cả. Bên ngoài, trời tối om và hết sức vắng. Chỉ mặt đường xam xám là trông thấy rõ”. Lão Thuyên xách chiếc đèn lồng tranh thủ đi để chờ chực, tranh giành với mọi người chỉ để mua thuốc cho con. Đám người tranh nhau, đổ xô đi mua thuốc: “Tiếng chân bước ào ào. Trong nháy mắt bao nhiêu người đi qua, rồi xô nhào tới như nước triều, gần đến ngã ba đường thì bỗng đứng dừng lại, quây thành một nửa vòng tròn… Lão Thuyên cũng nhìn về phía đó, nhưng chỉ thấy lưng người mà thôi. Người nào, người nấy rướn cổ ra như cổ vịt bị một bàn tay vô hình nắm lấy xách lên… rồi cả đám xô đẩy nhau ào ào, lui về phía sau đến chỗ lão đứng, chen lão suýt nữa ngã”.

Lỗ Tấn bằng việc miêu tả cụ thể chi tiết này như muốn nói đến thực trạng đáng lo ngại của phần đông dân chúng Trung Quốc đương thời tâm trí đã bị tiêm nhiễm sâu sắc của mê tín dị đoan, sẵn sàng tin bất chấp vào những điều nhảm nhí không có cơ sở khoa học, đó mới chính là một căn bệnh tinh thần “thâm căn cố đế” mà cần nhất bấy giờ là một phương thuốc để chữa căn bệnh tinh thần này.

Căn bệnh tinh thần khó chữa đó, trong nhà Phật  được xem là mắt xích đầu tiên của 12 nhân duyên, đầu mối của mọi khổ đau, luân hồi sinh tử của chúng sanh, đó chính là vô minh. Theo thứ tự nhân duyên, chúng ta có: Vô minh duyên Hành, Hành duyên Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên Thọ, Thọ duyên Ái, Ái duyên  Thủ, Thủ duyên Hữu, Hữu duyên Sinh, Sinh duyên Lão, Lão duyên Tử. Định nghĩa một cách phổ thông dễ hiểu nhất thì vô minh là sự mê mờ, không có sự hiểu biết đúng đắn về sự hiện hữu, diễn biến của thực tại. Theo Bát chánh đạo thì đó ngược lại với chánh kiến, chánh tư duy tức là sự thấy biết sai lầm, suy nghĩ sai lầm dẫn đến ai nói gì tin nấy, ai bày sao tôi làm vậy, ai bày bậy cũng không biết đúng sai mà mù quáng tin và làm theo.

Những con người mê mờ như thế  qua kinh điển của Phật giáo được ví như: “kẻ phàm phu ít nghe, không được thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc chơn nhân, không thuần thục pháp các bậc chơn nhân, không tu tập pháp các bậc chơn nhân, không tuệ tri các pháp cần phải tác ý, không tuệ tri các pháp không cần phải tác ý” [4]. Cũng thế, chính vì niềm tin mù quáng, sự thiếu hiểu biết, nghe theo lời khuyên của bác cả Khang, đại diện cho những người thiếu nhận thức, thiếu kiến thức về chữa bệnh, mê tín dị đoan mà Lão thuyên trong câu chuyện cũng như bao người dân bấy giờ tranh nhau đi mua bánh bao tẩm máu người để làm thuốc chữa bệnh. Việc ấy chẳng khác nào con người đang làm khổ chính con người, ăn thịt chính đồng loại của mình nhưng kết quả thì chỉ là tiền mất tật mang. Nhưng nghiệt ngã thay phần lớn mọi người đều có chung suy nghĩ và niềm tin như thế, ai cũng mừng cho lão Thuyên mua được “ thần dược” và họ liên tục khẳng định chắc chắn: “Cam đoan thế nào cũng khỏi”. Quán trà của lão Thuyên như một mô hình thu nhỏ của xã hội Trung Quốc đương thời. Khách đến uống trà gồm có một anh chàng trạc hơn 20 tuổi, bác cả Khang, cậu Năm Gù, một người râu hoa râm và một số người khác, họ đại diện cho mọi lứa tuổi thuộc tầng lớp bình dân trong xã hội.

