Bối cảnh trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở nước ta những thế kỷ đầu Công nguyên (Hưng Trung)


Vào những thế kỷ đầu Công nguyên, trên lãnh thổ của đế quốc Hán đã tồn tại ba trung tâm Phật giáo lớn là: Lạc Dương, Bành Thành và Luy Lâu. Trong đó, Luy Lâu dường như là trung tâm ra đời sớm nhất so với hai trung tâm còn lại. 

TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO Ở TRUNG HOA VÀ GIAO CHỈ THỜI ĐẦU CÔNG NGUYÊN

Trước khi phát triển mạnh mẽ và rộng khắp, Phật giáo ở Trung Hoa quy tụ thành hai khu vực chính xung quanh Lạc Dương và Bành Thành. 

Lạc Dương vào thời nhà Đông Hán là kinh đô của vương triều Hán, xây dựng trên bờ sông Lạc (Lạc Thủy), ở mạn Nam sông Hoàng Hà, nay thuộc tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Sử sách ghi lại rằng, vào thế kỷ II, vua Hán Hoàn Đế (lên ngôi năm 165) đã tiếp xúc với Phật giáo và thờ Phật Thích Ca trong cung điện. Mặc dù, nhà vua vẫn còn lui tới nơi thờ tự Lão Tử nhưng việc thờ Phật cho thấy Phật giáo bước đầu đã có vị thế trong triều đình nhà Hán như một hệ tư tưởng mới, giải đáp thắc mắc về tâm linh giải thoát khổ đau cho quý tộc nhà Hán. Trong thành Lạc Dương đã xuất hiện việc dịch kinh Phật từ tiếng Phạn do các nhà sư Thiên Trúc, Trung Á và Trung Hoa đảm nhiệm. Nhà sư An Tức và An Thế Cao, An Huyền cùng phiên dịch kinh điển với An Phú Điều (người Hán). Hai ngôi chùa lớn nhất là Bạch Mã và Hứa Xương cũng được xây dựng tại Lạc Dương.

Bành Thành là đất xưa của nước Sở, nằm ở hạ lưu sông Trường Giang (nay thuộc tỉnh Giang Tô). Từ giữa thế kỷ I, sử sách đã ghi nhận hiện tượng một số nhà quý tộc vừa sùng kính đạo Lão vừa sùng thượng Phật giáo. Hậu Hán Thư của Ban Cố viết, Sở vương Lưu Anh (con vua Hán Quang Vũ) di cư đến Bành Thành và tại đây ông “tụng niệm lễ cao siêu của Hoàng Lão và sùng thượng ý nhân từ của Phật Giáo”. Ông còn ăn chay, sám hối và cúng dường. Đến năm 65, tại Bành Thành đã có một tổ chức Phật giáo gồm các nhà sư ngoại quốc và cư sĩ người Hán. 

Luy Lâu là trị sở của Giao Chỉ, nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Từ Luy Lâu có tuyến thủy bộ nối với Bành Thành và Lạc Dương. Các thương nhân Ấn Độ và Trung Á đến đây buôn bán từ rất sớm và theo sau họ là các nhà Sư đến truyền đạo. Sách sử nhà Hán không có nhiều ghi chép về tình hình Luy Lâu vì đây là nơi biên viễn, nội thuộc lỏng lẻo. Song sự phát triển của Phật giáo ở Luy Lâu rất quan trọng, bởi nơi đây phát xuất tác phẩm Phật giáo sớm nhất viết bằng chữ Hán: “Lý hoặc Luận” của Mâu Tử viết vào thế kỷ II. 

