Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt (TT. Thích Chiếu Tuệ)


LTS: Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo trân trọng trích đăng bài viết Ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt của Thượng tọa Thích Chiếu Tuệ. Đây là bài tham luận trích từ Hội thảo Phát huy vai trò của Tăng, Ni Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với Hội đồng Trị sự GHPGVN, Ban Tôn giáo Chính phủ (Bộ Nội vụ), tổ chức vào tháng 1/2022.

Thờ tự Tổ tiên cũng có nghĩa là biết ơn, tưởng nhớ đến công lao của người đã khuất, đó là truyền thống, là tinh thần uống nước nhớ nguồn.

Tóm tắt: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt có nguồn gốc từ  rất lâu đời, khởi nguồn từ thời thị tộc phụ hệ trên nền tảng tinh thần hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn và những tâm nguyện tâm linh được tổ tiên phù hộ. Qua 2.000 năm du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã ảnh hưởng một cách toàn diện lên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên ở phương diện tư tưởng quan điểm, nghi lễ, thờ cúng, kiến trúc,… giúp tín ngưỡng truyền thống này loại bỏ đi những vấn đề tồn đọng, bồi đắp và đưa các giá trị tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt lên một tầm cao với những hệ giá trị mới. Trong xã hội Việt Nam hiện đại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên là một trong những cốt lõi của văn hóa truyền thống; giáo dục thế hệ trẻ về tinh thần hiếu đạo, tôn sư trọng đạo; là linh hồn trong việc gắn kết “đồng bào” trong cả nước, tạo nên sức mạnh đại đoàn kết của 54 dân tộc anh em, từ đó phát huy tinh thần dân tộc.

Từ khóa: tín ngưỡng, thờ cúng tổ tiên, văn hóa Việt Nam.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong mỗi làng quê Việt Nam, đều có ba hình ảnh đặc trưng là: Mái chùa, đình thờ Thành hoàng làng, ban thờ gia tiên (từ đường thờ tổ tiên). Ba hình ảnh này đã trở thành biểu tượng văn hóa làng xã, biểu tượng văn hóa tâm linh người Việt nói chung và từng làng quê Việt Nam nói riêng. Đạo Phật vốn luôn đồng hành cùng dân tộc từ khi du nhập và có ảnh hưởng sâu rộng đến các lĩnh vực trong đời sống, trong đó có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Vì vậy, việc xác định ảnh hưởng của Phật giáo đối với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên hết sức quan trọng, từ đó đề cao giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội Việt Nam hiện đại là điều cần thiết, nhằm phát huy sức mạnh mềm mang tính cốt lõi về văn hóa – đạo đức – tín ngưỡng trong xã hội. Đề tài tham luận đưa ra các nhóm giải pháp nhằm đưa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tiếp tục trở thành nét đặc sắc trong văn hóa tâm linh người Việt; giáo dục tinh thần hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn; phát huy sức mạnh mềm của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong việc gắn kết 54 dân tộc anh em thành một khối trong tình “đồng bào” ruột thịt. Đặc biệt có những đề xuất về việc đưa ngày giỗ tổ Hùng Vương 10/3 âm lịch hằng năm trở thành một trong những ngày vui trọng đại nhất của dân tộc.

“Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”.
(Ảnh: sưu tầm)

NGUỒN GỐC TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN CỦA NGƯỜI VIỆT

Khái niệm “tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên”

Theo Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những lễ nghi gắn liền với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo nghĩa hẹp là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng những người cùng huyết thống trong gia đình, dòng họ. Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên theo nghĩa rộng là hoạt động tín ngưỡng thờ cúng những thế hệ đi trước, hoặc thờ cúng những thế hệ đi trước có công lao với thế hệ đi sau ở những lĩnh vực nhất định, có phạm vi không chỉ gia đình mà bao hàm cả dòng họ đến các làng xã, rộng hơn nữa là đất nước. Cho nên phạm vi thờ cúng tổ tiên rất rộng, từ việc thờ gia tiên trong gia đình, đến việc thờ họ, thờ Thành hoàng làng, thờ Tổ nghề, thờ Tổ làng, thờ Tổ môn phái võ, thờ Tổ khai sơn, thờ Tổ trong chùa, thờ Mẫu Liễu Hạnh, Chử Đồng Tử, Trần Hưng Đạo, thờ Thánh Gióng, thờ vua Hùng, thờ mẹ Âu Cơ,… Tất cả đều là hoạt động thờ cúng tổ tiên.