Bấy giờ, những người có ý chí vùng lên như Hạ Du bị xã hội kỳ thị, họ gọi người lính cách mạng ấy bằng những từ ngữ hết sức khiếm nhã và dè bỉu “thằng quỷ sứ”, “thằng nhãi con”, “thằng khốn nạn”, là “dám vuốt râu cọp”, là “điên”. Họ nhao nhao nói nói cười cười khi nhắc lại sự việc Hạ Du bị chém đầu vào buổi sáng. Họ lại khen lấy khen để cụ Ba, người bác của Hạ Du đã sáng suốt đem nộp cháu mình cho nhà chức trách, vừa không bị mất đầu vì chứa chấp một tên phản nghịch, vừa được thưởng hai mươi lạng bạc.

Hình ảnh người chiến sĩ Hạ Du thể hiện gián tiếp thông qua câu chuyện của những người trong quán trà, anh là đại diện tiêu biểu của những người có tư tưởng cấp tiến, có nhận thức, có hiểu biết đúng đắn và dũng cảm đấu tranh để bảo vệ những giá trị tốt đẹp, đi ngược lại lối mòn trong nhận thức của nhân dân. Nhưng anh đã phải trả cái giá quá đắt cho ý chí và lý tưởng cách mạng, mưu cầu tự do hạnh phúc cho dân, cho nước của mình. Những con người trong xã hội đương thời, tư tưởng của họ đang bị mê muội, bị tù đọng nhưng họ hoàn toàn không nhận thấy được chính họ mới đáng bị khinh khi, bị chế nhạo. Khi số đông đều cùng một quan điểm thì người đúng, người sáng suốt như Hạ Du sẽ bị cho là điên rồ cũng là điều dễ hiểu.

Kinh Pháp Cú, kệ số 63:

“Người ngu nghĩ mình ngu,

Nhờ vậy thành có trí.

Người ngu tưởng có trí,

Thật xứng gọi chí ngu”.

Trong kinh Đức Phật dạy: “Cái khổ bị thiêu đốt ở địa ngục chưa phải là khổ, cái khổ làm ngạ quỉ đói khát chưa phải là khổ, cái khổ làm trâu ngựa kéo cày kéo xe chưa phải là khổ, chỉ si mê không biết lối đi mới là khổ”. Si mê ấy chính là vô minh, là không hiểu biết, là nhận thức sai lầm không đúng với lẽ thật các pháp. Đức Phật lúc còn là thái tử trong hoàng cung cũng vì cảm nhận được nỗi khổ đau mà mỗi con người sinh ra trên đời phải gánh chịu, không thể tránh khỏi là sanh, già, bệnh, chết, chưa kể quãng đường từ sanh đến tử còn phải bị chồng chất thêm các nỗi khổ tâm: Ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, còn mang thân ngũ ấm là khổ nên Ngài đã quyết định bỏ lại sau lưng tất cả gia tài, vương vị, hy sinh hạnh phúc bản thân lên đường tìm cầu chân lý hay chính xác là tìm cách hóa giải những khổ đau cho chúng sanh. Để kết quả sau nhiều năm khổ hạnh ngài đã tìm ra được nguyên nhân của khổ, sự diệt khổ và con đường đưa đến sự diệt khổ qua bài kinh chuyển pháp luân về giáo lý tứ đế, chỉ rõ cho chúng sanh thấy khổ, nguyên nhân của khổ, khổ diệt và con đường đưa đến sự diệt khổ. Con đường thực hành để đưa đến sự diệt khổ, hạnh phúc, an lạc mà đức Phật tìm ra là con đường Trung đạo là Bát chánh đạo: “Này Hiền giả, đây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Này Hiền giả, đây là con đường, đây là đạo lộ đưa đến chứng đắc Niết-bàn ấy” [5]. Trong đó xếp theo thứ tự đầu tiên là Chánh kiến chỉ cho sự hiểu biết, quan điểm đúng đắn, thuộc về khía cạnh nhận thức. Chánh tư duy là suy nghĩ đúng đắn thuộc về khía cạnh của sức mạnh tinh thần (ý chí) điều khiển mọi hành động của bản thân.

