Bảo tồn, phát huy Di sản văn hoá Phật giáo Việt Nam thực trạng và giải pháp (ThS. Nguyễn Thị Thu Hoan)

TẢI FILE PDF
——————

1. Mở đầu

Phật giáo được du nhập vào Việt Nam cách ngày nay khoảng 2000 năm. Với triết lý đạo đức, nhân sinh sâu sắc, tính chất từ bi, hỉ xả, bao dung, độ lượng, phù hợp với tâm tính người Việt Nam nên Phật giáo dễ dàng thấm sâu vào đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân và dần được bản địa hóa. Trong lịch sử phát triển, Phật giáo Việt Nam đã có ảnh hưởng lâu dài và sâu rộng đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là thời Lý – Trần, Phật giáo đã trở thành “quốc giáo”, chi phối mạnh mẽ tới tư tưởng, học thuật, văn học và nghệ thuật của đất nước. Mặc dù có lúc thăng trầm song Phật giáo vẫn luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân, thậm chí, Phật giáo đã trở thành một bộ phận cấu thành văn hóa Việt Nam, hòa quyện cùng văn hóa bản địa trở thành “mạch ngầm văn hóa” tạo nền tảng cho sự bảo tồn, phát triển văn hóa Việt Nam. Trải qua quá trình phát triển ấy, Phật giáo đã để lại cho dân tộc nhiều di sản văn hóa vật chất và tinh thần có giá trị đặc sắc. Khối di sản này bao gồm hệ thống không gian, kiến trúc chùa, tháp, các tác phẩm điêu khắc tượng thờ, tranh thờ Phật giáo, hoành phi, câu đối, đồ thờ, pháp khí… cùng những giá trị về tư tưởng, đạo đức, văn học, âm nhạc và nhiều nghi lễ Phật giáo. Ở nước ta hiện nay, những di sản văn hóa Phật giáo chiếm khá lớn và có những đóng góp quan trọng trong kho tàng di sản văn hóa dân tộc.

Mặc dù chưa có một sự thống kê/kiểm kê chính thức nhưng có thể nói rằng, không phải ở quốc gia nào trong khu vực cũng lưu giữ được khối di sản văn hóa lớn như ở Việt Nam, trong đó di sản văn hóa Phật giáo, nhất là di sản văn hóa vật thể là một phần quan trọng với loại hình, chất liệu, đề tài trang trí vô cùng phong phú, thuộc các nền văn hóa khác nhau (Đại Việt, Champa, Óc Eo) và niên đại cũng trải dài suốt quá trình lịch sử du nhập và phát triển của Phật giáo Việt Nam hơn 2.000 năm, từ những thế kỷ đầu Công nguyên cho đến ngày nay.

Các loại hình di sản văn hóa Phật giáo gồm: di tích (chùa di tích: không gian cảnh quan, kiến trúc và di vật trong di tích); vật liệu, trang trí kiến trúc; tượng thờ, đồ thờ, pháp khí, hoành phi, đối liễn, tư liệu văn tự, kinh sách, pháp phục; nghi thức tụng niệm, tu tập, nghi lễ, lễ hội; văn học nghệ thuật, mỹ thuật… Trong bài viết này, tác giả tập trung đánh giá, nêu các vấn đề và việc bảo tồn, phát huy đối với loại hình di sản văn hóa vật thể.

2. Thực trạng bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam

2.1. Thành tựu đạt được

Qua kết quả 3 chuyến khảo sát miền Bắc, Trung, Nam tại 28 tỉnh thành với 133 ngôi tự viện (chùa, thiền viện, tịnh xá…) thuộc 4 hệ phái Phật giáo bao gồm: Bắc tông (101 chùa, thiền viện và 4 bảo tháp), Nam tông Khmer (12 chùa), Nam tông Kinh (8 chùa, thiền viện), Khất sĩ (8 tịnh xá, tổ đình, pháp viện) cho thấy, khối di sản lớn nhất được lưu giữ chủ yếu ở các ngôi chùa thuộc hệ phái Bắc tông, Nam tông Khmer bởi 2 hệ phái này có nhiều công trình Phật giáo hình thành, tồn tại, phát triển và di sản được bảo tồn qua nhiều thời kỳ lịch sử. Trong đó, đặc biệt các ngôi chùa Bắc tông với tính chất thờ tự nhiều tượng pháp, đồ thờ pháp khí, công trình kiến trúc đa dạng loại hình, nhiều chùa có quy mô lớn, có lịch sử lâu đời… nên để lại khối di sản rất đồ sộ, phong phú, bao gồm hệ thống không gian, kiến trúc chùa tháp, các tác phẩm điêu khắc tượng thờ, tranh thờ Phật giáo, hoành phi, câu đối, đồ thờ, pháp khí… cùng những giá trị về tư tưởng, đạo đức, văn học, âm nhạc và nhiều nghi lễ Phật giáo.

