Nguồn lực của Phật giáo Việt Nam đối với đời sống xã hội và phát triển đất nước – nhận định và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước (ThS. Nguyễn Phúc Nguyên)


LTS: Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo trân trọng trích đăng bài viết Nguồn lực của Phật giáo Việt Nam đối với đời sống xã hội và phát triển đất nước – nhận định và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước của ThS. Nguyễn Phúc Nguyên. Đây là bài tham luận trích từ Hội thảo Phát huy vai trò của Tăng, Ni GHPGVN trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với Hội đồng Trị sự GHPGVN, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ), tổ chức vào tháng 01/2022.

Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ lâu đời và đã trở thành một thành tố quan trọng trong đời sống văn hóa của con người Việt Nam. Trải qua tiến trình lịch sử hơn 2.000 năm, Phật giáo luôn đồng hành với dân tộc và có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống xã hội, góp phần tạo nên bản sắc, cốt cách văn hóa, đóng góp to lớn vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Trong giai đoạn hiện nay, thực hiện phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, Phật giáo tiếp tục có nhiều đóng góp vào công cuộc đổi mới đất nước thông qua các hoạt động phật sự và hoạt động xã hội hướng đến con người, vì con người, trong đó các hoạt động an sinh xã hội là điểm sáng, thể hiện rõ tinh thần “nhập thế giúp đời” của Phật giáo Việt Nam.

Trải qua quá trình lịch sử gắn bó và đồng hành với dân tộc, nhiều triết lý của Phật giáo đã hòa quyện với triết lý sống, giá trị, chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam đến mức nhuần nhuyễn. Chẳng hạn, thuyết nhân quả của Phật giáo đã hòa quyện với lối tư duy của người Việt để tạo thành triết lý sống tưởng đơn giản nhưng mang giá trị nhân văn sâu sắc: “ở hiền gặp lành”, “gieo nhân nào gặt quả ấy”… Hay hạnh Bố thí của Phật giáo khi hòa quyện với tinh thần nhân ái của con người Việt Nam đã hình thành triết lý sống coi trọng việc thực hành điều thiện: “Dù xây chín bậc phù đồ, không bằng làm phúc cứu cho một người”. Phát huy truyền thống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, với phương châm “nhập thế giúp đời”, Phật giáo Việt Nam luôn tham gia tích cực vào các hoạt động nhân đạo, từ thiện, xã hội. Sự tham gia của Phật giáo vào an sinh xã hội ngày càng sâu rộng, với nhiều hình thức phong phú, linh hoạt, đạt hiệu quả cao.

Về trợ giúp y tế, Tăng Ni, Phật tử nhiều nơi đã hăng hái tham gia các hoạt động hiến máu nhân đạo; quyên góp hỗ trợ mổ mắt miễn phí cho bệnh nhân bị đục thủy tinh thể; tổ chức các bếp ăn từ thiện, nồi cháo tình thương cho bệnh nhân nghèo,…

Phật giáo là tôn giáo lớn ở Việt Nam, hiện nay Giáo hội Phật giáo Việt Nam (GHPGVN) có 53.400 Tăng Ni, 18.200 cơ sở thờ tự, khoảng trên 14 triệu tín đồ và hàng chục triệu người có tình cảm tín ngưỡng Phật giáo. Phật giáo Việt Nam là tôn giáo có truyền thống lâu đời, với tinh thần hộ quốc an dân, Phật giáo đã luôn hòa mình cùng với dân tộc và có nhiều đóng góp trong lịch sử cũng như trong hiện tại vào công cuộc xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước.

1. NGUỒN LỰC CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Những năm qua, GHPGVN, trên tinh thần lục hòa, đã phát huy đoàn kết, giữ vững niềm tin đạo pháp, đẩy mạnh hoạt động giảng dạy giáo lý, giáo luật cho cho Tăng, Ni và tín đồ, xây dựng mối quan hệ giữa Phật giáo với các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các ban, ngành, đoàn thể từ trung ương đến địa phương. Các hoạt động trên luôn thể hiện tinh thần tốt đời đẹp đạo, gắn liền với phương châm của GHPGVN: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Vì lẽ đó, Tăng Ni, Phật tử luôn thực hiện tốt các nhiệm vụ mà GHPGVN đề ra, đóng góp phần công sức vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.