Thờ cúng tổ tiên, không chỉ là một loại hình tín ngưỡng, mà còn là phong tục mang nét văn hóa đặc sắc của dân tộc Việt Nam. Quả thực, đúng như tác giả Bùi Thu Hiền trong cuốn Một số nét đặc sắc trong văn hóa vùng miền Việt Nam đã khẳng định: “Từ lâu thờ cúng tổ tiên ông bà đã trở thành một phong tục, là chuẩn mực đạo đức và nguyên tắc làm người, đồng thời là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh người Việt Nam, đặc biệt là cuộc sống ở các làng quê”. Như vậy, về mặt bản chất thờ cúng tổ tiên của người Việt vừa là một phong tục văn hóa đặc sắc của dân tộc, vừa là một loại hình hình tín ngưỡng tôn giáo.

Nguồn gốc tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt có nguồn gốc từ truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, “Sống tết, chết giỗ” của người Việt. Về mặt vận động xã hội, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt có khởi nguồn từ chế độ thị tộc phụ quyền nguyên thủy, sau đó là xã hội tiểu nông phụ quyền. Người đàn ông có tiếng nói quyền uy trong gia đình, từ đó tư duy dòng họ ra đời, người con sinh ra đời mang dòng họ cha, từ đó thờ cúng tổ tiên dòng họ được xác lập. Về nguồn gốc duy nhận thức, người xưa lại quan niệm con người có hai phần “phần hồn và phần xác”, và quan niệm “trần sao âm vậy”, nên việc thờ cúng tổ tiên cũng là thỏa mãn tâm nguyện tâm linh mong được tổ tiên phù hộ. Về mặt tâm lý tình cảm, thì việc thờ cúng tổ tiên của người Việt cũng có xuất phát điểm từ tinh thần hiếu đạo, tôn sư trọng đạo, hiếu kính với cha mẹ, nên việc thờ cúng tổ tiên còn là việc thể hiện lòng hiếu thảo, biết ơn đến cha mẹ và những bậc ông bà tổ tiên đi trước. Quan điểm hiếu đạo trong việc thờ cúng tổ tiên cũng được bổ sung bởi quan điểm của Phật giáo và Nho giáo.

Tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên có nguồn gốc từ thờ thời xã hội thị tộc phụ quyền trên nền tảng tinh thần hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn của dân tộc và những tâm tư nguyện vọng của người dân muốn được Tổ tiên che chở.

ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN NGƯỜI VIỆT

Phật giáo du nhập vào Việt Nam những năm đầu kỷ nguyên. Với tinh thần từ bi, bình đẳng, giác ngộ, nhân bản, nhân văn, tôn trọng tín ngưỡng bản địa, Phật giáo đã giúp các tín ngưỡng bản địa loại bỏ những tồn tại, bồi đắp, bổ trợ thêm những giá trị mới. Với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, Phật giáo tiếp tục tôn vinh giá trị truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” của người Việt, nâng cao giá trị “đạo hiếu”, bổ trợ định hướng về tinh thần trong cách thờ cúng tổ tiên.

Trên dưới 2.000 năm giao thoa, dung hợp, bổ trợ, tinh thần Phật giáo ảnh hưởng một cách toàn diện đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Dưới đây là những ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt: 

Thứ nhất, về tư tưởng quan điểm: Một trong những giá trị chủ đạo của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt là tinh thần hiếu đạo, dân gian có câu “Sống tết, chết giỗ”, “Chim có tổ người có tông/ Như cây có cội như sông có nguồn” hay “Công cha như núi Thái Sơn/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra/ Một lòng thờ mẹ kính cha/ Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con”,… Phật giáo đã nâng cao các giá trị hiếu đạo bằng các quan điểm: “Tâm hiếu là tâm Phật, hạnh hiếu là hạnh Phật”, “Trong gia đình mỗi người có hai vị Phật, đó chính là cha và mẹ mình”, “Tội ác lớn nhất của đời người là bất hiếu”; “Ai thành tự thân làm ác với cha mẹ, lời nói ác đối với cha mẹ, ý nghĩ ác đối với cha mẹ; không biết ơn, không trả ơn, sẽ tương xứng rơi vào địa ngục và hiện đời sẽ bị đau khổ”,…

Từ sự bổ sung tư tưởng của Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt có thêm quan điểm: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa”, “Tu đâu cho bằng tu nhà/ Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”. Quan điểm này có ý nghĩa, chữ hiếu chính là gốc của đạo đức, muốn tu được chùa, muốn làm được việc đời, trước hết phải tu chữ hiếu, phải hoàn thành bổn phận đạo làm con, phải có hiếu với cha mẹ.