Trong số đó, nhiều di sản văn hóa Phật giáo được bảo tồn, lưu giữ khá hiệu quả, bài bản về cả phương diện vật thể và phi vật thể. Bên cạnh việc lưu giữ, bảo quản di sản đảm bảo kéo dài tuổi thọ, tính thẩm mỹ, tính xác thực, tính nguyên gốc thì các thông tin, giá trị phi vật thể được bảo tồn, gìn giữ một cách khoa học thiể hiện chân thực quá trình/những câu chuyện diễn tiến tồn tại, phát triển của ngôi tự viện qua đó phản ánh bối cảnh lịch sử các lĩnh vực đời sống tâm linh, sinh hoạt cộng đồng, kinh tế, văn hóa, xã hội đương thời… đã mang lại những giá trị to lớn, không chỉ là cơ sở khoa học quan trọng trong việc nghiên cứu mà còn giúp Phật tử, công chúng hiểu về những giá trị văn hóa cốt lõi của Phật giáo, từ đó thực hiện giáo dục đạo đức hay hoằng dương Phật pháp hiệu quả hơn. Đó cũng chính là yếu tố cốt lõi, quan trọng hấp dẫn thu hút khách tham quan trong và ngoài nước góp phần phục vụ phát triển du lịch văn hóa, tâm linh ở các địa phương một cách hiệu quả. Chẳng hạn: Một số bức tranh tường, câu đối bằng giấy được lưu lại trong nhiều lần trùng tu, cải tạo chùa Long Phước, tx. Tân An, tỉnh Long An; Hình Đức Phật bằng tranh vẽ và tấm bia thời Nguyễn (đầu thế kỷ 20) trên tường trong nhà Tổ (được cải tạo từ chính điện của chùa cũ) được giữ lại nguyên trạng trong quá trình mở rộng không gian công năng của chùa Bửu Phong, tp. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai; Chi tiết kiến trúc thời Trần được sử dụng lại trên kiến trúc chùa Dâu (Bắc Ninh), chi tiết kiến trúc thời Lê Trung Hưng được sử dụng lại trên kiến trúc chùa Bối Khê (Hà Nội); Chi tiết kiến trúc chính điện chùa cũ được sử dụng để dựng lại công năng khác (lan can Trai đường và Phòng khách) của chùa Pothi Somron, tp. Cần Thơ; Tam quan chùa cũ được giữ nguyên tại chỗ như một phần của lịch sử phát triển ngôi chùa: Chùa Chúc Thánh (tp. Hội An, Quảng Nam) và chùa Bửu Lâm (Long An); Sala chùa cũ (ở giữa) được giữ nguyên tại chỗ ở ở và được mở rộng sang hai bên đáp ứng công năng sử dụng của Sala mới của chùa Khleng, tỉnh Sóc Trăng… Tất cả đều được lưu giữ và bảo quản như một phần của lịch sử phát triển ngôi chùa. Đây là những cách thức tiêu biểu trong bảo tồn di sản văn hóa Phật giáo mà các sư trụ trì, cơ quan, đơn vị thực hiện cải tạo, trùng tu có ý thức bảo tồn, nghiên cứu rất kỹ lưỡng ý tưởng, cách thức bảo tồn trước khi cải tạo, trùng tu ngôi chùa.

Bên cạnh đó, nhiều di sản văn hóa Phật giáo cũng đã được lưu giữ cẩn thận tại cơ sở tự viện: chính điện, kho, tủ trưng bày, phòng trưng bày, nhà bảo tàng… hoặc giữ nguyên hiện trạng, sử dụng lại một phần của công trình kiến trúc cũ.