Trong bối cảnh câu chuyện và những tầng ý nghĩa sâu xa qua từng chi tiết, Lỗ Tấn như muốn chỉ ra phương thuốc trị bệnh tinh thần cho dân chúng bấy giờ không gì hơn là “khai thị”, là mở con mắt chánh kiến, chánh tư duy cho quần chúng nhân dân để họ thay đổi từ trong nhận thức, trong tư duy mới có thể thay đổi tình hình thực tế bấy giờ.

Hình ảnh con đường mòn chia đôi khu nghĩa địa

Ở phía ngoài cửa Tây, có một khu đất là nghĩa trang dành cho những người quá cố. Giữa nghĩa địa “có con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm mãi thành đường. Đó cũng là cái ranh giới tự nhiên giữa nghĩa địa những người chết chém hoặc chết tù, ở về phía tay trái và nghĩa địa những người chết nghèo ở về phía tay phải”. Con đường mòn hiện lên giữa khu đất nghĩa trang, không biết tự bao giờ là một hình ảnh ẩn dụ cho tập quán xấu, hủ tục lạc hậu, phong tục lỗi thời. Dù xấu nhưng người ta cứ thực hiện mãi “xưa bày nay làm” từ đời này sang đời khác đã trở thành thói quen. Thói quen đó trở thành lằn ranh giới tự nhiên làm ngăn cách giữa người với người mà trong câu chuyện đó là giữa những người chiến sĩ cách mạng như Hạ Du với quần chúng  như gia đình ông bà Hoa, Cả Khang, Năm Gù, ranh giới đó không chỉ cách biệt họ khi còn sống mà ngay cả khi chết, họ cũng cách biệt nhau bởi con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo ấy.

Hình ảnh con đường mòn theo Phật giáo chính là sự chấp trước của thế gian, những kiến chấp sai lệch này đã trói buộc con người vào những định kiến, cái thấy biết lạc hậu, sai lầm của mình để nó trở thành sợi dây vô hình buộc mình vào trong khổ đau dai dẳng và cũng chính nó đã góp phần gây nên sự bất đồng quan điểm, tranh cãi và thù hận giữa người với nhau, không thể có sự cảm thông, nâng đỡ hay hòa hợp nào. Đó cũng là một sự tồn tại của vô minh. Vì vô minh, thiếu hiểu biết, không nhận thức đúng đắn nên con người để cho các tập tục, các thói quen xấu chi phối đời sống suy nghĩ của mình, trở thành một năng lực vô hình thúc đẩy mình lao vào trong vòng xoáy của nó. Dù đôi khi mập mờ nhận diện được cũng khó thoát ra được bởi nó đã thuộc về tâm lý số đông, thuộc về vấn đề của xã hội và rất khó để  thay đổi một lối mòn đã có sẵn, có thể do người ta không đủ can đảm hoặc có thể trong tâm thức họ chưa một lần có ý nghĩ sẽ đổi thay và mặc nhiên chấp nhận mọi khổ đau đến với mình như là số mệnh của mỗi người.

Nói về niềm tin của con người, trong một lần thuyết pháp cho dân làng Kalama, Đức Phật từng dạy: “Chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì nghe theo người ta nói; chớ có tin vì được Kinh Tạng truyền tụng; chớ có tin vì nhân lý luận siêu hình; chớ có tin vì đúng theo một lập trường; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình” [6]. Cái chết của người lính cách mạng Hạ Du, cái chết của thằng Thuyên và con đường mòn phân đôi khu nghĩa địa là minh chứng cho hậu quả của sự vô minh, si ám thể hiện  của niềm tin mù quáng, phi hiện thực, phi khoa học và lối mòn trong nhận thức của người dân Trung Hoa bấy giờ nói riêng và thấp thoáng hình ảnh nhân sanh nói chung. Chỉ khi nào dám mạnh mẽ bước qua được lằn ranh ấy thì con người mới có được hạnh phúc.

Nghĩa địa là nơi kết thúc của đời người, những phải trái đúng sai, vinh nhục cả đời đều không còn giá trị nữa.