Song song với việc duy trì nề nếp hoạt động, nắm bắt tình hình quản lý cơ sở vật chất và hoạt động của Tăng Ni, Phật tử, GHPGVN còn tích cực tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, Hiến chương và các văn kiện của Giáo hội… tới Tăng Ni, Phật tử nhằm hướng mọi hoạt động theo tôn chỉ mục đích của Giáo hội và quy định của pháp luật Nhà nước, phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương.

Phật giáo tham gia vào tất cả các nội dung chính của an sinh xã hội ở những mức độ khác nhau, bao gồm: Bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững; trợ giúp xã hội cho những người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; phát triển bảo hiểm xã hội (bao gồm cả bảo hiểm y tế) và tiếp cận dịch vụ xã hội ở mức tối thiểu (dịch vụ giáo dục, y tế, nhà ở tối thiểu; dịch vụ nước sạch và dịch vụ thông tin). Trước đây, Phật giáo chủ yếu tham gia vào nội dung nhân đạo, từ thiện và hình thức chủ yếu là quyên góp kinh phí để trợ giúp cho đồng bào bị thiên tai, lũ lụt. Việc trợ giúp thường xuyên chủ yếu dành cho một số cơ sở từ thiện (trung tâm bảo trợ, Tuệ Tĩnh đường). Hiện nay, Phật giáo đã mở rộng ra các hoạt động tăng cường giải quyết việc làm gắn với giảm nghèo bền vững; tổ chức trợ giúp cơ bản về giáo dục, y tế và chỗ ở cho người dân.

Với ý thức, trách nhiệm của người tu hành, những năm qua, Tăng Ni, Phật tử GHPGVN không ngừng phấn đấu thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng chùa cảnh gương mẫu gắn liền với chủ trương của Đảng và Nhà nước về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do có sự tuyên truyền, phổ biến về chính sách tôn giáo và định hướng hoạt động cụ thể nên các chùa trên địa bàn huyện đều chủ động tổ chức các nghi lễ vừa bảo đảm trang trọng, vui tươi, tiết kiệm, đoàn kết, vừa thể hiện được nghi thức tôn giáo truyền thống theo đúng các quy định của pháp luật.

Là tổ chức có nhiều cơ sở thờ tự trên hầu khắp các địa bàn, đặc biệt là tại các đô thị, khu tập trung đông dân cư, do đó GHPGVN đã tích cực, chủ động triển khai việc tuyên truyền thực hiện nếp sống văn hóa, văn minh ở cơ sở thờ tự và khu dân cư. Những nội dung đáng chú ý của Phật giáo là xây dựng cơ sở thờ tự xanh, sạch, văn minh, bảo vệ môi trường ở khu dân cư và chống các biểu hiện mê tín dị đoan.

Theo đó, cùng với cải tạo cảnh quan các chùa hướng đến trở thành điểm du lịch tâm linh, các Sư trụ trì cam kết phối hợp cùng chính quyền quản lý tốt, không để tái phát các hiện tượng chèo kéo bán hương đèn, các đồ vật pháp khí gây cảnh nhốn nháo trước cổng chùa. Các Sư trụ trì cam kết vận động bà con Phật tử không tiếp tay cho những đối tượng bẫy chim đem cắt cánh để bán phóng sinh trước chùa; khi khách mua đem thả, chim không bay được xa, bị các đối tượng này bắt lại để bán tiếp. Tham gia xây dựng nếp sống văn minh ở khu dân cư, các Sư trụ trì vận động đồng bào Phật tử không đốt giấy vàng mã khi cúng, không tổ chức đám tang dài ngày, bảo vệ môi trường sống…

GHPGVN đã ký cam kết với Ủy ban An toàn giao thông quốc gia để vận động Tăng Ni nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật khi tham gia giao thông; tăng cường tuyên truyền để người dân nâng cao ý thức bảo vệ môi trường sống không bị ô nhiễm; chú trọng giáo dục đạo đức học đường để các em học sinh có ý thức trong giao tiếp ứng xử.