Thứ hai, về khía cạnh nghi lễ: Hiện gần như 90% nghi lễ thờ cúng tổ tiên của người Việt đang mang màu sắc Phật giáo. Các khoa cúng tổ tiên của người Việt được soạn theo ngôn ngữ nghi lễ Phật giáo, sử dụng các loại hình thần chú của Phật giáo,… Các nghi thức tang ma đều được thực hiện theo tinh thần Phật giáo. Đặc biệt các lễ như lễ tuần thất, tuần 35, 49, lễ cầu siêu – là những nghi lễ quan trọng không thể thiếu với một người đã mất, đều là những nghi lễ thuần túy Phật giáo; hay lễ cầu siêu phả độ gia tiên, lễ Vu lan báo hiếu – đều mang màu sắc thuần túy Phật giáo. Đặc biệt, từ xưa đến nay, câu cửa miệng khi lễ tổ tiên của người Việt cho dù theo hay không theo đạo Phật đều là câu “Nam Mô A Di Đà Phật”, kèm theo đó là hình thức “chắp tay búp sen” (một nghi thức, phong cách chào, lễ của Phật giáo) để khấn vái tổ tiên. Kể cả các pháp khí thờ cúng tổ tiên như chuông mõ cũng đều thuộc Phật giáo. Phật giáo đã và đang đơn giản hóa các nghi lễ thờ cúng tổ tiên, giảm tiện đi những nghi thức rườm rà, không phù hợp, tốn thời gian, tiền của, đồng thời đưa ra những hình thức nghi lễ kết hợp giữa tinh thần Phật giáo với truyền thống tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, phong tục tập quán,… vừa đảm bảo được giá trị truyền thống, giá trị văn hóa, lại đảm bảo được giá trị tâm linh, phù hợp với nếp sống văn minh tiến bộ, văn hóa hội nhập mới của người Việt.

Thứ ba, về mặt thờ tự: Nguyên tắc thờ tự xưa của người Việt là “Đông bình tây quả” (đây cũng là nguyên tắc độc bình – thờ một bình hoa). Như vậy, ban thờ người Việt thường đặt hướng Nam – hướng mát. Bên trái ban thờ nhìn từ trong ra sẽ là hướng Đông, bên phải ban thờ là hướng Tây. Hướng Đông là hướng mặt trời mọc – biểu trưng cho mùa xuân, ngày mới, sự sinh sôi, nảy nở, nên đặt bình hoa, với mong ước tâm linh đặt cây bên phía mặt trời mọc, thì cây sẽ đơm chồi, gia đình được phúc lộc. Hướng Tây là hướng mặt trời lặn, biểu trưng cho chiều mùa Đông, hoàng hôn, nên đặt mâm ngũ quả, với mong muốn cuộc sống gia đình ngày càng sung túc đủ đầy, cuộc sống sẽ luôn đơm hoa kết trái. Mặt khác cũng mong muốn, sinh ra sống trên đời, thác sẽ được sinh về Tây phương cực lạc. Cách thờ tự theo nguyên tắc này, ngày nay không mấy gia đình biết và duy trì, hầu hết thờ tự mang tính chất tự phát hoặc bát hương ông bà để sao con cháu để vậy. Ảnh hưởng của Phật giáo về cách thờ này, Phật giáo điều chỉnh là nguyên tắc từ “độc bình” – thờ một bình hoa, thành “song bình” – thờ hai bình hoa. Nghĩa là lối thờ Phật giáo là lối thờ đảm bảo tính cân đối trên ban thờ, gần như mọi đồ thờ trên ban thờ đều có đôi đối xứng nhau – biểu trưng giáo lý trung đạo của Phật giáo. Mặt khác văn hóa thờ bát hương và thắp hương cũng có nguồn gốc từ Phật giáo; thắp hương thường ba nén, vái, lễ thường ba lễ – biểu trưng cho Phật – Pháp – Tăng.  Về đồ thờ trên ban như: Đế đèn gỗ cổ, ống hương, mâm bồng – cũng đều sử dụng phong cách đồ thờ tại chùa.

Thứ tư, về kiến trúc: Hiện hầu hết kiến trúc từ đường (nhà thờ họ) từ cổng Tam quan đến hậu cung cũng như kiến trúc tổng thể đều mang phong cách, dáng dấp kiến trúc đình chùa.  