Không bao lâu thân này

Sẽ nằm dài trên đất

Bị vất bỏ, vô thức

Như khúc cây vô dụng.   

(Kinh Pháp Cú, kệ số 41)

Tất cả đều khép lại khi con người ta đi vào lòng đất. Tuy nhiên ở nghĩa địa này, người chết vẫn còn ngăn cách với người sống, ngăn cách với nhau bằng con đường mòn và dường như không ai dám vượt qua ranh giới ấy. Trong tiết Thanh minh năm đó, “những cây dương liễu mới đâm ra những mầm non bằng nửa hạt gạo” mẹ Hạ Du và bà Hoa, mẹ thằng Thuyên ra thăm mộ con. Bà Hoa đặt lễ vật lên mộ con, vừa khấn vái vừa khóc lóc một hồi. Bà mẹ kia cũng hành động như vậy trước mộ con trai mình, chỉ khác là ngôi mộ của Thuyên thì ở bên phải đường mòn, còn mộ Hạ Du ở bên đối diện. Người đã chết và những người đang sống đều là nạn nhân, đều đau khổ, đáng thương. Sự đau khổ của hai bà mẹ là bằng chứng tố cáo xã hội phong kiến Trung Quốc hủ bại, bế tắc đương thời và căn nguyên sâu xa gây nên bế tắc đưa đến bi thương này. Đó cũng từ sự vô minh, sai lầm trong nhận thức từ những người lãnh đạo chính trị đất nước, từ sự mê mờ mù quáng của quần chúng nhân dân… Tất cả các yếu tố, bối cảnh làm duyên cho nhân ấy chín muồi để gây nên hậu quả là cái chết của hai chàng thanh niên, hai đứa con của hai bà mẹ đáng thương trong câu chuyện.

Câu chuyện kết thúc khi bà Hoa đã mạnh dạn bước qua con đường mòn với sự đồng cảm của một người mẹ mất con để an ủi mẹ Hạ Du. Trên mộ Hạ Du, hai bà mẹ đều nhìn thấy “có một vòng hoa, hoa trắng hoa hồng xen lẫn nhau, nằm khoanh trên nấm mộ khum khum”. Điều đó có nghĩa sự khinh bỉ, dè bỉu trước cái chết của Hạ Du nay đã được thay bằng thái độ cảm thông, thấu hiểu và kính trọng trước ý chí của một người chiến sĩ cách mạng, đã cố gắng tuyên truyền hoạt động, thà chết để bảo vệ lý tưởng đúng đắn của mình. Qua hình ảnh ấy Lỗ Tấn Như muốn thể hiện niềm tin, đặt hi vọng vào sự thay đổi tích cực của con người. Sự thấu hiểu giữa người làm cách mạng và quần chúng nhân dân hay nói một cách bình thường nhất là mối quan hệ tương tác, thấu hiểu giữa người với người và điều đó có được khi họ dám vượt lên khỏi lối mòn trong tư duy, nhận thức của chính mình và dám bước qua con đường mòn của những tập quán xấu đã chi phối đời sống họ từ bao đời. Chỉ khi nào có chánh kiến, chánh tư duy con người mới có được hạnh phúc trong cuộc đời.

Bài học kinh nghiệm

Kinh Pháp Cú, phẩm song yếu, Đức Phật dạy:

Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo;

 

Nếu với ý ô nhiễm,

Nói lên hay hành động,

Khổ não bước theo sau,

Như xe, chân vật kéo.

Ý dẫn đầu các pháp,

Ý làm chủ, ý tạo;

 

Nếu với ý thanh tịnh,

Nói lên hay hành động,

An lạc bước theo sau,

Như bóng, không rời hình.

