Vững chãi tinh tấn từ góc nhìn của nhà văn Tánh Pháp (Soul) (Ban Biên tập)


Là tác giả của một trong những quyển sách về tâm linh thịnh hành nhất hiện nay – “Người sống cũng cần phải hồi sinh”, xin anh giới thiệu đôi chút về mình để độc giả được biết.

Tôi tốt nghiệp Cử nhân Báo chí – Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn (ĐHQG TP. HCM), có 11 năm công tác trong lĩnh vực Truyền thông. Trong đó, gắn bó với vai trò trợ lý biên tập một số chương trình phối hợp thực hiện cùng Đài Truyền hình TP. HCM. Đó chính là điều kiện để tôi có cơ hội tiếp xúc với đủ các đối tượng trong xã hội thuộc nhiều lứa tuổi qua các chuyến đi ghi hình “dọc đường gió bụi”. Tiếp xúc, trải lòng, lắng nghe tâm tư tình cảm của nhiều người, mình bất giác nhận ra, trong cuộc sống này đúng là “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”. Lúc ấy, tôi đã nhen nhóm trong đầu câu hỏi: Tại sao lại như vậy?

Dường như nhìn trên bản thể, tất cả chúng ta đều cấu tạo như nhau, từ những nguyên tố giống nhau. Nhưng nhìn trên bản thể giới, hiển hiện thành hiện tượng giới, mỗi người sẽ có những chiêu cảm nghiệp khác nhau, dẫn đến cuộc đời mỗi người không ai giống ai, gặp những con người và sự việc khác nhau. Vì gia đình tôi gốc không phải là Phật tử thuần thành, nên từ nhỏ, ít có dịp tiếp xúc với Phật pháp. Tuy vậy, khi hàng loạt những câu hỏi tại sao và những tầng nhận thức tiếp xúc mặt ngoài đó xảy đến, đã thôi thúc tôi đi tìm một lời lý giải thỏa đáng. Chính đó là mối duyên dẫn dắt tôi tìm đến với Phật pháp.

Mà sâu sắc nhất có lẽ sau khi tôi trải qua một tai nạn sức khỏe “thập tử nhất sinh”, lúc đó mới nhận ra rõ hơn sự vô thường trong cuộc đời này. Cũng như chính nhờ sức mạnh của niềm tin vào Phật pháp đã giúp bản thân hồi sinh trở lại. Từ đó, tôi dần tìm hiểu các bài kinh, chú và về cuộc đời, nhân cách của Đức Phật. Càng đọc nhiều và qua những trải nghiệm, tôi hiểu rằng việc tu tập vẫn luôn phải thực hiện trong từng sát na. Khi bản thân cũng như bao người, đang sống trong cõi Ta bà, theo nghĩa tiếng Phạn (Saha) là kham nhẫn, bởi xoay vần là biết bao phiền não. Nên tôi vẫn luôn cố gắng chọn cách nhìn, cách sống hướng tới không chỉ biết buông bỏ dần mà còn đối diện và thấu hiểu phiền não, đi đến tận cùng ý nghĩa bản chất thì mới mong nó chấm dứt.

Đức Phật từng dạy: “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”. Vì vậy, tôi không thể phí hoài một giây phút nào để sống trôi lăn mãi theo những trần lao, nghiệp chướng, trầm mình mãi trong bóng tối của tham, sân, si. Một câu chú trong Bát nhã tâm kinh như kim chỉ nam cho mình: “Gate gate paragate parasamgate bodhi svaha” (Vượt qua, vượt qua, vượt qua đau khổ). Để mầm Bồ đề được tắm tưới thêm pháp lành, tôi đã tạm gác lại các công việc tìm về một ngôi tịnh thất nhỏ ở vùng ven thành phố: Tịnh thất Hoa Nghiêm (Long An) để công quả và quan sát đời sống tu hành của những bậc xuất gia cầu đạo. Chính quãng thời gian đó, tôi có thêm những góc nhìn về những cái vui tạm bợ của thế gian và niềm vui chơn thường di lạc, miên viễn.