Đó đều là những di sản quý giá với ý thức, cách thức bảo tồn, phát huy hiệu quả, khoa học, rất đáng trân trọng, gìn giữ, duy trì và nhân rộng, phát huy.

Để có được thành tựu đó, trước hết phải kể đến vai trò của Tăng, Ni Phật giáo, đặc biệt là sư trụ trì các ngôi chùa (đặc biệt là chùa di tích). Tại các cơ sở tự viện, sư trụ trì có vai trò quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo. Các sư trụ trì đã nhận thức được và tự có ý thức bảo tồn, phát huy: nhiều chùa khi cải tạo, trùng tu, nhiều di sản được sư trụ trì lưu giữ (hoặc là phối thờ hoặc lưu giữ trong kho, đặc biệt còn có những vị sư trụ trì còn sưu tầm, lưu giữ, trưng bày, giới thiệu tới Phật tử, công chúng qua các hình thức bảo tàng, phòng trưng bày di sản Phật giáo, những sưu tập cổ vật được lưu giữ ở một số chùa…). Bên cạnh đó, các sư trụ trì cũng chính là những người trực tiếp bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể bởi đó là người truyền bá tư tưởng, giáo lý, thực hành các nghi lễ, lễ hội Phật giáo, hướng dẫn Phật tử…

Bảo vệ di sản văn hóa Phật giáo: Trước tiên, đối với những ngôi chùa là di tích lịch sử văn hóa thì sư trụ trì chính là người trực tiếp bảo vệ các di sản tại di tích đồng thời là người phát huy giá trị di sản tới công chúng và thậm chí trong các hoạt động cụ thể còn là người chủ động kết nối, tập hợp, dẫn dắt Phật tử, công chúng tham gia vào việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản, nhất là đối với những giá trị văn hóa phi vật thể được lưu giữ trong hệ thống tư tưởng, kinh tụng, nghi lễ Phật giáo được lưu giữ tại các chùa di tích đó. Đối với lĩnh vực này thì nhà quản lý di sản sẽ không thể có điều kiện, khả năng phát huy được như các sư trụ trì. Thông qua các việc làm cụ thể như: gắn biển tên, lời giới thiệu, chú thích, tờ rơi …giới thiệu về ngôi chùa (di tích) và giá trị các hiện vật (đồ thờ, tượng thờ, pháp khí, không gian cảnh quan, cây di sản…) cho đến việc tổ chức các buổi sinh hoạt cộng đồng (tụng kinh niệm Phật, thuyết giảng đạo pháp, các sự kiện, nghi lễ Phật giáo…) đều có nội dung giới thiệu về giá trị di sản tại cơ sở thờ tự… thì đều là các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản một cách thiết thực và hiệu quả. Bên cạnh đó, hiện nay, có nhiều tăng, ni Phật giáo cũng tham gia nghiên cứu, sưu tầm, tổ chức trưng bày, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo. Đã có Bảo tàng văn hóa Phật giáo (Đà Nẵng) hoặc nhiều sưu tập hiện vật hiện Phật giáo (không chỉ là di sản của ngôi chùa do sư trụ trì mà còn là di sản Phật giáo nói chung) được các tăng, ni trân trọng gìn giữ, bảo quản hoặc trong những dịp đại lễ, các triển lãm giới thiệu di sản văn hóa Phật giáo cũng được tổ chức, phát huy tới đông đảo Phật tử, công chúng…

Duy trì, phát huy giá trị di sản tư tưởng Phật giáo: Bản thân mỗi nhà tu hành nói chung, sư trụ trì nói riêng là người lưu giữ những giá trị của di sản văn hóa Phật giáo cũng như các triết lý của nhà Phật, tư tưởng đạo đức Phật giáo, quy tắc… thông qua quá trình tu hành, rèn luyện.