GHPGVN phối hợp với chính quyền các cấp để phát hiện, xử lý những trường hợp giả danh, đội lốt tu hành để bán hương dạo, lừa đảo quyên góp từ thiện cũng là hoạt động hưởng ứng Năm văn hóa văn minh đô thị. GHPGVN cũng vận động Phật tử hưởng ứng, cam kết thực hiện việc cưới, việc tang, cầu nguyện, cúng Tổ tiên không có các hình thức dị đoan. Các nghi lễ được tiến hành bảo đảm thuận lợi và tốt đẹp nhất. Bên cạnh đó, là tham gia tích cực vào việc tạo cảnh quan cơ sở thờ tự trang nghiêm góp phần xây dựng văn hóa, văn minh đô thị. Đặc biệt, các vị chức sắc Phật giáo đã rất quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường sống xanh, sạch, đẹp; xây dựng nếp sống văn hóa trong quan hệ cộng đồng.

Về quy mô huy động nguồn lực, mức độ huy động nguồn lực tham gia các hoạt động từ thiện xã hội không ngừng gia tăng. Trong những năm 1980, mặc dù đời sống của nhân dân cũng như của Tăng Ni còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, nhưng Phật giáo tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, thăm hỏi, tặng quà cho đồng bào vùng bị bão lụt, thiên tai. Tuy giá trị kinh tế không lớn, nhưng các hoạt động xã hội của Phật giáo thời kỳ này đã góp phần thiết thực vào an sinh xã hội trong bối cảnh khó khăn chung.

Kết quả huy động nguồn lực cho các hoạt động từ thiện xã hội của GHPGVN từ nhiệm kỳ III đến nhiệm kỳ VI như sau: Nhiệm kỳ III (1992-1997) là 111,733 tỷ đồng, nhiệm kỳ IV (1997-2002) 296,972 tỷ đồng, nhiệm kỳ V (2002-2007), đạt trên 400 tỷ đồng, nhiệm kỳ VI (2007-2012) lên tới 2.879,432 tỷ đồng, tăng gấp gần 10 lần nhiệm kỳ trước. Trong nhiệm kỳ VIII, công tác từ thiện xã hội của Giáo hội Phật giáo có bước tiến vượt bậc. Chỉ trong 4 năm gần đây (2016-2019), tổng số kinh phí dành cho từ thiện xã hội của Phật giáo đã đạt trên 6.000 tỷ đồng, lớn hơn tổng kinh phí của tất cả các nhiệm kỳ trước.

Chủ trương, chính sách an sinh xã hội của Đảng rất phù hợp với tinh thần từ bi, hướng thiện của Phật giáo, đặc biệt, chủ trương xã hội hóa công tác an sinh xã hội tạo điều kiện rất thuận lợi để Phật giáo tham gia vào các nội dung của công tác này.

Cùng với sự gia tăng về kinh phí, các hoạt động từ thiện, nhân đạo, an sinh xã hội của Phật giáo ngày càng đa dạng, phong phú. Về bảo đảm thu nhập tối thiểu và giảm nghèo bền vững, Phật giáo tham gia vào các hoạt động như: Xây cầu, đào giếng, làm đường nông thôn, hỗ trợ gia đình chính sách, chiến sĩ biên phòng, nuôi dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; tham gia ủng hộ Quỹ đền ơn đáp nghĩa, chương trình nghĩa tình biển đảo, ủng hộ quỹ Cựu chiến binh, quỹ nạn nhân chất độc da cam, quỹ người mù, quỹ xóa đói giảm nghèo, quỹ hỗ trợ ngư dân,… Nhiều tự viện, Tăng Ni, Phật tử đã có sáng kiến tặng thẻ bảo hiểm y tế và đóng bảo hiểm xã hội cho người già cô đơn không nơi nương tựa, người nghèo, trẻ mồ côi…

Hoạt động trợ giúp xã hội được đẩy mạnh cả với trợ giúp đột xuất và trợ giúp thường xuyên. Với trợ giúp đột xuất, Phật giáo tập trung vào các hoạt động cứu trợ đồng bào nghèo vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc; thăm và tặng quà cho bệnh nhân trại phong, trại tâm thần, nhà dưỡng lão, người khuyết tật, nạn nhân chất độc da cam; tặng xe đạp cho học sinh nghèo; tổ chức bếp ăn từ thiện, nồi cháo tình thương cho bệnh nhân nghèo,… Cùng với trợ giúp xã hội trong nước, năm 2015, GHPGVN còn phát động đợt quyên góp cứu trợ động đất ở Nepal với số tiền quyên góp tương đương 552.700 USD và 4700 rupi.