Như vậy, Phật giáo ảnh hưởng một cách sâu sắc và toàn diện đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt. Điều đó cho thấy, Phật giáo góp phần loại bỏ đi những yếu tố mê tín, rườm rà, không phù hợp với thời đại mới, đồng thời tiếp tục tôn vinh, bồi đắp, bổ sung những giá trị tốt đẹp của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt lên tầm cao mới. Nhờ vậy, góp phần đưa tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên tiếp tục trở thành một nét đặc sắc mang đậm bản sắc văn hóa người Việt, chứa đựng những giá trị đạo đức, văn hóa, tín ngưỡng tâm linh trong sáng, làm nền tảng, hạt nhân cho hệ giá trị truyền thống dân tộc, phù hợp với nếp sống văn hóa văn minh tiến bộ.

GIÁ TRỊ TÍN NGƯỠNG THỜ CÚNG TỔ TIÊN TRONG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

Trong xã hội Việt Nam hiện đại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có những giá trị quan trọng nhất định. Dưới đây là một số giá trị cốt lõi của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội Việt Nam hiện đại: 

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cùng với đạo Phật là hạt nhân cốt lõi của văn hóa truyền thống người Việt

Ở mỗi làng quê Việt hiện nay, gần như làng nào cũng có chùa, đền, đình, nhà thờ họ, ban thờ tổ tiên trong mỗi gia đình. Dường như thứ gì cũng có thể mất trên làng quê Việt, nhưng những thứ đó người dân không bao giờ từ bỏ, vì nó không chỉ mang ý nghĩa thờ cúng, mà là truyền thống của ông cha, là di sản của thế hệ trước, là văn hóa mỗi làng, là yếu tố thiêng liêng được người dân tôn thờ, là nơi nương tựa về tâm linh,… Tất cả điều này đã được mặc định trong ý thức hệ của người dân Việt. Nếu làm một phép khảo sát, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra một điều, gần như toàn bộ văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng tâm linh của một ngôi làng đều gắn bó một cách chặt chẽ và mật thiết với tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Phật. Và nếu, nói đến văn hóa truyền thống người Việt trong xã hội Việt Nam đương đại, gần như mọi thứ đang xoay quanh tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đạo lý nhà Phật. Điều này cũng đưa đến một nhận thức, muốn bảo vệ phát huy văn hóa truyền thống của dân tộc, cần đánh giá nghiêm túc vai trò của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, đức tin theo đạo Phật với mỗi làng quê Việt nói riêng và dân tộc nói chung.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên giáo dục truyền thống hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn cho thế hệ trẻ

Từ sự bổ sung tư tưởng của Phật giáo, tín ngưỡng thờ cúng Tổ tiên của người Việt có thêm quan điểm: “Thứ nhất là tu tại gia, thứ hai tu chợ, thứ ba tu chùa”, “Tu đâu cho bằng tu nhà/ Thờ cha kính mẹ mới là chân tu”. Quan điểm này có ý nghĩa, chữ hiếu chính là gốc của đạo đức, muốn tu được chùa, muốn làm được việc đời, trước hết phải tu chữ hiếu, phải hoàn thành bổn phận đạo làm con, phải có hiếu với cha mẹ.

Trong mỗi làng quê Việt, hầu hết ảnh có sự ảnh hưởng của tín ngưỡng thờ Thành Hoàng làng hoặc đạo Phật. Nhưng không phải gia đình nào cũng đi lễ Phật hay tìm hiểu những đạo lý làm người từ Phật giáo hoặc bất kỳ tôn giáo nào khác. Nhưng đã là người Việt, gần như dù theo hay không theo tôn giáo, hầu hết đều có tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Ngay từ khi lọt lòng họ đã được tiếp cận với tín ngưỡng ấy. Qua các nghi lễ, giỗ Tết bố mẹ ông bà thực hiện, qua phong tục thờ cúng tổ tiên đã giáo dục cho thế hệ trẻ về lòng hiếu thảo, về tinh thần uống nước nhớ nguồn. Họ vẫn đang hiểu một điều “sống thì tết, chết thì giỗ”, nghĩa là sống thì phải hiếu kính, hiếu thảo với cha mẹ, cha mẹ mất rồi thì phải cúng giỗ cha mẹ. Thờ tự tổ tiên cũng có nghĩa là biết ơn, tưởng nhớ đến công lao của người đã khuất, đó là truyền thống, là tinh thần uống nước nhớ nguồn. Cứ thế, đạo lý hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn đang được tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên mặc định trong tư duy, trong ý thức hệ của thế hệ trẻ. Đó là những mặc định đạo đức tốt, làm nền tảng cho các giá trị đạo đức khác của xã hội. Vì vậy, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên chính là bài học giáo dục người Việt suốt đời về đạo lý hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn.