Cùng thời điểm đó, đại dịch COVID-19 bùng phát dữ dội làm đảo lộn cuộc sống của rất nhiều người. Thuận hay nghịch đều là duyên cả. Khi nghịch cảnh xảy đến, nó cũng là duyên để tất cả chúng ta đồng lòng tu dưỡng thân tâm, phát huy hết những khả năng sức mạnh tiềm tàng. Nghĩ như vậy, tôi đã thông qua fanpage tự lập nên để mỗi ngày động viên, chia sẻ những triết lý Phật pháp để cùng mọi người định tĩnh, tìm thấy sự bình an nội tại ngay trong lúc ngoại cảnh bấp bênh nhất. Tôi cũng nương vào lực của các thầy nơi tịnh thất đã công quả để tổ chức các buổi gửi niệm lành, mong cầu bình an trong suốt một tháng đến mọi người trong và ngoài nước. Hoạt động đó nhận được sự cộng hưởng từ hàng ngàn gia đình đồng lòng hướng về Tam bảo.

Tôi cảm động bởi có những cụ già 70-80 tuổi không rành về công nghệ cũng nhắn tin về, gõ từng dòng tên của con cháu trong nhà để mong bình an. Hay những em nhỏ tầm 15-16 tuổi cũng nhắn đến hướng an lành cho mọi người. Cả những dòng tin kể về sự chia xa với người nhà, bạn bè, người quen… Tận cùng nỗi đau đó, tôi thấy rõ một mạng mạch Chánh pháp vẫn âm thầm chảy trong “những người cùng chung dòng máu đỏ và nước mắt cùng mặn”. Để chỉ cần có đủ sự dung dưỡng, có duyên lành phát khởi hướng về tánh thiện bên trong thì tất cả sẽ tươi nhuận, vững chãi, tinh tấn trong ánh quang minh của Phật pháp.

Rõ ràng, ngay trong đại dịch, chúng ta thấm rõ tình người với nhau qua rất nhiều câu chuyện xảy ra xung quanh và báo chí đã đưa tin. Đó chính là tư tưởng từ bi, từ ái mà đạo Phật vẫn lan tỏa. Mỗi thời khóa công phu thường bắt đầu bằng chú Đại Bi, có lẽ cũng bởi sự cần thiết của sự phát đại bi tâm trong mỗi người. Học tập triết lý đó, tôi đã cố gắng tập hợp tất cả những mẩu chuyện mình chứng kiến, những bài học, bài pháp giảng có dịp lắng nghe để viết nên quyển sách “Người sống cũng cần phải hồi sinh”. Sự đồng cảm từ nhiều người với cuốn sách càng giúp tôi tin rằng, cuộc đời này, cái thiện vẫn còn đó, vẫn luôn chờ hồi sinh, chỉ cần chúng ta chịu vén lên bức màn vô minh tích lũy từ nhiều đời kiếp.

Anh từng viết “Khi nào thấy Bình an trong hoàn cảnh Bất an. Khi ấy, đời bắt đầu đẹp!”. Bình an được đặt trong sự đăng đối Bất an, liệu có phải như là mối quan hệ giữa tích cực – tiêu cực, cõi trời – địa ngục? Hay theo anh, cả hai chỉ là những cảm xúc tương đối, là hai trong số các hành tâm muôn trùng sinh diệt, tương hỗ nhau và chúng ta chỉ nhìn thấy vẻ đẹp của đời khi cả hai vắng lặng?

Cũng xin nói thêm về câu nói này. Trong khoảng thời gian soạn bản thảo cho quyển sách, tôi đã gửi gắm mong ước làm sao tìm ra được tác giả của câu nói mà mình thương ngay từ khi mới đọc được. Có lẽ, một mối duyên kỳ diệu nào đó, trước khi sách in ra, tôi lại vô tình nghe được một bài pháp giảng của Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Quảng trên Youtube trong mùa An cư năm ngoái ở Học viện Phật giáo Việt Nam TP. Hồ Chí Minh. Bài giảng đó kể về lời dạy của cố Đại lão Hòa thượng Thích Thiện Hòa từng nói cách đây hơn nửa thế kỷ, trong thời điểm đất nước còn chiến tranh. Khi đó Hòa thượng chỉ dạy ngắn gọn rằng, hãy cố gắng: “Bình an trong Bất an”.

Trải nhiều năm tháng, qua sự lưu truyền, ghi chép của nhiều thế hệ mà nguyên bản còn có thêm vế sau là “đời bắt đầu đẹp”, như câu nói mà tôi giới thiệu. Tuy vậy, ý nghĩa gốc, qua dẫn chứng cụ thể từ cuộc đời của các bậc tu hành và gần nhất là giúp được nhiều người nương nhờ tinh thần trong giai đoạn dịch bệnh, rõ ràng nội lực thâm sâu vi diệu của câu nói trên là điều khó lòng giải thích bằng ngôn ngữ đơn thuần.