Bên cạnh đó, Phật giáo ngày càng chú trọng tới các hoạt động bảo trợ thường xuyên, mang tính bền vững: Hình thành được hệ thống trường nuôi dạy trẻ, chăm sóc người già cô đơn, không nơi nương tựa, như: Tại Hà Nội có Trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật, trẻ bị nhiễm HIV chùa Bồ Đề; Lớp học tình thương chùa Đồng Cựu; TP. Hồ Chí Minh có 05 trường nuôi dạy trẻ mồ côi, khuyết tật; 04 cơ sở chăm sóc người già neo đơn, 13 lớp tình thương; Thừa Thiên – Huế có Trường dạy nghề miễn phí Tây Linh, trường Mầm non tư thục Diệu Đế, trường Mẫu giáo từ thiện Phú Lộc,… Nhìn chung, các cơ sở bảo trợ xã hội của Phật giáo khá khang trang, tiện ích. Hoạt động bảo trợ xã hội thường xuyên của Phật giáo đã đi vào nền nếp và mang lại hiệu quả cao.

Một trong những hoạt động hướng đến cộng đồng của Phật giáo được đánh giá cao là tổ chức các hoạt động trợ giúp cơ bản về y tế và chỗ ở cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn. Về chỗ ở, các chùa, tự viện là nơi thường xuyên tiếp nhận các cảnh đời cơ nhỡ, bất hạnh, không nơi nương tựa. Phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây”, Tăng Ni, Phật tử trong cả nước đã nhiệt tình hưởng ứng phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, trao tặng nhà tình nghĩa, tình thương cho các mẹ, các thương binh, bệnh binh, người nghèo neo đơn, xây dựng trung tâm bảo trợ dành cho người già neo đơn, trẻ em khuyết tật,… Về trợ giúp y tế, Tăng Ni, Phật tử nhiều nơi đã hăng hái tham gia các hoạt động hiến máu nhân đạo; quyên góp hỗ trợ mổ mắt miễn phí cho bệnh nhân bị đục thủy tinh thể; tổ chức các bếp ăn từ thiện, nồi cháo tình thương cho bệnh nhân nghèo,…

Nhiều nơi, Ban Trị sự Phật giáo đã thành lập trung tâm tư vấn, hỗ trợ người bị nhiễm HIV/AIDS. Đặc biệt, hệ thống Tuệ Tĩnh đường, phòng khám Đông y hoạt động rất hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho mọi người. Hiện nay, Phật giáo có 150 Tuệ Tĩnh đường, 655 phòng chẩn trị y học dân tộc, 01 phòng khám đa khoa và hàng trăm nhà thuốc nam, phòng châm cứu đang hoạt động ở nhiều tỉnh thành trong cả nước như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Cần Thơ, Thừa Thiên – Huế, Quảng Trị, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cà Mau,… Các cơ sở y tế này đã thực hiện khám bệnh và phát thuốc, châm cứu, bấm huyệt cho hàng chục nghìn lượt người bệnh.

Theo thống kê của GHPGVN, tính đến cuối năm 2020, cả nước hiện có 133 phòng khám Đông y với 206 lương y tham gia cộng tác, 10 phòng khám Tây y với 40 bác sĩ. Mỗi năm các cơ sở này chữa trị và cấp phát thuốc miễn phí cho hàng ngàn lượt bệnh nhân với số kinh phí lên đến hàng trăm tỷ đồng. Hàng năm, GHPGVN đều kết hợp với các y, bác sĩ tổ chức các đoàn khám, phát thuộc, chữa bệnh miễn phí cho đồng bào nghèo các địa phương, vùng dân tộc, vùng sâu, vùng sa. Các chương trình lớn như: Mổ mắt, đục thủy tinh thể, phẫu thuật tim, chữa hàm ếch…

Về giáo dục dạy nghề, theo thống kê của GHPGVN, tính đến cuối năm 2020, cả nước hiện có 02 trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề với 65 học viên và 06 giáo viên hướng dẫn giảng dạy; trên 1.500 trường, lớp tình thương với 20.000 em thiếu nhi theo học.