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc, tinh thần tương thân tương ái, lòng yêu nước

Dân tộc Việt Nam có lẽ là một dân tộc hết sức đặc biệt trên thế giới: Bị 1.000 năm Bắc thuộc mới giành được độc lập nhưng không bao giờ chấp nhận làm nô lệ, không bao giờ chịu mất tự do, một dân tộc làm nên những chiến thắng lẫy lừng, ghi tên vào những sử sách của thế giới, như: ba lần đánh tan quân Mông-Nguyên, chiến thắng phát xít Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ. Thời Trần gọi sức mạnh đó là “Hào khí Đông A”, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cho đó là lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết dân tộc, còn Chủ tịch Hồ Chí Minh gọi vắn tắt sức mạnh đó trong hai chữ “đồng bào”. Việt Nam có 54 dân tộc cùng chung sống, mỗi dân tộc có những khác biệt về văn hóa, ngôn ngữ, tín ngưỡng, tôn giáo, tâm linh, nhưng tất cả dân tộc Việt Nam dường như đang theo một thứ tín ngưỡng đó là tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, cùng chung nguồn gốc. Lên thăm các dân tộc anh em, tâm lý người dân vùng cao rất thích người xuôi, người Kinh gọi họ bằng hai chữ “đồng bào”. Hai tiếng “đồng bào” ấm cúng, gần gũi, thân mật và thân thiện, nội hàm của nó biểu hiện mọi người là anh em một nhà. Hai chữ “đồng bào” ở đây nghĩa là người dân Việt có chung một gốc, chung một cái bọc trăm chứng của mẹ Âu Cơ – điều đấy cũng có nghĩa cả dân tộc ta có nhiều sắc tộc khác nhau, nhưng đều là anh em một nhà, chung một mẹ. Nên đất nước ta có ngày quốc giỗ Hùng Vương, thờ chung mẹ Âu Cơ và Lạc Long Quân.

Khái quát sức mạnh dân tộc và tinh thần đoàn kết, giá trị đạo đức dân tộc, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã khẳng định trong diễn đàn Quốc hội: “Dân tộc nào yêu nước, đoàn kết hơn dân tộc Việt Nam mình, có đất nước nào mà lũ lụt, dịch bệnh mà người dân lại yêu thương nhau đến vậy”. Từ những luận điểm này có thể khẳng định: Tinh thần dân tộc, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái của người Việt xuất phát từ hai từ “đồng bào” và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành Hoàng làng, thờ vua Hùng đã giúp 54 dân tộc anh em sát lại gần với nhau, tạo thành một khối đoàn kết dân tộc vững mạnh.

MỘT SỐ ĐỀ XUẤT

Để phát huy vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên gắn liền với đạo Phật trong xã hội Việt Nam hiện đại, bài viết đưa ra một số đề xuất như sau:

Thứ nhất, cần có các hội thảo khoa học cấp nhà nước đánh giá vai trò, giá trị của tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong xã hội Việt Nam hiện đại, đặc biệt biệt ở góc độ tín ngưỡng, văn hóa truyền thống gắn với Phật giáo.

Thứ hai, Bộ Văn hóa, Ban Tôn giáo Chính phủ, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần phối hợp với nhau, tổ chức các hội thảo khoa học về lĩnh vực nghi thức thờ cúng gia tiên của người Việt, để từ đó xuất bản những tài liệu mang tính chất chuẩn mực, phù hợp với từng địa phương trong việc thờ cúng tổ tiên, nhằm phát huy giá trị truyền thống, tôn vinh tinh thần hiếu đạo, tinh thần uống nước nhớ nguồn, đáp ứng được nhu cầu tâm linh, góp phần loại bỏ đi được những hủ tục mê tín dị đoan, phân biệt được những hành động trục lợi từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên để tránh; đồng thời cũng giúp người dân không xa hoa, lãng phí, phô trương hình thức trong việc thờ cúng tổ tiên.