Tôi nghĩ rằng, trong cuộc sống này, chúng ta phần nhiều lệ thuộc vào sắc thân, vật chất để tìm cái an. Có người quan niệm đầy đủ tiền bạc, gia đình mạnh khỏe, công ăn việc làm thuận lợi đã gọi là an rồi. Nhưng qua sự quan sát của bản thân, trong những lần công tác, có dịp gặp gỡ những người được xem là thành công, thậm chí thuộc giới “siêu giàu”. Họ có sắc đẹp, tiền tài, địa vị nhưng lại không cảm thấy bình an. Bởi ở đỉnh cao đó, có những thứ cám dỗ khác khiến gia đình không hạnh phúc. Hay một người bạn của tôi đã lao hết sức vào làm việc với mục tiêu mua được nhà cho ba, vì nghĩ rằng khi đó cả bạn và ba sẽ thấy bình an, bù đắp cho những thiếu thốn quá khứ. Bạn đắm mình làm việc đến nỗi không có thời gian đi du lịch hay có thời gian nhiều bên ba. Đến chừng đủ tiền mua nhà, thì ba bạn ấy đã mất.

Rõ ràng cái an mà còn kẹt vào vui buồn, vinh nhục của thế gian thì không thể bền vững. Bởi nó sẽ luôn chịu tác động của quy luật vô thường. Có thể lúc đó chúng ta an, nhưng một lát sau lại bất an, rồi lại an, rồi lại bất an. Cứ vậy mà xoay vần điên đảo không thôi. Mà như vậy, trên con đường thực hành tu tập để thấy được cái đẹp thật sự của cuộc đời, chúng ta dễ dàng bỏ cuộc lắm. Thấy khổ là né, thấy khó là nản.

Còn ham muốn là còn khổ. Chúng ta muốn an cũng là một dạng ham muốn. Thay vì vậy, chúng ta hãy hàm dưỡng từng chút một bình an trong lòng, để nó tự nhiên đầy trong tâm, trong thân, trong ý bằng các cách thức phù hợp và vừa đủ với thể trạng sức khỏe, tinh thần của mỗi người. Sự tích cực hay tiêu cực, hai loại thế giới cõi trời – địa ngục cũng do tâm mỗi người tạo nên. Mình vẫn nhớ câu chuyện Đề Bà Đạt Đa nhờ lòng từ bi của Đức Phật đã cảm hóa ông sau những lần cố tình hãm hại. Nên khi ngài A Nan đến thăm hỏi, ông vẫn mỉm cười và đáp: “Tôi thấy an vui dù đang ở địa ngục A Tỳ”.

Dường như nhìn trên bản thể, tất cả chúng ta đều cấu tạo như nhau, từ những nguyên tố giống nhau. Nhưng nhìn trên bản thể giới, hiển hiện thành hiện tượng giới, mỗi người sẽ có những chiêu cảm nghiệp khác nhau, dẫn đến cuộc đời mỗi người không ai giống ai, gặp những con người và sự việc khác nhau.

Hay như Hòa thượng Huệ Đăng có câu đối: “Tá thạch vi tường, thục thức lão Tăng cùng đáo đế. Vĩ phong tác phiến, thuỳ tri đại đạo lạc vô cương” (tạm dịch: Đá mượn làm tường, ai có biết lão Tăng nghèo đến thế; Gió dùng thay quạt, người đâu hay đạo lạc vô cương). Rõ ràng ở trong hoàn cảnh nghèo vật chất nhất, Ngài vẫn thể hiện tâm thái thong dong, tự tại, không bị ràng buộc bởi ngoại cảnh. Thật ra, cái bớt khổ khi còn đang sống ở đời này đâu phải là cái hiện thực khổ nó chấm dứt như mong muốn, mà đôi khi chính trong giữa cái khổ mà chúng ta vẫn giữ được tâm an lạc, bình yên.

Đời sống phạm hạnh của các Tổ và qua kinh điển để lại là ngọn đèn soi dẫn thiết thực nhất để thấy đời bắt đầu đẹp. Hàm dưỡng trong giáo pháp của Đức Phật: Tín, Thọ, Phụng, Hành. Tin tưởng, thọ trì giáo pháp sẽ giúp ta tìm thấy an lành thật sự chứ không giả tạo và nhất thời.