Về công tác bảo trợ xã hội, theo thống kê của GHPGVN, tính đến cuối năm 2020, cả nước hiện có 46 trung tâm nuôi dạy trẻ mồ côi với 1.329 trẻ em và 160 bảo mẫu; 15 trung tâm nuôi dưỡng người già neo đơn có 527 cụ già được chăm sóc và có 49 người trực tiếp chăm sóc.

Các cơ sở bảo trợ xã hội này đã góp phần quan trọng trong việc thực hiện xã hội hóa công tác trợ giúp xã hội, công tác nhân đạo đối với những đối tượng yếu thế. Góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội. Kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội được huy động từ cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước; góp phần chia sẻ với Nhà nước trong việc chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội; đạt được đồng thuận của cộng đồng, xã hội trong hoạt động bảo trợ xã hội.

Các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội của Phật giáo giáo được thành lập theo Nghị định số 68/2008/NĐ-CP hoạt động theo đúng quy định và đáp ứng tốt các tiêu chuẩn cơ sở vật chất, chăm sóc, dinh dưỡng và vui chơi, giải trí. Tuy nhiên, các cơ sở còn hạn chế trong công tác lập, quản lý hồ sơ theo dõi đối tượng; hỗ trợ đối tượng hòa nhập cộng đồng. Diện tích của nhiều cơ sở bảo trợ xã hội còn chật hẹp, chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc, nuôi dưỡng các đối tượng bảo trợ xã hội như người già cô đơn, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, người nhiễm HIV/AIDS…

Có thể khẳng định, các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội của Phật giáo ngày càng tăng về quy mô, mở rộng về đối tượng thụ hưởng, phong phú, đa dạng về hình thức thể hiện và linh hoạt, sáng tạo trong cách thức tiến hành. Quá trình hoạt động đã có sự phối hợp với chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội. Đặc biệt, đã thu hút được sự tham gia không chỉ của Tăng Ni, Phật tử mà còn của đông đảo người dân, doanh nghiệp, góp phần chia sẻ gánh nặng với Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề an sinh, phúc lợi xã hội; cùng Nhà nước và xã hội chung tay vì một xã hội tốt đẹp, mọi người dân có cuộc sống hạnh phúc.

2. NHẬN ĐỊNH

Trong bối cảnh đổi mới đất nước đạt được nhiều thành tựu, rất cần sự tham gia của toàn xã hội vào an sinh xã hội. Ở Việt Nam, Phật giáo là một tôn giáo lớn, không chỉ có số lượng tín đồ đông đảo, mà còn có ảnh hưởng sâu rộng trong xã hội, đó là điều kiện thuận lợi để Phật giáo tham gia tích cực vào công tác an sinh xã hội, góp phần chia sẻ gánh nặng với Nhà nước.

Chủ trương, chính sách an sinh xã hội của Đảng rất phù hợp với tinh thần từ bi, hướng thiện của Phật giáo, đặc biệt, chủ trương xã hội hóa công tác an sinh xã hội tạo điều kiện rất thuận lợi để Phật giáo tham gia vào các nội dung của công tác này.

Phát huy tinh thần phụng đạo yêu nước, thiết thân cùng xã hội, hiện hữu trong lòng dân tộc, quyết tâm giữ vững tinh thần độc lập dân tộc, “Phụng sự chúng sinh”, đồng thời, để phát huy vai trò thành viên trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện hữu hiệu phương châm hoạt động của Giáo hội: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”.

