Từ cuộc mở cõi của các Chúa Nguyễn đến các Dòng thiền Phật giáo ra đời, trong đó có Dòng thiền Chúc Thánh (Dương Kinh Thành)

          Theo Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo Sử Luận) viết rằng: Trong thâm ý của chúa Nguyễn, đạo Phật có thể làm nơi nương tựa tinh thần cho công trình lập quốc của dòng họ Nguyễn. Cũng vì vậy cho nên sau này, các chúa Nguyễn đều tỏ vẻ sùng thuợng đạo Phật và nhân dân Đàng Trong cũng nghênh đón các vị du tăng Trung Quốc với tấm lòng chân thật, mặn nồng. Trong thời đại chuyển tiếp giữa hai triều Minh-Thanh, nhiều cao tăng Trung Hoa đã tới Đàng Trong hành hóa. Một phần quan trọng của những tổ đình hiện nay là do các thiền sư Trung Hoa sáng lập.

          Vào những năm Đinh Mão (1687) đến năm Canh Ngọ (1690), chúa Anh Tôn Nguyễn Phúc Trăn (1648 – 1691) cử Thiền sư Nguyên Thiều (1648 – 1728) về lại Trung Quốc để thỉnh mời thêm nhiều vị tăng sĩ, thỉnh thêm tượng Phật, pháp khí sang Đàng Trong. Chuyến đi khứ hồi thành công tốt đẹp và Thiền sư Nguyên Thiều sau đó được chùa hỗ trợ tổ chức đại giới đàn tại chùa Linh Mụ – Huế.(1)

          Năm Ất Hợi (1695), Thiền sư Nguyên Thiều cũng đã mời thỉnh được Hòa thượng Thạch Liêm (1633 – 1704) cùng các vị, trong đó có Minh Hải – Pháp Bảo (1670 – 1746), Minh Vật – Nhất Tri (?-1786), Minh Hoằng – Tử Dung (?-?), Minh Lượng – Thành Đẳng (?-?). Tuy chưa biết chính xác số lượng chư vị được mời sang là bao nhiêu nhưng theo bia ký thì có hơn 14 vị được trải đều khắp nơi để hoằng hóa ở Đàng Trong, trong đó có hai vị ra Đàng Ngoài là Thiền sư Hải Trừng – Chuyết Chuyết (1590 – 1644) ở chùa Ninh Phúc – Bắc Ninh, Thăng Long và Thiền sư Minh Hành – Tại Toại (1596 – 1659).

          Như vậy, cho nhiều đời sau thấy rằng về tính chân lý Phật giáo, dù ở đâu, quốc độ nào cũng đều chung một màu giải thoát nhất định và trong chốn thuận duyên thùy thuận mang theo một ít hình thái và sắc thái văn hóa bản địa. Do vậy, việc các thiền sư người Trung Hoa đến Đại Việt hoằng hóa, nói chính xác hơn là cùng nhau hỗ trợ công cuộc hoằng hóa với chư tăng ni Phật giáo bản địa và tất cả đã hòa quyện nhau, tôn cao thêm giá trị chân lý Phật giáo giữa chốn nhân gian.

*******

          Công ơn hoằng hóa của các thiền sư Trung Hoa trên đất Đại Việt khi ấy rất đáng trân trọng, đáng kể nhất là Thiền sư Nguyên Thiều – Siêu Bạch, dòng 33 Lâm Tế Chánh Tông và Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo khai sơn dòng Lâm Tế Chúc Thánh ngay tại mảnh đất này. Đó là hai trong những dòng thiền phát triển mạnh và rộng khắp cho đến ngày nay. Theo giáo sư Lê Mạnh Thát: Có thể nói Phật giáo Việt Nam trong tình hình phát triển hiện nay tuyệt đại bộ phận do sự tác động của bảy dòng thiền chính, trong đó bốn dòng trực tiếp kế thừa các dòng thiền từ Trung Quốc và ba dòng được phát sinh tại nước ta. Bốn dòng từ Trung Quốc, nếu dựa vào thứ tự truyền nhập vào Việt Nam là các dòng Bút Tháp của Viên Văn – Chuyết Công (1590 – 1644), dòng Bút Tháp là của Siêu Bạch – Thọ Tông (1648 – 1728), dòng Quốc Ân của Nguyên Thiều – Hoàn Bích (1648 – 1728), cả ba dòng này đều thuộc phái Lâm Tế và dòng Hòe Nhai của Thủy Nguyệt thuộc phái Tào Động. Ba dòng còn lại thì đều xuất phát tại Việt Nam hoặc do kết hợp một dòng từ Trung Quốc như Bút Tháp với một dòng tồn tại lâu đời tại Việt Nam như Trúc Lâm, mà điển hình là dòng Long Động của Thiền sư Chân Nguyên – Tuệ Đăng (1647-1726) hoặc do các vị thiền sư người Việt Nam hay Trung Quốc hành đạo tại Việt Nam xuất kệ thành lập dòng mới, cụ thể là các dòng thiền Chúc Thánh của Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo (1670-1746) và Thiên Thai của Thiệt Diệu Liễu Quán (1667 – 1742).