Cám dỗ về sắc, cám dỗ về danh lợi, về của cải luôn hiện diện trên con đường hướng thượng của chúng ta, đặc biệt với người tu tập tại gia. Theo anh, với vai trò một cư sĩ Phật tử nên nhận diện cám dỗ như thế nào?

Tôi thường hay nghe nói, chúng ta đến và rời đi cuộc đời này đều không thể mang theo được gì, ganh đua làm chi cho mệt tấm thân. Nhưng, nghĩ kỹ lại, sao lại không có. Nếu đến cuộc đời này không được gì và rời đi cũng không có gì thì thôi đến đây làm gì đâu. Nếu không có gì thì làm sao mà luật nhân quả có thể tác động được khiến chúng sinh luân hồi trong sáu nẻo hết kiếp này đến kiếp khác. Từ băn khoăn trên, tôi được nghe một ý từ một vị thầy rằng: Chúng ta không đến “tay không”’ và cũng không rời đi “tay không”. Hành trang mang theo của mỗi người là phước (nghiệp lành) và hoạ (nghiệp xấu).

Người có phước không biết cách tăng trưởng phước thì khi hết cũng thành hoạ. Người có hoạ mà biết chuyển hoá thì trong hoạ lại nảy nở những mầm Bồ đề thiện lành giúp cho phước sinh sôi. Cũng như có phước lớn mà không song hành với trí tuệ, sa đà vào mê tín, tà kiến, không phân định được đâu là đúng đắn phù hợp thì càng “đốt” nhanh những gì tốt đẹp đã tích luỹ từ nhiều kiếp. Như câu chuyện của vua Lương Võ Đế hỏi tổ Bồ Đề Đạt Ma tôi từng nghe kể. Sau khi ông xây dựng rất nhiều chùa, cúng dường cả ngàn vị Tăng, vua đã rất tự hào cho rằng bản thân là người đầy đủ phước lành ắt sau khi mất sẽ sanh lên cõi Trời. Vậy mà tổ Bồ Đề Đạt Ma đã nói thẳng ý rằng: “Tôi thấy bệ hạ sau này sẽ đọa địa ngục”. Vua tức giận quá, lấy ngay chiếc ấn trên bàn định đánh, Tổ nói rằng: “Tướng địa ngục của bệ hạ hiện ra rồi đó”.

Vậy nên, tôi vẫn nghĩ, ngay trong cái phước cũng vẫn tiềm tàng cái họa, nếu như chúng ta không giữ đúng chánh niệm, tự mãn với những gì đạt được. Thêm nữa, sinh ra trong cõi Ta bà này cỡ nào cũng rớt vào các loại khổ Sinh, Lão, Bệnh, Tử, yêu không được cũng khổ, xa cách nhau cũng khổ, gần cạnh nhau không ưa cũng khổ, cầu mong làm không được cũng khổ chi phối đủ điều… Tuy vậy, chỉ có nơi đây, hoạ và phước mới trùng trùng “thay da đổi thịt”. Nên với người cư sĩ cố gắng giữ cho vững Bát chánh đạo (Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định) để giúp nhận diện những cám dỗ về danh, sắc và điều chỉnh mỗi hành động, suy nghĩ của bản thân mỗi lúc.

Trên con đường hướng thượng ở việc tu tập tại gia, khi làm được việc có chút ý nghĩa nhất định nào đó rồi, tôi hay nghĩ như thế này: Cái phước này không phải là mình. Ai khen, cảm ơn thì tôi nghĩ họ đang khen và biết ơn đến nghiệp (tốt) của ta (chứ không phải ta). Ngược lại, ai chửi mắng thì đang chửi cái nghiệp (xấu) của ta. Như vậy, sẽ không bị vướng vào sự tự mãn khi có được thành công, hoặc suy sụp tự ti khi thất bại. Để rồi lại tiếp tục cống hiến, tiếp tục sống tốt, sống ý nghĩa, sống chân chính dựa trên nền tảng Bát chánh đạo.

Lìa phước, lìa hoạ, lìa khổ, lìa vui từng chút một như vậy đó, sẽ dần nhìn thấy bản thể chân thật trong mỗi chúng ta, là chơn tâm tịch lặng. Ở đó, không có hoạ, không có phước, không có cả chúng ta, hoà nhập vào tất cả, tất cả lại là chúng ta. Sự sự vô ngại.