Truyện Chử Đồng Tử của nước ta có kể về việc Đồng Tử gặp nhà sư Ấn Độ và tu hành theo lời dạy của Ngài. Đó có thể là bằng chứng dân gian khá sớm về việc Phật giáo đã ảnh hưởng đến dân tộc ta hồi đầu Công nguyên. Trong sách Ngô chí có chép một bức thư của Viên Huy gửi Thượng thư lệnh Tuyên Húc năm 207, có đoạn khen Thái thú Giao Châu là Sĩ Nhiếp gìn giữ sự ổn định nơi đây trong hơn 20 năm. “Khi ra vào thì chuông khánh được đánh lên, uy nghi đủ hết, kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe đốt hương thường có mấy mươi người” [1]. Người Hồ ở đây chỉ các nhà sư Ấn Độ, lúc bấy giờ đã có nhiều nhà sư như vậy truyền đạo ở Giao Châu và bản thân Sĩ Nhiếp cũng mộ đạo nên thường đi cùng chư Tăng. 

Tác phẩm “Lý hoặc Luận” của Mâu Tử cũng có thể cung cấp một khía cạnh khác về tình hình đạo Phật ở Giao Châu. Theo đó, số lượng tu sĩ Phật giáo nơi đây đã khá đông đảo. Kết hợp với việc dịch kinh của sư Khương Tăng Hội (khoảng năm 200-247) cho thấy, ít nhiều tại Giao Châu, Phật giáo phổ biến và trường lớp dạy Phật học quy tụ tương đối đông người học. Trong bài tựa kinh An Ban Thủ Ý do ông dịch và chú giải, ông viết: “Tăng Hội tôi, sinh ra mới tới tuổi vác nổi bó củi thì cha mẹ đã qua đời. Bậc tam sư cũng đã theo nhau khuất núi. Mỗi khi ngước nhìn mây trời thường không khỏi cảm thấy xúc động, buồn thương rơi lệ” [2].

“Bậc tam sư” được nhắc đến ở đây là ba vị sư (Hòa thượng, Yết ma, Giáo thụ) làm chủ lễ thụ giới cho Khương Tăng Hội. Ở Trung Hoa, từ giữa thế kỷ III trở đi khi thụ giới cần đến bậc tam sư. Ngoài ra, Lương Cao Tăng truyện cho biết song thân của sư Tăng Hội là người Khương Cư (Trung Á) sang Giao Châu làm nghề buôn bán, khi ông lên mười tuổi thì cả cha và mẹ đều qua đời. Như vậy, có thể thấy, Khương Tăng Hội đã xuất gia, học Phật ở Giao Châu, đồng thời tinh thông cả Hán và Phạn ngữ ở đấy, chú giải, trước tác sách vở ở Giao Châu, rồi sau mới đến Giang Đông truyền đạo.

Một tài liệu khác là Thiền Uyển Tập Anh ghi chép về tình hình Phật giáo Luy Lâu rõ nét hơn. Sách viết, khi Thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan) nhà Lý hỏi Thiền sư Trí Không (tức Quốc sư Thông Biện) về thời gian đạo Phật truyền đến nước ta. Ngài đã trình bày vắn tắt lịch sử rồi dẫn lời sư Đàm Thiên (người Trung Quốc) trả lời Tùy Văn Đế về Phật giáo Giao Châu: Một phương Giao châu, đường thông Thiên Trúc, Phật pháp lúc mới tới, thì Giang Đông chưa có, mà Luy Lâu lại dựng chùa hơn 20 ngôi, độ Tăng hơn 500 người, dịch kinh 15 quyển, vì nó có trước vậy. Vào lúc ấy, thì đã có Khâu Đà La, Ma La Kỳ Vực, Khương Tăng Hội, Chi Cương Lương, Mâu Bác tại đó [3]. Mãi đến cuối thế kỷ VI, Pháp Hiền Thượng sĩ (dòng Tì Ni Đa Lưu Chi) vẫn dạy dỗ đồ chúng hơn 300 người tại chùa Chúng Thiện vùng Luy Lâu. 