Duy trì nghi lễ, các khuôn mẫu, thực hành văn hóa Phật giáo: Tại mỗi cơ sở thờ tự, sư trụ trì là người đại diện cho tổ chức tôn giáo duy trì sự hiện diện, ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống xã hội của cộng đồng. Sư trụ trì thường xuyên làm công tác gìn giữ, dọn dẹp không gian ngôi chùa; giữ gìn các nghi lễ Phật giáo, thường xuyên tụng kinh, niệm Phật theo quy định của tổ chức tôn giáo…

Tổ chức các lễ hội Phật giáo: Trong hệ thống các lễ, tiết của đời sống văn hóa Việt Nam, các lễ hội Phật giáo chiếm vị trí quan trọng, trong nhiều trường hợp được đồng nhất thành lễ hội văn hóa của cộng đồng, như: Rằm tháng Giêng, lễ Phật đản, lễ Vu lan… Tại các cơ sở thờ tự của cộng đồng, sư trụ trì sẽ trực tiếp tham gia công tác chuẩn bị, tổ chức, thực hiện nghi lễ, sự hỗ trợ, nhu cầu về mặt tâm linh, tôn giáo của cộng đồng địa phương. Việc duy trì các lễ hội này, một mặt làm cho tư tưởng, truyền thống Phật giáo thường xuyên được gìn giữ, sống trong cộng đồng; mặt khác, làm phong phú thêm đời sống văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng, nhất là đối với cộng đồng làng xã.

Cùng với đó là vai trò của Tăng Ni Phật giáo trong hoạt động của Giáo hội PGVN: Trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận khoa học: nhất là Ban Văn hóa trung ương đã tổ chức nhiều chương trình, đề án, hội thảo, tọa đàm, nghiên cứu, xuất bản ấn phẩm. Đặc biệt, trên cơ sở nhận thức được vai trò quan trọng của di sản văn hóa Phật giáo trong việc định hướng phát triển đặc trưng văn hóa Phật giáo nói riêng, văn hóa Việt Nam nói chung cũng như vai trò của tăng, ni Phật giáo trong bảo tồn, kế thừa, phát huy những di sản văn hóa Phật giáo, từ 2015, Ban Văn hóa trung ương GHPGVN đã nghiên cứu, xây dựng và triển khai thực hiện Đề án Bảo tồn di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam với mục tiêu là đánh giá thực trạng di sản văn hóa Phật giáo, sự đóng góp của di sản văn hóa Phật giáo đối với phát triển văn hóa, đất nước, những giải pháp nhằm giúp tăng, ni Phật tử, công chúng nhận biết được những giá trị, đặc trưng, vai trò của di sản văn hóa Phật giáo và vai trò của chính bản thân mình trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo, từ đó nâng cao cao ý thức, nhận thức trong bảo vệ, kế thừa, phát huy theo định hướng đúng. Đây là cơ sở nền tảng cho việc triển khai vào thực tiễn được bài bản, khoa học, mang tính hiệu quả, khả thi đồng thời xây dựng định hướng phát triển đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Trong 5 năm qua, Ban Văn hóa trung ương đã triển khai các Đề án Ngôn ngữ Phật giáo, Pháp phục Phật giáo và đạt được kết quả ban đầu với việc hoàn thành bản kinh tụng và pháp phục chung cho các hệ phái trong các nghi lễ quốc gia, quốc tế.

Việc làm này không chỉ là hoàn thiện một sản phẩm chung cho Giáo hội mà đồng thời nó còn là một trong những cách thức gìn giữ, kế thừa, phát huy di sản ngôn ngữ, pháp phục Phật giáo Việt Nam bởi quá trình thực hiện rất bài bản, khoa học từ công tác nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hóa các tư liệu lịch sử, khảo cổ và thực tiễn; tổ chức hội thảo, xin ý kiến tăng, ni các hệ phái Phật giáo, các chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà quản lý; áp dụng thử nghiệm lấy ý kiến Phật tử, công chúng rồi mới hoàn thiện để triển khai vào thực tiễn. Những năm tiếp theo là các Đề án Kiến trúc Phật giáo và Di sản Phật giáo sẽ tiếp tục được triển khai với sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo Giáo hội cũng như sự tham gia nhiệt thành, có trách nhiệm của tăng, ni các hệ phái Phật giáo. Điều đó cũng cho thấy, chính tăng, ni Phật giáo là lực lượng nòng cốt trong việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo, góp phần bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Việt Nam.