          Ba dòng này kể từ đầu thế kỷ XVIII trở đi cho đến hôm nay đã có những đóng góp to lớn nhiều mặt cho lịch sử dân tộc cũng như cho Phật giáo Việt Nam với những người con ưu tú của mình. Về mặt chính trị, họ đã tham gia công cuộc hộ quốc an dân như Thiền sư Như Ý Trần Cao Vân, Võ Trứ v.v… Về mặt khoa học kỹ thuật có những tiếng tăm lớn như Chân An Tuệ Tĩnh (?-1711), đặc biệt về mặt văn hóa và văn học thì hàng loạt tên tuổi lẫy lừng đã xuất hiện trên bầu trời Việt Nam trong giai đoạn này như Chân Nguyên – Tuệ Đăng (1647 – 1726), Pháp Chuyên – Luật Truyền – Diệu Nghiêm (1726 – 1798), Toàn Nhật – Vi Bảo – Quang Đài (1757 – 1834), Trừng Thông – Viên Thành (1879 – 1928) v. v…(2)

*******

          Danh xưng Quảng Nam lần đầu xuất hiện vào năm Tân Mão (1471) khi mở rộng vùng đất phía Nam Thuận Hóa, vua Lê Thánh Tôn lập thêm đơn vị hành chính thứ 13 gồm Thừa Tuyên Quảng Nam, trong đó có 3 phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn (nay là Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định). Quảng Nam đã góp phần vào tiến trình mở nước của dân tộc và tạo lập cuộc sống phồn vinh của một vùng – xứ Quảng. Và Phật giáo cũng đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình ấy như là điều không thể thiếu, từ vua chúa cho đến các hàng thứ dân đều có niềm tin an dựa tinh thần, đưa vai trò của Phật giáo lên đỉnh cao trong thành tích sự nghiệp xây dựng và mở cõi.

          Ngoài ngôi chùa Vạn Đức tại thôn Cẩm Hà, Hội An, do Thiền sư Minh Lượng – Thành Đẳng khai sơn, chùa Chúc Thánh tại thôn Cẩm Phô, Hội An, do Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo khai sơn đã góp thêm sức sống cho vùng đất mới, và cũng tại nơi đây Ngài khai mở dòng thiền Chúc Thánh hanh thông và thành công. Khi đó, Ngài chỉ mới vừa 27 tuổi. Nguyên trước đó, khi còn tu hành tại Trung Hoa, ngài là đời thứ 34 của dòng Lâm Tế, có lẽ do vậy ở Việt Nam chúng ta thường quen gọi Lâm Tế Chúc Thánh.

          Thiền sư Minh Hải Pháp Bảo khi khai mở dòng Chúc Thánh có bài kệ truyền pháp danh và pháp tự:

 

Minh thực pháp toàn chương

Ấn chơn như thị đồng

Chúc Thánh thọ thiên cửu

Kỳ Quốc tộ địa trường

Đắc chính luật vi tuyên

Tổ đạo hạnh giải thông

Giác hoa bồ đề thọ

Sung mãn nhân thiên trung.

 

Tác giả Nguyễn Lang dịch nghĩa như sau:

 

Hiểu thấu pháp chân thực

Ấn Chân Như hiện tiền

Cầu Thánh quân tuổi thọ

Chúc đất nước vững bền

Giới luật nêu trước tiên

Giải và Hạnh nối liền

Hoa nở cây giác ngộ

Hương thơm lừng nhân thiên.

 

          Cho đến hôm nay, dòng truyền thừa đã xuống đến chữ Thánh (Chúc Thánh thọ thiên cửu), có nghĩa là đã đến đời thứ 12. Dòng thiền này cũng đã tùy thuận khế cơ lan tỏa rộng ra các nước trên thế giới, nơi có những bước chân hoằng hóa của tăng ni người Việt Nam.