Thời điểm hình thành trung tâm Phật giáo Luy Lâu rất có thể do ảnh hưởng của tư trào Đại thừa Phật giáo Ấn Độ bắt đầu từ đầu Công nguyên. Đây là một tư trào Phật giáo rất năng động và tích cực, kết hợp sự nhuần nhuyễn phóng khoáng, không cố chấp với một nhiệt tình sôi nổi, không quản ngại gian khổ, hy sinh. Sự truyền bá Phật giáo Đại thừa mang hai đặc điểm lưu ý:

Thứ nhất, đó là sự xâm nhập hòa bình không kèm theo xâm lăng quân sự. Các vương quốc Ấn Độ hóa hình thành rải rác tại bán đảo Mã Lai, quần đảo Indonesia và Đông Dương những thế kỷ đầu Công nguyên thật ra là độc lập với các vương triều Ấn Độ, dù tại triều đình của các vương quốc này có nhiều cố vấn, quan lại, tu sĩ Phật giáo người Ấn. 

Thứ hai, sức ảnh hưởng của Phật giáo với các vương quốc Ấn Độ hóa là lớn lao so với ảnh hưởng của đạo Bà La Môn. Bởi Phật giáo nhấn mạnh đến tính bình đẳng, không phân biệt đẳng cấp, chủng tộc, dân tộc. Vì vậy, Phật giáo du nhập vào bất cứ đất nước, dân tộc nào cũng dễ dàng thích ứng với phong tục, tập quán và hoàn cảnh lịch sử của nơi đó. Những đặc tính ưu việt này của Phật giáo lại càng được tăng cường với sự xuất hiện của Phật giáo Đại thừa. Văn hệ Bát nhã tiêu biểu cho làn sóng đầu tiên của Đại thừa xuất hiện lần đầu ở miền Nam Ấn Độ rồi phát triển lên phía Bắc, vượt qua biên giới núi non và hoang mạc hiểm trở, đến hành lang Trung Á và Trung Hoa, phía biển thì dong buồm thẳng đến Đông Nam Á, trong đó có Đông Dương rồi cũng lại đến Trung Hoa. Rõ ràng, tất cả các hải cảng vùng Đông Ấn đều tham gia vào sự nghiệp chung truyền bá văn minh Ấn Độ ra ngoài Ấn Độ nhưng các hải cảng phía Nam Ấn cống hiến nhiều nhất cho sự nghiệp đó [4].

VAI TRÒ KINH TẾ, CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA QUAN TRỌNG CỦA LUY LÂU

Như vậy, trong các thế kỷ đầu Công nguyên, Phật giáo ở Luy Lâu đã là một hiện tượng phổ biến và khá thịnh vượng. Được như vậy là do vị trí đắc địa của vùng trong tương quan địa chính trị khu vực.

Luy Lâu (có gốc là Dâu, phiên âm Hán Việt là Luy Lâu) là một trong ba thị trấn cổ (Cổ Loa, Long Biên, Luy Lâu) của nước ta thời cổ, nằm trên bờ sông Dâu, cách sông Đuống 5km về phía Bắc. Luy Lâu có nghề trồng dâu nuôi tằm rất phát triển, tơ lụa, vải vóc được làm ra nhiều. Nhiều con đường thủy bộ quan trọng của nước ta bấy giờ đều qua Luy Lâu. Con đường bộ đi Phả Lại, Đông Triều, Quảng Ninh đến biên giới Việt-Trung. Con đường thủy từ Dâu nối sông Đuống, sông Hồng ra biển, hoặc nối với sông Lục Đầu, sông Thái Bình ra biển. Vị trí giao thông tiện lợi đó đã khiến Luy Lâu trở thành một trung tâm kinh tế sầm uất. Nông thổ sản, sản phẩm thủ công mỹ nghệ của đồng bằng sông Hồng được tập trung về đây. Rồi từ đây, vải vóc, đồ thủy tinh, đồ sành sứ, đường mật… của đồng bằng lại ngược lên vùng trung du và miền núi. Khách buôn người Hán lẫn Ấn Độ, Trung Á cũng tìm đến đây để trao đổi, mua bán. Hàng hóa họ mua được, phần thì đưa về nước mình, phần thì tiếp tục theo đoàn để buôn bán ở các nơi khác. 