Cùng với đó, các hoạt động của các ban, viện thuộc Giáo hội, dù trực tiếp hay gián tiếp, cũng đều góp phần gìn giữ, phát huy giá trị di sản, tiêu biểu như các hoạt động nghi lễ, tăng sự, giáo dục tăng, ni…

2.2. Hạn chế, nguyên nhân

Hạn chế: Bên cạnh nhiều di sản Phật giáo được lưu giữ, bảo tồn, phát huy khá tốt tại các di tích (tự viện), bảo tàng, nhà trưng bày, sưu tập tư nhân… thì cũng còn nhiều di sản, đặc biệt là những tài sản văn hóa Phật giáo cận hiện đại chưa được xếp vào cổ vật, bảo vật quốc gia chưa được bảo tồn, phát huy tốt dẫn đến tình trạng di sản đã và đang bị mai một nhanh chóng hoặc bảo tồn, phát huy chưa đúng phương pháp, thậm chí là sự bảo tồn sai lệch cũng làm di sản mất đi tính xác thực, tính toàn vẹn, làm giảm hoặc mất giá trị di sản.

– Trước hết là tình trạng di sản lưu giữ tại di tích trong điều kiện môi trường bảo quản không đảm bảo: nơi lưu giữ là những tủ/kho chật hẹp, nhiều loại hình với đa dạng chất liệu khác nhau, di sản chồng chất lên nhau, nhiệt độ, ánh sáng không đảm bảo kéo dài tuổi thọ cho di sản.

– Di sản thuộc loại hình tượng thờ, đồ thờ được sắp xếp, bài trí phối thờ cùng đồ thờ mới trong cơ sở thờ tự một cách tự do hoặc theo hiểu biết/ý thích cá nhân; tượng Phật, Bồ Tát, tượng Đạo giáo, Mẫu, Tổ…; tượng cổ, tượng mới trong nước, nước ngoài, tôn giáo, tín ngưỡng khác được sưu tầm/cung tiến nhưng thiếu thông tin… thờ tự/lưu giữ chung một chỗ… là những yếu tố dễ làm sai lệch ý nghĩa, giá trị di sản cũng như tư tưởng, triết lý Phật giáo.

– Tình trạng bảo vệ di sản (tượng thờ, đồ thờ) một cách cực đoan, chẳng hạn như việc sơn mới (thậm chí là sơn công nghiệp) làm sai lệch tính xác thực (nguyên gốc) của di sản.

– Tình trạng di sản còn để ở những nơi ẩm thấp, ngoài vườn chùa, góc chùa, gầm án thờ… không đảm bảo môi trường, điều kiện bảo quản tối thiểu khiến di sản mai một, hư hỏng nhanh hơn.

– Di sản được sử dụng lại cho một chức năng khác (bệ tượng, nhang án, bệ kê chân cột được sử dụng làm bệ tượng thờ, đồ thờ khác hoặc làm bệ chậu hoa cảnh…) làm giảm/mất ý nghĩa, giá trị di sản.

– Di sản được gom lại từ nhưng nơi/công năng/ví trí khác về một chỗ không có thông tin lưu lại rõ ràng, xây/gắn cố định bằng xi măng là những yếu tố tác động trực tiếp làm hư hại đến di sản hoặc sai lệch ý nghĩa, giá trị di sản.

– Tình trạng hạ giải công trình: kết cấu kiến trúc, tượng thờ, đồ thờ… cũ (di sản cận hiện đại) bị bỏ đi.

Nguyên nhân: Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi đất nước mở cửa, hội nhập quốc tế, tình trạng di sản đang bị mai một, hủy hoại cũng đang diễn ra mạnh mẽ, hay rộng và xa hơn đó là sự lai căng, tiếp thu không có chọn lọc, cóp nhặt văn hóa ngoại lai… là những nguy cơ sẽ để lại những di sản văn hóa không mang bản sắc văn hóa Việt Nam, là những yếu tố sẽ làm giảm sức mạnh nội sinh cho dân tộc, đất nước Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. Tình trạng đó xuất phát từ những nguyên nhân cơ bản sau:

Thứ nhất, đó là nhận thức của Tăng Ni hay cán bộ quản lý văn hóa, di sản cấp địa phương… về vai trò của di sản văn hóa Phật giáo đối với phát triển Phật giáo, phát triển văn hóa dân tộc; về vai trò của mình trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo.