Các thành viên của GHPGVN các cấp, Tăng Ni, Phật tử cả nước đã tích cực tham gia các phong trào ích nước lợi dân, phúc lợi xã hội, bảo vệ môi sinh, môi trường sinh thái, xây dựng nếp sống mới trên địa bàn khu dân cư, ủng hộ quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam thân yêu; tích cực trong các mặt hoạt động từ thiện xã hội, xóa đói giảm nghèo, ủng hộ quỹ đền ơn đáp nghĩa, xây dựng nhà tình thương, tình nghĩa, cứu trợ đồng bào các tỉnh vùng sâu, vùng xa; tham gia ủng hộ công tác xây dựng trường học, lớp học, phòng học tại các vùng sâu vùng xa, đắp lộ hàng chục km, xây hàng trăm cây cầu, hàng trăm giếng nước sạch. Nổi bật nhất là bếp ăn từ thiện, nồi cháo tình thương giúp đỡ cho bệnh nhân nghèo tại các bệnh viện được các tự viện, các nhóm Phật tử thực hiện thường xuyên; động viên con em gia đình Phật tử thi hành nghĩa vụ quân sự, làm tròn bổn phận công dân đối với đất nước và xã hội.

GHPGVN tiếp tục động viên, khích lệ Tăng Ni, Phật tử tham gia các hoạt động xã hội hóa giáo dục, y tế và từ thiện xã hội, bảo trợ xã hội theo nghị quyết Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra, trong đó đẩy mạnh các hoạt động mà GHPGVN có thế mạnh như công tác từ thiện xã hội, chăm sóc đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…

Tiếp tục nhân rộng và phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng các khóa tu học mùa hè dành cho thanh thiếu nhi ở các tỉnh thành có tổ chức GHPGVN. Trong chương trình tu học cần đưa vào các bài học về ứng xử có văn hóa, nhân văn, lòng tôn trọng, biết ơn đối với tổ tiên, các truyền thống hay đẹp của địa phương cũng như của dân tộc, giống nòi về lịch sử, văn hóa, nghệ thuật; các giá trị sống mang tính nhân văn…

Thường xuyên tổ chức việc thăm viếng và tặng quà các gia đình có công với đất nước, thương bệnh binh, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em khuyết tật, mồ côi, trại dưỡng lão, hội những người khiếm thị, người bị phơi nhiễm chất độc da cam… trong các dịp lễ cổ truyền của dân tộc và đại lễ của Phật giáo. Hướng đến các đối tượng trong cộng đồng cần đến giáo dục Phật giáo chuyển hóa, hỗ trợ, nâng đỡ như những người đang thụ án, các trung tâm giáo dục phục hồi nhân phẩm… bên cạnh việc giáo dục Phật học cho Tăng Ni, Phật tử.

Tiếp tục phối hợp với các y, bác sĩ, các cơ sở y tế để thực hiện các chương trình y tế từ thiện cho bệnh nhân nghèo, bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn ở các địa phương trong cả nước; phát huy giá trị tích cực của các phòng chẩn trị đông y trong hoạt động khám chữa bệnh; thường xuyên phối hợp với các cơ quan chức năng để kiểm tra định kỳ, đảm bảo việc khám chữa bệnh cho người dân an toàn, hiệu quả.

3. KIẾN NGHỊ

Đối với cơ quan nhà nước

(1) Tăng cường cơ chế phối hợp của các cơ quan nhà nước như: Ban Tôn giáo Chính phủ, Bộ Lao động Thương binh, xã hội, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng những các địa phương trong việc tuyên truyền, hướng dẫn các cơ sở tôn giáo tham gia các hoạt động xã hội hóa y tế, giáo dục và từ thiện xã hội hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.

(2) Chính phủ giao các ngành chức năng liên quan tăng cường việc quản lý đối tượng từ việc tiếp nhận, lập hồ sơ quản lý đối tượng, chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở; tổ chức thực hiện chế độ trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội đang được chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở ngoài công lập theo quy định; tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ công tác xã hội cho các cơ sở thuộc tổ chức tôn giáo trong lĩnh vực hoạt động trợ giúp xã hội.

(3) Hoàn thiện, bổ sung các văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động xã hội hóa y tế, giáo dục và từ thiện xã hội, trên cơ sở đó vận động, tuyên truyền chức sắc, tín đồ Phật giáo thực hiện đúng các quy định của pháp luật khi tham gia các hoạt động trên.