Giới luật được xem là cơ sở để duy trì mạng mạch Phật pháp. Có ý kiến cho rằng người cư sĩ khó lòng giữ gìn trọn vẹn ngũ giới vì đời sống thường nhật hay chung đụng bia, rượu, thuốc lá, dễ phạm việc sát sinh (làm tổn hại sinh mệnh các loài côn trùng nhỏ). Anh nghĩ gì về ý kiến này?

Người xưa có câu: “Thứ nhất tu tại gia. Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa” để thể hiện quan niệm tu tại gia thường được coi là khó nhất vì cùng lúc, người cư sĩ Phật giáo phải đóng trọn hai vai trò đối với đạo và đời. Trong đó, việc giữ giới trọn vẹn cũng là một vấn đề, bởi có những mối quan hệ công việc, làm ăn sẽ ảnh hưởng đến ngũ giới (bia, rượu).

Theo tôi, một người được xem là cư sĩ Phật giáo thì điều kiện cơ bản nhất là họ quy y Tam bảo để có chỗ dựa vững chắc trên con đường tu tập. Từ đó, sẽ giúp phát khởi tâm Bồ đề, có sự tín tâm và phát huy trí tuệ thông qua việc tìm hiểu các triết lý sống theo nhân cách của Đức Phật. Giới luật đặt ra là khuôn khổ, quy chuẩn để chúng ta không buông lung. Dành cho những ai chưa đủ định tâm, dễ sa đà vào cám dỗ. Còn nếu như Phật tử phát huy được những giá trị nền tảng của Bi, Trí, Dũng, tức biết sống hòa nhã, biết quan tâm, chia sẻ, tin tưởng vào Chánh pháp để thoát khỏi những khổ đau, thì khi đó chính cách sống của họ đã thể hiện ra giới luật trọn vẹn nhất.

 

Ngay từ thời Đức Phật, chúng ta cũng biết lúc đó chưa có thuốc lá, nên trong giới luật đâu có cấm hút thuốc. Nhiều người vịn cớ vào đó mà thoải mái hút. Nhưng rõ ràng tác hại của thuốc lá lớn vô cùng. Vì vậy, cư sĩ hãy sống đúng với thượng tôn pháp luật của thời đại, của đất nước đang sống. Cũng như tránh những hành động gây hại đến sức khỏe bản thân và người khác. Nhìn ở khía cạnh đó, chúng ta thấy không chỉ gói gọn trong ngũ giới đã nêu, mà còn thể hiện tính linh hoạt, vận dụng trí tuệ mọi lúc mọi nơi, sách tấn nhau tu tập.

Ngoài ra, theo tinh thần Pháp Hoa, tôi cảm nhận môi trường nào cũng có điều kiện để tu tập. Như ngay cả trong cuộc sống đời thường, cư sĩ tiếp xúc với đủ các loại hình trạng thái tâm lý khi gặp nhiều đối tượng khác nhau trong xã hội, vì vậy sẽ có cái nhìn rõ và nhận diện được đâu là điều cần tránh. Trong một pháp thoại về thiền, tôi tâm đắc với ý của một sư thầy dạy rằng: Đọc kinh điển cũng phải thực hành mới biết. Trong đó, thầy chỉ vào ly trà trên bàn rồi nói, có ly trà uống thích quá nên mới có tâm khởi lên là muốn uống thêm ly nữa. Tâm tham khởi khi có duyên khởi là cái ly trà. Chứ cứ ngồi trực chỉ, ngồi thiền kiểu “thụ động” hoài thì đâu có thấy cái tâm tham, đâu có thấy đối tượng quan sát gì đâu.

Tương tự tâm sân cũng vậy, ngồi im mà quán tâm sân thì làm gì có sân mà quán. Lúc tâm chiếu rọi thì làm gì có sát na nào mà khởi lên cho được. Ngược lại, tự nhiên nghe một tiếng chửi, là duyên tới, tâm khởi lên liền, nghe lùng bùng, khó chịu, nóng nảy, bực bội, tức giận. Khi đó mới biết sân là gì, đã có “kinh nghiệm” thì khi thiền, mới hiểu đối tượng quan sát. Ở góc nhìn đó, thiết nghĩ, giới luật là điều kiện cần để Phật tử nhìn thẳng vào cuộc đời biết rõ đúng sai. Nhưng điều kiện đủ để chúng ta cảm ngộ ra những lời dạy của Đức Phật là khi mê mờ đã bị trí tuệ diệt sạch, thể hiện nên sự thanh tịnh từ Thân, Khẩu, Ý.

Anh có gợi ý gì cho các bạn trẻ khi tìm hiểu về Phật giáo không?