Trong các thế kỷ đầu Công nguyên, Phật giáo ở Luy Lâu đã là một hiện tượng phổ biến và khá thịnh vượng. Được như vậy là do vị trí đắc địa của vùng trong tương quan địa chính trị khu vực.

Luy Lâu đã là trung tâm thương mại lớn mang tính quốc tế, cho nên người ngoại quốc ngụ cư hay qua lại rất đông. Các đoàn sứ thần những vương quốc phía Nam trước khi đến kinh đô Lạc Dương của vương triều Hán, hoặc đến Trường An, Kiến Nghiệp (Nam Kinh) đều dừng lại một thời gian ở Luy Lâu để thăm hỏi tình hình Trung Nguyên. Điều đó càng hợp với Tăng sĩ Ấn Độ hay Trung Á dự định đến Trung Hoa truyền giáo. Họ ở lại Luy Lâu làm quen với ngôn ngữ, văn tự và phong tục tập quán người Hán. Tại Luy Lâu, họ có thể bắt đầu dịch kinh điển từ Sanskrit sang chữ Hán dựa vào sự cộng tác của Tăng sĩ người Việt vừa giỏi chữ Hán vừa tinh thông chữ Phạn. Ở chiều ngược lại, Tăng sĩ người Hán muốn nhập Trúc cầu pháp cũng thường ghé Luy Lâu để học tiếng Phạn và tiếp xúc với chư Tăng Ấn Độ ở Giao Châu, thông qua họ tìm lộ trình thuận lợi nhất để đi sang Ấn Độ.

Không chỉ là trung tâm kinh tế và văn hóa, Luy Lâu còn là trung tâm chính trị của chính quyền đô hộ phương Bắc trong nhiều thế kỷ. Nhà Hán sau khi chiếm được nước Nam Việt của Triệu Đà đã giữ Luy Lâu làm trị sở của Giao Chỉ. Trong sách sử của nhà Hán chép tên 10 huyện của Giao Chỉ, Luy Lâu là cái tên đầu tiên. Mùa xuân năm 40, cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ, nhân dân tiến công Luy Lâu, Thái thú Tô Định phải bỏ chạy. Sau khi đàn áp cuộc khởi nghĩa, nhà Hán tiếp tục xây dựng lại trị sở mới ở Luy Lâu. Đến năm 142, Thái thú Châu Xương do lo sợ mối đe dọa từ các cuộc khởi nghĩa nên dời trị sở về huyện Long Biên, rồi đến cuối thế kỷ II lại dọn về trị sở Luy Lâu như trước. Vào thời gian này, Sĩ Nhiếp nhậm chức Thái thú Giao Châu. Với ý đồ muốn khoanh vùng quyền lực, hạn chế ảnh hưởng của động loạn chính trị từ Trung Nguyên, Sĩ Nhiếp bỏ nhiều công sức để xây dựng Luy Lâu thành một đô thị lớn, một thành lũy vững chắc. Sau khi Sĩ Nhiếp qua đời, con trai là Sĩ Ngẩm (Sĩ Hâm) lên thay cha, chưa kịp thực hiện ý định gì thì nhà Hán sụp đổ, Giao Châu rơi vào tay nhà Ngô, Sĩ Ngẩm chống cự lại mệnh lệnh của nhà Ngô nên bị diệt tộc. Trị sở bị dời khỏi Luy Lâu, từ đó Luy Lâu trở thành một huyện lị. Đến thời nhà Đường, trị sở mới của đô hộ phủ đặt tại thành Tống Bình rồi lại dời về Luy Lâu như trước. Đến năm 824, viên đô hộ Lý Nguyên Hỷ rút khỏi Luy Lâu. Sách Đại Việt Sử ký toàn thư chép về việc này như sau: “Mùa đông tháng 11 năm 824, Lý Nguyên Hỷ nhận thấy cửa đô thành, có một con sông nước chảy ngược, cho rằng cư dân hay nảy ý phản loạn, bèn chuyển về địa điểm thành Tống Bình”. 