(4) Các cơ quan chức năng liên quan đề định kỳ tổ chức bồi dưỡng kiến thức pháp luật cũng như đào tạo kiến thức chuyên ngành liên quan đến các hoạt động giáo dục, y tế, từ thiện xã hội và bảo trợ xã hội; tích cực thực hiện văn minh, văn hóa trong việc tổ chức các hoạt động lễ hội Phật giáo.

(5) Tổ chức các buổi tuyên truyền, truyền thông đến Tăng Ni, Phật tử để hưởng ứng và tích cực tham gia các phong trào như: Thực hiện Năm văn minh đô thị; Nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ khi tham gia giao thông; Cam kết sản xuất, tiêu dùng các sản phẩm đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm; tham gia bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu…

(6) Tổ chức kiểm tra, thanh tra các cơ sở của Phật giáo tham gia các hoạt động xã hội hóa y tế, giáo dục và các hoạt động từ thiện xã hội, bảo trợ xã hội để kịp thời phát hiện, đề xuất giải pháp khắc phục khó khăn.

Đối với GHPGVN

(1) Tổ chức tổng kết, đánh giá về công tác xã hội hóa giáo dục, y tế và từ thiện xã hội của giáo hội trong vòng 10 năm trở lại đây, qua đó nêu lên những mặt làm được và những mặt chưa làm được. Theo đó, trong phương hướng hoạt động, GHPGVN sẽ xem xét và chấn chỉnh lại các mặt về công tác lãnh đạo – tổ chức thực hiện, nội dung hoạt động.

(2) Tập trung nâng cao chất lượng và hiệu quả hơn nữa của các chương trình chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Những chương trình từ thiện xã hội như: Cứu tế an sinh tuy là cần thiết nhưng không nên đầu tư quá nhiều kinh phí cho chương trình mà nên chăng cần có những dự án có tính khoa học hơn, tập trung hơn, mang tính dài hạn hơn như dự án giúp dân xây dựng cầu đường, giếng nước, trường trạm, nhà cửa cho người nghèo sẽ thiết thực và ý nghĩa lớn lao hơn, để lại được nhiều dấu ấn hơn.

Có thể khẳng định, các hoạt động từ thiện, an sinh xã hội của Phật giáo ngày càng tăng về quy mô, mở rộng về đối tượng thụ hưởng, phong phú, đa dạng về hình thức thể hiện và linh hoạt, sáng tạo trong cách thức tiến hành.

(3) GHPGVN chỉ đạo các Tăng Ni, cơ sở tự viện tham gia hoạt động xã hội hóa y tế, giáo dục và từ thiện xã hội tiếp tục giữ mối liên hệ với các ngành chức năng (Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Y tế, Sở Lao động Thương binh và Xã hội…) để được hướng dẫn và giúp đỡ về mặt chuyên môn nghiệp vụ, thực hiện các hoạt động từ thiện xã hội theo đúng quy định của pháp luật; hoàn thiện, bổ sung những vấn đề còn tồn tại để thực sự đem lại hiệu quả trong các hoạt động này.

(4) Ban hành các “Quy chế hoạt động” về lĩnh vực giáo dục, y tế và từ thiện xã hội, bảo trợ xã hội, quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở giáo dục, tự viện, cá nhân Tăng Ni trong tham gia xã hội hóa giáo dục, y tế và từ thiện xã hội.

 

 

Chú thích:

* Thạc sĩ Nguyễn Phúc Nguyên – Nguyên Vụ trưởng Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ).

 

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2003), Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo, Hà Nội.

2. Bộ Chính trị (2018), Chỉ thị số 18-CT/TW về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX về công tác tôn giáo trong tình hình mới, Hà Nội.

3. Ban Tôn giáo Chính phủ (2006), Tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.

4. Ban Tôn giáo Chính phủ (2007), Văn bản pháp luật Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb Tôn giáo, Hà Nội.

5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.

6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị Quốc gia – Sự thật, Hà Nội.

Nguồn lực của Phật giáo Việt Nam đối với đời sống xã hội và phát triển đất nước – nhận định và những vấn đề đặt ra trong công tác quản lý nhà nước (ThS. Nguyễn Phúc Nguyên)

Trả lời