Nhiều bạn vẫn thường nhắn tin chia sẻ thiệt lòng vào fanpage của tôi, là hay đi xem bói toán, các loại môn huyền học dựa trên tính toán ngày, tháng, năm sinh để theo đó mà định hướng cuộc đời, phụ thuộc vào những công thức để mần mò đường đi nước bước làm ăn, tình duyên, công danh, năm thuận lợi hay không thuận lợi… Đó là một trào lưu phổ biến bây giờ với rất nhiều bạn trẻ.

Tôi thấy điều này không sai, mà cũng không đúng. Không sai vì tất cả chỉ là phương tiện, một cơ duyên ban đầu hợp với căn cơ của bạn ấy. Cơ bản cũng chỉ là lòng thành muốn sống tốt, muốn hướng đến điều tốt đẹp, điều kiện bước đầu của tu tập, nên nếu phản bác ngay từ đầu thì không nên. Ngoài ra, tôi thấy không đúng khi mà cứ mãi tin bất chấp, gửi niềm tin vào lực bên ngoài quá nhiều, hướng tâm ra ngoài quá nhiều, trong khi bản thân không có bất kỳ hành động nào thay đổi. Cứ việc xấu là đổ thừa tại năm xui tháng hạn, rồi cứ loay hoay mãi theo những lời phán, lời đoán của những công thức con số, lá bài thì làm sao mà bớt khổ được.

Phải tin vào chính bản thân. Vì nghiệp xấu khi đã đến, nó không có nể nang bất cứ điều gì. Không vì bạn có một dãy số đẹp như mơ trong ngày, tháng, năm sinh mà nó né bạn ra để đi tìm người khác. Hoặc khi đã đủ quả lành thì dù đó là năm sao xấu nhất chiếu mạng thì cỡ nào bạn cũng tự nhiên sáng rực, thành công. Vì vậy, trong mỗi giây phút, hãy tranh thủ làm nhiều việc phước lành, tích luỹ công đức thật vững chắc, tự nhiên mọi chuyện suôn sẻ hanh thông, cũng như “khi hoạn nạn chỉ có phước mới cứu được mình”.

Liên quan đến chuyện các con số, cách đây nhiều năm, mình có nghe được một đoạn phỏng vấn ngắn của thầy Thích Nhất Hạnh nói về những con số đẹp và ngày đẹp. Cụ thể con số nào nó cũng tốt, cũng đẹp cả, cũng là lời nhắc nhở cho việc rèn luyện thân, khẩu, ý, tâm tính của chúng ta. Số 1: Nhất như. Số 2: Âm dương hay thân tâm. Số 3: Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Số 4: Tứ đế. Số 5: Ngũ căn ngũ lực. Số 6: Lục độ. Số 7: Thất Bồ đề phần. Số 8: Bát chánh đạo.

Thầy kết luận, ngày xấu là ngày trái tim ta không được trong sáng. Từ đó suy ra, con số xấu hay năm xấu là do từ trái tim nhiễm bụi trần, phiền não của chúng ta mà ra. Chứ thật chất có con số nào, có năm nào xấu đâu. Càng bám chấp, lệ thuộc và đặt lòng tin vào các con số để quyết định cho vận mệnh, cho chuyện làm ăn… hoặc định hướng cả cuộc đời thì chúng ta càng bị ngũ uẩn ngăn che, bị kẹt vào cuộc sống: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không thể nhận ra được sự màu nhiệm trong tâm linh và cả những chân lý hiện hữu ngay trong cuộc sống. Cứ trả mọi thứ về không, mọi công đức và kết quả màu nhiệm sẽ hiển hiện ra. Tức là hãy làm mọi việc trong sự chú tâm, trong những hành động chân chính, hướng đến lợi ích cho nhiều người, hơn là sự đối phó, vay trả, đổi chác, thỏa thuận để đạt được điều gì đó chỉ cho riêng bản thân. Hãy cứ làm với tâm thật sự thiện lương, rồi bình an sẽ hiện hữu cùng bạn.

Với kinh nghiệm của bản thân là một người tự tìm tòi, rồi hữu duyên để ngày càng dấn thân vào Phật pháp, không những mang lại lợi lạc cho bản thân mà còn chia sẻ phước lành ấy, mang đến ánh sáng niềm tin, ý nghĩa sống tích cực cho độc giả của mình, anh làm thế nào để giữ tinh thần tinh tấn luôn vững chãi trước vô vàn ngã rẽ cuộc đời mình?