Đây là yếu tố rất quan trọng, đang diễn ra khá phổ biến, mạnh mẽ, nhiều chùa được hạ giải phục vụ xây dựng, tôn tạo. Đặc biệt là việc xây chùa quy mô lớn hơn, đồ thờ cũ không còn phù hợp, cùng với đó là việc dựng tượng, đồ thờ, pháp khí… cho chùa mới được “sáng tạo” với sự du nhập nhiều yếu tố ngoại lai không có chọn lọc, không có yếu tố thừa kế/không phù hợp truyền thống; hoặc không/chưa đảm bảo tư tưởng, triết lý Phật giáo… (chẳng hạn, đưa tượng Phật cũ vào thờ chung trên ban thờ Tổ… các tượng cũ, mới thờ cùng nhau, cách sắp xếp, bài trí tượng pháp không thống nhất giữa hệ thống tượng cũ và mới…).

“Trước hết là nhận biết, nhận thức, kiến thức của một số tăng, ni Phật giáo về giá trị di sản, vai trò, trách nhiệm và các quy định trong công tác bảo tồn, phát huy di sản Phật giáo nói chung, di sản Phật giáo tại cơ sở tôn giáo nơi sư trụ trì nói riêng còn hạn chế hoặc chưa đầy đủ, có những sư trụ trì còn chưa nhận biết được di sản Phật giáo nơi mình đang trụ trì, trông giữ hoặc vì mục đích cá nhân chưa đúng đắn… dẫn tới chưa quan tâm đến việc bảo vệ, giữ gìn, phát huy giá trị di sản, thậm chí còn có những tác động sai lệch dẫn tới làm biến dạng hoặc hủy hoại di sản. Đặc biệt là hiện tượng, Phật tử công đức đúc tượng pháp, đồ thờ, pháp khí hoặc các hạng mục liên quan đến kết cấu, không gian cảnh quan, kiến trúc chùa mà như cố Hòa thượng Thích Trung Hậu, Nguyên Trưởng Ban Văn hóa trung ương GHPGVN đánh giá: “…các vị trụ trì cơ sở tự viện chưa đánh giá đúng mức về văn hóa kiến trúc, thẩm mỹ khi xây dựng một ngôi chùa hay cách bảo quản di tích. Cứ ở đâu, ai có tiền là sửa chùa, trùng tu di tích. Họ bất chấp mọi hậu quả xảy ra khi di tích bị làm mới”. Đây là hiện tượng diễn ra ở khá nhiều “chùa di tích” mà thời gian gần đây, Giáo hội PGVN các cấp đã phải lên tiếng và cùng cơ quan quản lý nhà nước tăng cường xử lý vi phạm”2. Cùng với đó, một số cán bộ quản lý văn hóa, di sản cấp địa phương hoặc là chưa/không có sự phối hợp chặt chẽ với sư trụ trì hoặc chưa có nhận thức, tri thức, thiếu trách nhiệm hoặc không có đủ thời gian vật chất có thể theo dõi sát sao tình trạng quản lý di sản tại di tích…

Thứ 2, đó là sự hạn chế kiến thức của Tăng Ni về nhận biết di sản, giá trị, đặc trưng/đặc điểm di sản văn hóa Phật giáo; các quy định (Luật Di sản văn hóa); phương pháp bảo tồn, phát huy di sản phù hợp, hiệu quả, khả thi (quan điểm bảo tồn, cách tiếp cận/phương pháp bảo tồn, phát huy)…