Thứ ba, nghiên cứu các đề án cấp nhà nước về các hoạt động văn hóa, tâm linh trong ngày quốc giỗ 10/3 âm lịch hàng năm. Mục đích làm cho ngày Quốc giỗ 10/3 thực sự là một ngày hội lớn của dân tộc, ngày của “đồng bào”, là một trong những ngày trọng đại nhất của đất nước. Đó cũng ngày của 54 dân tộc anh em, ngày cả đất nước hướng về cội nguồn dân tộc.

Kết luận

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên có nguồn gốc từ thời xã hội thị tộc phụ quyền trên nền tảng tinh thần hiếu đạo, uống nước nhớ nguồn của dân tộc và những tâm tư nguyện vọng của người dân muốn được tổ tiên che chở. Phật giáo đã ảnh hưởng một cách toàn diện đến tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Phật giáo không phải xóa bỏ tập tục thờ cúng tổ tiên, mà phát huy giá trị cốt lõi tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên lên một tầm cao mới, bổ sung những cái hay, cái đẹp, để tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trở thành một tín ngưỡng, tập tục đặc sắc về văn hóa tâm linh mang giá trị cốt lõi của dân tộc. 

Trong xã hội Việt Nam hiện đại, tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên vẫn luôn là tín ngưỡng đặc sắc mang bản sắc văn hóa dân tộc, có sức mạnh mềm mang tính then chốt như sợi dây liên kết, gắn kết 54 dân tộc anh em. Chính sức mạnh này, đã tạo nên sức mạnh đại đoàn kết dân tộc Việt Nam, một sức mạnh mà không phải đất nước nào cũng có được. Các dân tộc cùng sử dụng hai chữ “đồng bào”, có thể nói, Việt Nam là đất nước duy nhất trên thế giới mà tất cả các dân tộc xem nhau là anh em, cùng chung một nguồn gốc, có chung một ngày Quốc giỗ là ngày Giỗ tổ Hùng Vương (10/3). Chính sự đặc biệt này đã tạo nên tinh thần, sức mạnh tổng hợp của dân tộc, đã bao phen khiến thế giới phải nể phục vì sao một đất nước nhỏ bé ấy lại có thể làm những điều phi thường. Chính sức mạnh này, đã giải thích tại sao, không một quốc gia, một cường quốc, một đế quốc nào có thể khuất phục được Việt Nam cho dù là quá khứ hay hiện tại, cho dù là 1 năm hay 1.000 năm. Vì đất nước ấy là dân tộc đặc biệt, đất nước mà toàn thể các dân tộc anh em cùng gọi nhau hai tiếng “đồng bào” – khởi nguồn từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Hùng Vương. 

 

 

* Thượng tọa Thích Chiếu Tuệ – Ủy viên HĐTS, Phó trưởng BTS kiêm Trưởng ban Hoằng pháp GHPGVN TP. Hà Nội

 

Tài liệu tham khảo

1. Bùi Thu Hiền (2016), Một số nét đặc sắc trong văn hóa vùng miền Việt Nam, Nxb. Lao động. 

2. Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016.

3. Nguyễn Thị Hải (2016), Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong đời sống tinh thần của người dân Hà Nam hiện nay, Luận văn Thạc sĩ khoa Triết học, Đại học Sư phạm Hà Nội.

4. Dương Thị Phượng (2017), Văn hóa tâm linh trong phong tục thờ cúng tổ tiên và ảnh hưởng của nó đối với đời sống tinh thần của người dân ở tỉnh Hải Dương hiện nay, Luận văn Thạc sĩ khoa Triết học, Đại học Sư phạm Hà Nội.

5. TS. Trần Đăng Sinh (2012), Những khía cạnh trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt ở đồng bằng Bắc bộ hiện nay, Nxb. Chính trị Quốc gia.

6. Phan Nhật Trinh (2016), Sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt hiện nay, Luận án Tiến sĩ Tôn giáo học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội.

7. Toan Ánh (1995), Tục thờ cúng trong gia đình Việt Nam, Nxb. Đồng Tháp.

8. Phan Kế Bính (1990), Việt Nam phong tục, Nxb. Đồng Tháp.

9. Cadière (1997), Về văn hoá và tín ngưỡng truyền thống người Việt, Nxb. Văn hoá – Thông tin.

10. Đặng Nghiêm Vạn (2001), Dân tộc, văn hóa, tôn giáo, Nxb. Khoa học Xã hội.

11. Kinh A Hàm.

12. Kinh Nikaya.

Trả lời