Tôi nghĩ làm việc gì cứ chuyên tâm mọi việc sẽ thành. Đó chính là sự chú ý (chánh niệm) vào từng hành động: Chú ý giao tiếp, chú ý đi đứng, chú ý ăn uống, chú ý làm việc… Chẳng hạn khi giao tiếp với một người, chúng ta chú ý lắng nghe họ nói. Chúng ta quan sát và nhận ra những dòng suy nghĩ, những câu từ mà chúng ta định nói ra. Điều này sẽ giúp tạo thiện cảm với người khác khi chúng ta tôn trọng từng lời nói của họ. Cũng như hạn chế rủi ro do những phát ngôn thiếu suy nghĩ mà vô tình gây tổn thương người khác.

Sự thực hành chánh niệm còn ở việc ngay khi ngủ dậy, chúng ta biết mình thức giấc. Đặt chân xuống đất biết bàn chân chạm đất. Chứ không phải đang vừa mở mắt, đầu đã nghĩ ăn sáng gì đây, chạy tới chỗ làm đường nào, hôm nay công việc sắp xếp ra sao… Sự để tâm chạy quá nhanh so với hành động đang diễn ra sẽ làm suy giảm hiệu quả của việc cần làm. Và dĩ nhiên, tôi vẫn đang trên bước đường thực hành những điều đó, nên đâu thể tránh khỏi những lúc tinh thần bị chao đảo trước những tác động trong cuộc sống. Những khi ấy để có thêm vững chãi, tôi nghĩ rằng có được những người bạn đồng đạo tốt sẽ sách tấn chúng ta rất nhiều, “ăn cơm cần có canh, tu hành cần có bạn”. Như tại tịnh thất Hoa Nghiêm nơi tôi làm công quả, tôi gặp được một vị sư huynh mới xuất gia. Mỗi ngày cứ 4h00 sáng sau thời công phu chú Lăng Nghiêm, sẽ ở lại chánh điện lần lượt đọc từng chữ rồi đứng lên quỳ xuống lạy 200 lạy trong kinh Pháp Hoa để gửi niệm lành, bình an đến mọi người.

Sau buổi cùng nhau lạy trang kinh đầu tiên, sư huynh kể về trải nghiệm bản thân và nói với tôi rằng: “Sự vi diệu của Phật pháp chỉ có thể tự bản thân chứng nghiệm thôi đệ à!”. Mà chính như bản thân sư huynh ấy thừa nhận từng là một tay ăn chơi thứ thiệt, trải đủ không thiếu một món ăn chơi nào. Vậy mà khi có duyên đọc được một câu chữ trong kinh thì tự động thay đổi tính tình, từ bỏ tất cả thói xấu trước đây, kiền thành tinh tấn không ngờ. Tôi hết sức ngạc nhiên vì chỉ có hai năm tụng kinh, mà một tay “tứ đổ tường” ngày nào đang ngồi giảng giải từng ý nghĩa trong kinh, mà rất thâm diệu .

Điều khiến huynh ấy đặt trọn lòng tin còn là vì nhờ lạy mấy chục ngàn lạy mà vượt qua một tai nạn tưởng gần chết, mà giờ vẫn khỏe mạnh. Rồi sư huynh đưa hai đầu gối cho tôi xem, hai bên cộm lên những cục da chai dày, “dấu vết” của việc kính thành lạy Phật mỗi ngày, suốt hai năm qua. Cũng chính nhờ cục chai này mới phát duyên có sự xuất gia ở hiện tại. Chạm vào cục chai đó tự nhiên thấy mình có phước được gặp gỡ một “vị thầy” của sự bền lòng, vững chí, sống động trong đời thực. Câu chuyện của sư huynh càng động viên tôi thực hiện cho tâm ý của bản thân.

Câu hỏi cuối cùng, theo anh “Chánh tinh tấn” của người ở Đạo và ở Đời giống và khác nhau thế nào? Trong đời sống hàng ngày mỗi người chúng ta đều mang trên vai những trách nhiệm, nghĩa vụ phải ưu tiên hoàn thành trước việc tu tập. Vậy việc giữ trọn Chánh tinh tấn liệu có mâu thuẫn, đối nghịch dẫn đến mất đi an vui trên con đường tu tập tâm linh không? (Ví dụ, đặc biệt là người phụ nữ với những trách nhiệm làm vợ, làm mẹ phải chăm lo gia đình, không đủ thời gian để miên mật thực hành sám hối, đọc kinh, thiền định… sẽ dễ dẫn đến việc tự trách bản thân mình giãi đãi). Với kinh nghiệm của mình cũng như được tiếp xúc nhiều trường hợp thực tế từ bạn đọc trên fanpage “Chuyện của Soul” và độc giả sách anh đã xuất bản, anh có lời khuyên gì cho các trường hợp như thế không?!