Tất cả các hành động, lời nói thiện, ác, đúng, sai…đều được do ý làm chủ, ý dẫn dắt. Nếu ý nghĩ tức suy nghĩ và nhận thức lệch lạc, không đúng sẽ dẫn đến hành động, lời nói sai lầm, chịu quả báo khổ đau và ngược lại thì quả của suy nghĩ, nhận thức đúng, hành động đúng, nói năng đúng sẽ mang đến bình an, hạnh phúc cho mình cho người.  Đối với người xuất gia thì chánh kiến, chánh tư duy là điều rất quan trọng, vì đó là kim chỉ nam để hướng mình đi trên con đường chánh pháp. Nếu không sẽ bị lạc vào tà đạo. Hơn nữa, người tu sĩ là thầy mô phạm, hướng dẫn cho mọi người, nếu mình  có nhận thức sai lầm thì sẽ hướng cho mọi người đi vào lầm lạc giống như mình, trong kinh Đức Phật từng sử dụng ví dụ như đoàn người mù nắm đuôi áo nhau đi, mà người phía trước không thấy, người giữa không thấy, người sau cũng không thấy, hậu quả sẽ khôn lường. Cho nên, để có được chánh kiến, chánh tư duy chúng ta phải siêng học hỏi, trau dồi kinh kệ, học để hiểu lời Phật dạy mà hành trì để tự mình giác ngộ, thực chứng lời dạy trong kinh để có an lạc, hạnh phúc cho bản thân và sau nữa hướng dẫn mọi người đi đúng trên con đường tu tập để cùng được lợi ích.

Tóm lại:

Thuốc là một truyện ngắn đặc sắc của Lỗ Tấn. Ông đã mượn câu chuyện, dùng ngòi bút sắc sảo phê phán cách chữa bệnh lạc hậu, mê tín dị đoan nhưng đồng thời cũng nhằm mục đích chỉ ra sự mê muội đớn hèn của người dân về chính trị và sự xa rời quần chúng của những người cách mạng. Từ đó đặt ra nhu cầu bức thiết cho xã hội Trung Quốc phải một phương thuốc để chữa căn bệnh tinh thần này, hay nói một cách khác là làm sao mang ánh sáng tới để đẩy lùi màn đêm của vô minh u tối trong suy nghĩ của mỗi người. Đó là mối trăn trở lớn của những nhà lãnh đạo cách mạng Trung Quốc bấy giờ.

Qua những hình ảnh nổi bật, có ý nghĩa sâu sắc trong câu chuyện: Hình ảnh chiếc bánh bao tẩm máu người tử tù, hình ảnh con đường chia đôi nghĩa địa, hình ảnh vòng hoa trên mộ Hạ Du như đã phơi bày hậu quả của sự vô minh, si ám đang bám rễ sâu trong tâm thức con người. Bởi nhận thức sai lầm, niềm tin mù quáng mà bất hạnh, khổ đau đã vây bủa từng mảnh đời trong vùng quê ấy. Đó chính là biểu hiện của vô minh, của không có chánh kiến nên không có chánh tư duy trong đời sống con người. Từ đó cũng gửi gắm ước mơ, hi vọng ánh sáng của trí tuệ, của nhận thức mới sẽ đến và xóa tan đi màn đêm u tối để con người có thể thoát ra khỏi cái bóng của vô minh, si ám, hiểu và cảm thông với nhau hơn, cùng nhau hướng đến một tương lai tốt đẹp hơn. Đời chỉ thay đổi khi suy nghĩ của con người thay đổi.

Thích Nữ Huệ Quang

 

Tài liệu tham khảo:

  1. HT Thích Minh Châu dịch, Kinh Trung Bộ 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2012.
  2. HT. Thích Minh Châu, Kinh Tương Ưng Bộ II, Nxb. Tôn giáo, 2013.
  3. HT. Thích Minh Châu, Kinh Tăng Chi Bộ, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2015.
  4. https://loiphatday.org/kinh-phap-cu/.
  5. https://revelogue.com/tac-gia-lo-tan.
  6. Ngọc Anh, Lỗ Tấn, lá cờ đầu của văn học cách mạng Trung Quốc, 23/9/2011, baodongnai.com.
  7. Nhà thơ Hoàng Trung Thông viết về nhà văn Lỗ Tấn, báo Công an Nhân dân số ra ngày 29/3/2009, http://cand.com.vn/van-hoa/Nha-tho-Hoang-Trung-Thong-viet-ve-nha-van-Lo-Tan-141045/.
Tác phẩm “Thuốc” của Lỗ Tấn qua lăng kính đạo đức học Phật giáo (SC. Thích Nữ Huệ Quang)

Trả lời