Qua khảo sát thực tế cho thấy, có nhiều sư trụ trì đã có nhận thức và ý thức rất tốt về vai trò, ý nghĩa của di sản văn hóa Phật giáo cũng như đã có ý thức giữ gìn, bảo tồn và tích cực, sáng tạo, phát huy. Tuy nhiên, do kiến thức nền tảng về lịch sử, văn hóa Phật giáo hoặc tư duy/cách hiểu về phương pháp bảo tồn, lưu giữ, bảo vệ còn hạn chế dẫn đến kết quả bảo tồn, phát huy giá trị di sản, cốt lõi của lịch sử, văn hóa Phật giáo chưa bảm bảo hiệu quả cao, đôi chỗ còn sai lệch nội dung lịch sử, ý nghĩa, giá trị văn hóa Phật giáo. Đặc biệt là tình trạng sơn, tô tượng pháp, đồ thờ, pháp khí, kiến trúc và thêm thắt những chi tiết trang trí, nội dung trên di sản… hoặc sắp xếp, bài trí tượng thờ, đồ thờ, pháp khí không đúng tư tưởng, triết lý Phật giáo (lẫn lộn cả tín ngưỡng dân gian, tôn giáo khác với Phật giáo, trong nước và nước ngoài…). Chẳng hạn: trong chính điện/tam bảo chùa Bắc Tông thờ cả tượng Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu, Sư Tăng hoặc tượng Phật thì cũng có các loại tượng Phật lẫn các tượng khác… (do kết quả của việc cải tạo chùa, bổ sung tượng lớn hơn hoặc tiếp thu cách thờ, tượng thờ của các nước đưa vào chính điện) hay trong chính điện chùa Nam tông Khmer/Khất sĩ, sơ khởi chỉ thờ tự duy nhất Đức Bổ sư Thích Ca, tuy nhiên, dần theo thời gian, do nhu cầu tín ngưỡng của sư trụ trì hoặc Phật tử, dân chúng, các loại tượng thờ khác cũng dần xuất hiện, chẳng hạn, cùng với tượng Đức Bổn sư Thích Ca còn thờ cả tượng Thích Ca sơ sinh, Dược sư, Quan Âm… Điều đó cho thấy, sau sự thay đổi về cách thức thờ tự còn ẩn chứa những sự thay đổi về tâm linh, giá trị tinh thần trong thờ tự. Đây là một trong những khía cạnh bảo tồn các giá trị phi vật thể/yếu tố tinh thần trong thờ tự…

Thứ 3, đó là giá trị di sản chưa được kế thừa một cách hiệu quả cũng một phần là do chưa có sự nghiên cứu bài bản, khoa học để xây dựng được những chuẩn mực làm cơ sở định hướng bảo tồn, phát huy đúng đắn. Nhiều di sản văn hóa Phật giáo còn đang lưu giữ tản mạn ở nhiều nơi, nhất là các tự viện, sưu tập tư nhân… còn chưa được hệ thống hóa và phát huy giá trị một cách hiệu quả. Cùng với đó là một khối lượng lớn những tài sản Phật giáo, đặc biệt là những tài sản (bao gồm cả hệ thống kinh sách, công trình nghiên cứu Phật giáo) thuộc giai đoạn lịch sử cận-hiện đại, chưa được công nhận là cổ vật, bảo vật nhưng chứa đựng giá trị lịch sử, văn hóa Phật giáo đang trong tình trạng mai một nhanh chóng, nhất là qua những đợt trùng tu, tôn tạo công trình thờ tự (hạ giải công trình, thay đổi thiết kế, quy mô, kết cấu công trình, đồ thờ tự, pháp khí…). Tất cả những khối tài sản đó đều rất có giá trị, trở thành cổ vật, bảo vật trong tương lai và sẽ trở thành một phần quan trọng trong tiến trình phát triển của Phật giáo Việt Nam. Trong khi đó, việc xây chùa, tạc tượng, nghi lễ… chủ yếu phụ thuộc ý tưởng/ý thích của cá nhân sư trụ trì và sự sáng tạo của những người thợ của các làng nghề cung cấp sản phẩm. Thực tế, rất nhiều sư trụ trì và các làng nghề, ngành nghề cung cấp sản phẩm cho các hoạt động Phật giáo đều rất mong muốn có được những tài liệu, sự hướng dẫn bài bản, khoa học để có thể làm cơ sở kế thừa, sáng tạo, phát triển mà vẫn đảm bảo giữ gìn truyền thống, đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam.