Mỗi người đến với cuộc đời này bằng những mối duyên khác nhau. Vì khác nhau nên nhận thức và mục tiêu cuộc sống cũng chẳng ai giống ai. Có người sẽ tìm thấy hạnh phúc bình yên thông qua sự sung túc vật chất. Có người lại chọn một đời sống hướng thượng tâm linh là giá trị hướng đến hoặc có người lại kết hợp hài hoà cả hai. Tuỳ theo nhu cầu, Đức Phật cũng chỉ ra rằng, để có được hạnh phúc vật chất cần đủ bốn điều kiện sau: Thứ nhất, phải khéo léo, phải có chuyên môn, nghị lực trong công việc mình đang làm. Thứ hai, phải bảo vệ tiền của nhà mình kiếm được trong gian khó một cách kỹ lưỡng. Thứ ba, không nên giao du với người xấu. Thứ tư, phải chi tiêu chừng mực, đúng lúc đúng chỗ.

Để đạt được hạnh phúc tinh thần cần có bốn nguyên tắc: Thứ nhất, phải có lòng tin vào những giá trị đạo đức, tinh thần và tâm linh. Thứ hai, phải từ bỏ những việc ác như sát sinh, trộm cắp. Thứ ba, phải thực hành lòng thương xót và bố thí cho những kẻ bất hạnh, cơ nhỡ.  Thứ tư, phải trau dồi trí tuệ để tìm kiếm hạnh phúc tâm linh tối thượng. Trên con đường đạt đến sự giác ngộ, có rất nhiều phương tiện. Phương tiện mà bạn đang áp dụng có thể chưa hẳn là chân lý, nhưng phải hợp lý thì mới giúp chúng ta an ổn về cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.

Như với người tu tập sẽ dành thời gian nhiều cho việc thiền định, công phu kinh kệ, tìm hiểu tâm linh. Người lao động, sản xuất sẽ dành thời gian nhiều cho công ăn việc làm, kinh doanh. Một người làm ăn mà công việc chưa thuận lợi như kế hoạch thì rõ ràng phải xem lại sự hợp lý trong cách thức, quy trình có phù hợp với nhu cầu hiện tại hay vị trí công việc đó có phù hợp với bản thân chưa. Một người hướng về đời sống tâm linh nhưng không thấy an ổn, phải xem lại phương pháp thực hành đó có đang quá sức hay bị tắc chỗ nào. Chính khi nhìn nhận ra những khiếm khuyết, sai lầm, điều chỉnh từ từ, chỉnh đến khi nào thấy hợp lý thì tự nhiên chân lý sẽ hiển hiện. Đó là điểm tôi nghĩ có nét tương đồng ở tinh tấn giữa đạo và đời.

Tuy vậy, Chánh tinh tấn thể hiện ở đạo là sự dũng mãnh, kiên cường hướng đến mục đích chân chính tốt đẹp, giải thoát. Khác rất nhiều so với nỗ lực của thế gian để đạt được những địa vị, quyền lợi, chiếm hữu riêng cho bản thân. Tuy vậy, dù ở đạo hay đời chúng ta cũng đừng để rơi vào sự quá cực đoan, đừng để cho bản ngã trỗi dậy. Do đó, chúng ta cứ linh hoạt, “tuỳ duyên thuận pháp” mà tiếp nhận những góc nhìn, những trải nghiệm, mở tâm rộng lớn để dung hoà và giúp cho bản thân ngày càng phát triển. Vì mỗi người đều có một vai trò riêng. Dù muốn hay không, sự hiện hữu của chúng ta đã gắn liền với rất nhiều những con người khác bằng các mối nhân duyên để hoà cùng dòng chảy của nhân sinh tạo dựng nên thế giới.

Xin cảm ơn anh vì những chia sẻ vô cùng quý báu đến với Tạp chí Văn Hoá Phật Giáo. Ban Biên tập xin chúc anh mọi sự an lạc, bình an và hạnh phúc. Vô cùng trân trọng và biết ơn!

Trả lời