Trải qua nhiều thế kỷ là trị sở của Giao Chi, Luy Lâu có điều kiện truyền bá và phát triển đạo Phật. Tuy kẻ đô hộ ở đây là người phương Bắc, vốn mang thế giới quan Nho giáo, đạo Lão và phương thuật phương Bắc, nhưng thực tế, họ không thể không thừa nhận ưu thế của Phật giáo so với các tư tưởng đương thời, đặc biệt về con đường giải thoát khỏi đau khổ trầm luân. Điều đó khiến tầng lớp thống trị dần dần đi đến chuyển biến trong nhận thức và thái độ, nhận thấy Phật giáo là hay, là cần thiết, từ đó cho phép người Thiên Trúc lập am, tự, viện, truyền đạo, lại còn mời họ đến giảng đạo cho mình. Tình hình đó đã ảnh hưởng đến thuộc viên người bản xứ và dân chúng quanh vùng. Số lượng người dân theo đạo Phật càng lúc càng đông đảo. 

Từ trung tâm kinh tế và chính trị, Luy Lâu có điều kiện trở thành trung tâm văn hóa. Người Hán có học, do chạy loạn ở phương Bắc hay do mến mộ phương trời thanh bình đã tụ họp về đây. Những thương nhân Ấn Độ, Trung Á, Java… đến đây cũng là những người có kiến thức và giàu có. Cái họ mang đến không chỉ là hàng hóa cần thiết cho trao đổi mà còn là kiến thức mọi mặt của quê hương xứ sở của họ như: Thiên văn, y học, nông học, phong tục tín ngưỡng… Luy Lâu vô hình trung trở thành một nơi hội tụ của các luồng văn hóa. Ngôn ngữ ở Giao Châu, tiếng Phạn, tiếng Hán đều có dịp được sử dụng trong buôn bán và truyền đạo. Số người thông thạo cả ba ngôn ngữ chắc hẳn phải đông, có lợi cho việc giảng và dịch kinh điển Phật giáo về sau. 

Phật giáo bấy giờ có một số nét đặc sắc do bản địa hóa. Người dân chất phác quan niệm Phật như một vị thần có thể hiểu thấu mọi suy tư, hành vi của con người, có thể cứu giúp người tốt và trừng trị kẻ xấu, đó là nguyên mẫu hình tượng Bụt văn hóa dân gian Việt Nam. Phật lại cũng có rất nhiều phép lạ, như hình tượng Tứ Pháp của Luy Lâu. Phật giáo đã góp phần tạo cho vùng Dâu nói riêng và đồng bằng Bắc Bộ nói chung một hình tượng thân thương và tốt đẹp mà người dân không bao giờ quên. 

THAY LỜI KẾT

Phật giáo ở Luy Lâu là bước sơ khởi nhưng vững chãi của công cuộc du nhập Phật giáo vào nước ta, tương hợp với tâm lý và thế giới quan của người dân chất phác, lương thiện vùng đồng bằng sông Hồng. Vì vậy, Phật giáo đã có sức sống bền vững duy trì mãi đến ngày nay. Luy Lâu đã trở thành trung tâm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam, vừa có tính chất giai đoạn, vừa có tính chất trường cửu trong lịch sử lâu dài của Phật giáo nước ta.

 

 

Chú thích:

[1] Nguyễn Tài Thư (Chủ biên) (2022), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Nxb. Đại học Sư phạm, tr.34.

[2] Tham khảo thêm tác phẩm Thiền sư Khương Tăng Hội của Thiền sư Thích Nhất Hạnh, Nxb. Phương Đông.

[3] Tham khảo thêm Lê Mạnh Thát (2006) (dịch), Thiền Uyển Tập Anh ngữ lục, Quyển thượng, Nxb. Phương Đông. 

[4] Louis de La Vallée Poussin (1935), Dynasties ett Histoire de l’Inde depuis Kanishka jusqu’aux invasión musulmanes, Boccard, Paris, p.293.

Bối cảnh trung tâm Phật giáo Luy Lâu ở nước ta những thế kỷ đầu Công nguyên (Hưng Trung)

Trả lời