          Liên quan đến bài kệ truyền thừa này của Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo; theo tài liệu sưu khảo của tác giả Thích Giải Nghiêm, dòng Chúc Thánh ở Bình Định sau khi truyền đến chữ Đồng thì sang chữ Vạn chứ không theo chữ Chúc như các dòng Chúc Thánh ở Quảng Nam và những nơi khác. Nguyên do năm Đinh Mùi (1967), thầy Giám học Thích Đổng Quán (Trường Bồ Đề Nguyên Thiều) đã phát hiện và sưu tra từ gia phả của một em học sinh gốc Hoa đến xin nhập học, được gia đình em này cung cấp gia phả liên quan đến Tổ Nguyên Thiều (1648-1728), phát hiện thêm bài kệ truyền pháp (3) của Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo và được xem là bài kệ truyền pháp thứ hai của dòng thiền Chúc Thánh. Những thắc mắc chung quanh vần đề này cũng được tác giả Thích Giải Nghiêm đặt ra và có giải đáp tương đối, đặc biệt kệ truyền thừa của Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo sao lại nằm bên gia phả của Tổ Nguyên Thiều. Nhưng có một gút mắc chưa được gợi mở là từ trước khi dòng Chúc Thánh Bình Định chọn xuống chữ Vạn trong bài kệ thứ hai, như vừa nêu – thí dụ từ trước năm 1967 chẳng hạn, thì nơi này đã thực hiện việc truyền thừa có giống như dòng Chúc Thánh các nơi khác như thế nào? Do điều kiện và không thuộc lãnh vực chuyên môn nên chúng tôi chưa thể tự tiến hành tìm hiểu sâu thêm nhiều. Hy vọng qua cuộc hội thảo này sẽ có được câu trả lời làm sáng tỏ thêm hơn. Trước mắt, chúng tôi vẫn nghĩ rằng, việc khác biệt đôi dòng kệ không có ý nghĩa quyết định sự phân lập, dị biệt trong dòng Chúc Thánh của Thiền sư Minh Hải – Pháp Bảo, mà trên tất cả, sự truyền thừa vẻ vang ngay từ nền móng ban đầu đã thành công và được sớm chấp nhận trong dòng chảy chung của Phật giáo Việt Nam. Đó là hình ảnh và hành trạng của dòng Chúc Thánh các nơi; từ Trung vào Nam hay vươn ra tận quốc ngoại; đó là điều đáng tự hào nhất trong thời kỳ Phật giáo Việt Nam nương theo đà phát triển của thời đại.

          Như vậy, từ các chúa Nguyễn bằng tất cả tâm từ, đã khôn khéo vận dụng nền tảng Phật giáo vào công cuộc di dân mở cõi. Các chúa Nguyễn ngay từ đầu đà thấy tính nhất quán của chân lý Phật giáo, nên đã mạnh dạn thực hiện ý nguyện mời thỉnh chư tăng người Trung Hoa sang góp sức truyền pháp và hoằng hóa chúng sanh, để Phật giáo Việt Nam ngày nay có những dòng thiền mở rộng, mang đậm dấu ấn, cung cách, kể cả nghi lễ theo cung cách của Phật giáo Việt Nam, trong đó có dòng Chúc Thánh.

DƯƠNG KINH THÀNH
Trung tâm Nghiên cứu Phật giáo Việt Nam

 

 

_Chú thích:

1. Đây là thời gian Tổ Nguyên Thiều Siêu Bạch đang ở tại chùa Quốc Ân, (ấp Phước Quả, phường Trường An, thành phố Huế). Đây là ngôi chùa do chính Ngài khai sơn cùng với tháp Phổ Đồng sau 10 năm xây dựng chùa Hà Trung ở Thuận Hóa (huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên). Trước đó, vào năm thứ 3 niên hiệu Cảnh Trị – Ất Tỵ (1665) thời chúa Nguyễn Phúc Tần (1648-1687), Ngài từ nguyên quán Quảng Đông xuôi theo tàu buôn đến phủ Quy Nhơn (Bình Định). Tại đây, Ngài khai sơn chùa Thập Tháp Di Đà (làng Thuận Chánh, huyện Tuy Viễn).

2. Lời Giới Thiệu của Lê Mạnh Thát (Lịch sử truyền thừa Thiền Phái Chúc Thánh – Thích Như Tịnh).

3. Xem thêm:

(Truyền pháp danh kệ)
Minh thiệt pháp toàn chương
Ấn chơn như thị đồng
Vạn hữu vi nhất thế
Quán liễu tâm cảnh không
Giới hương thành thánh quả
Giác hải đồng liên hoa
Tín tấn sanh phước huệ
Hạnh trí giải viên thông
Ảnh nguyệt thanh trung thủy
Vân phi nhật khứ lai
Đạt ngộ vi diệu tánh
Hoằng khai tổ đạo trường 

(Truyền pháp tự kệ)
Đắc chánh luật vi tông
Tổ đạo giải hạnh thông
Giác hoa viên cảnh trí
Sung mãn lợi nhân thiên
Hằng sa chư pháp giới
Tế độ đẳng hàm sanh
Châu viên thế tướng dụng
Quán chiếu sát trần trung
Khứ lai đương nhất niệm
Năng sở khởi phi tha
Tâm cảnh thùy biên thủ
Chơn vọng tổng giai như.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Bách Khoa Toàn Thư Mở Wikipedia.

– Trang nhà Quảng Đức.com

– Việt sử: Xứ Đàng Trong 1556-1777 – Phan Khoang – Khai Trí XB 1969.

– Việt Nam Phật giáo Sử luận, tập II- Nguyễn Lang, NXB Văn Học, Cty phát hành sách Hà Nội 1992.

– Cục Văn Thư Và Lưu Trữ Nhà Nước.

– Tìm Hiểu sự hình thành và phát triển của thiền phái Chúc Thánh tại Quảng Nam – Thích Giải Nghiêm.