Thứ 4, đó là sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước với sư trụ trì ở một số chùa còn chưa chặt chẽ nên dẫn đến tình trạng mất cắp cổ vật, đặc biệt là cơ quan quản lý không kiểm soát được di sản đã được kiểm kê, xếp hạng (danh sách di vật chỉ còn trên giấy tờ, hồ sơ mà chưa chắc còn trên thực tế); nhiều chùa hiện nay (xu hướng) các sư trụ trì không muốn đề nghị xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cho cơ sở thờ tự bởi khi chùa được xếp hạng sẽ gặp nhiều khó khăn, không chủ động trong hoạt động, đôi khi còn là rào cản làm tác động di sản mai một nhanh hơn bởi sự phối hợp giữa tăng, ni Phật giáo (phổ biến là các sư trụ trì) với cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa đôi chỗ còn chống chéo hoặc còn khoảng trống đã gây những khó khăn cho các sư trụ trì, nhất là trong hoạt động sửa chữa, cải tạo, xây dựng các công năng phục vụ sinh hoạt của chùa, cơ sở tự viện hoặc là các di sản vật thể có chất liệu không bền vững, xuống cấp, mặc dù đã được các sư trụ trì báo cáo xong chưa được bố trí xử lý kịp thời dẫn đến di sản bị mai một nhanh chóng. Đây cũng là vấn đề mà nhiều năm nay, Giáo hội PGVN cũng như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chưa tháo gỡ, giải quyết triệt để được bởi các quy định, nhất là của Giáo hội còn chưa đầy đủ cũng như trên thực tế cho dù các quy định, pháp luật đã quy định khá rõ nhưng việc triển khai phối hợp, thực hiện (mà trực tiếp là đơn vị quản lý di sản, văn hóa cấp thôn, xã và tăng, ni trụ trì cơ sở thờ tự) còn chưa thực sự đồng bộ, thống nhất nên chưa đạt được hiệu quả cao.

Tình trạng các công trình Phật giáo khi được cải tạo, sửa chữa, trùng tu, xây mới chỉ có ý kiến/sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn mà không hoặc chưa có sự tham gia của Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp dẫn đến bất cập trong thống nhất quản lý, chỉ đạo của GHPGVN, Ban Trị sự PGVN các tỉnh thành đối với các sư trụ trì các ngôi chùa. Hơn nữa, trong lĩnh vực này, hầu như Giáo hội đứng ngoài cuộc trong khi trên thực tế, toàn bộ di sản lại do các sư trụ trì trực tiếp quản lý, sử dụng, bảo vệ, phát huy, mà các sư trụ trì lại chịu sự quản lý, hướng dẫn trực tiếp của Giáo hội.

Thứ 5, đó là còn thiếu chế độ đãi ngộ cũng như chế tài xử lý vi phạm trong bảo vệ, bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo hoặc chưa đủ sức mạnh để xử lý dứt điểm xử lý vi phạm.

Thứ 6, đó là tiếp cận của truyền thông về lĩnh vực này còn hạn chế/chưa bài bản. Hầu hết nội dung truyền thông hiện nay chủ yếu tập trung vào giới thiệu giá trị di sản văn hóa Phật giáo hoặc là những trường hợp vi phạm trong cải tạo, trùng tu làm hư hỏng, mai một, sai lệch giá trị di sản văn hóa Phật giáo ở một số cơ sở tự viện là di tích. Trong khí đó, những nội dung hướng dẫn Tăng Ni nhận diện cơ bản di sản văn hóa Phật giáo, vai trò của mình cũng như cách thức, tri thức cơ bản trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo… là những nội dung khá quan trọng, cần thiết thì còn hạn chế.

Thứ 6, đó là do thiên nhiên, khí hậu, tình trạng đô thị hóa, hiện đại hóa, giao lưu, hội nhập; sự khó khăn, hạn chế về nguồn lực/khả năng, điều kiện cơ sở vật chất, hạ tầng, không gian, bảo quản của các cơ sở tự viện. Hầu hết di sản, hiện nay, đang trong tình trạng lưu giữ chồng chất trong kho hoặc do không đủ không gian, không đủ điều kiện, môi trường bảo quản.

3. Một số giải pháp

Để tiếp tục và từng bước khắc phục tình trạng trên đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo hiệu quả hơn, cần thực hiện sớm và đồng bộ các giải pháp sau:

– Tăng cường nhận thức, bổ sung kiến thức về di sản, bảo tồn, phát huy di sản cho trước hết là các sư trụ trì (qua các chương trình tập huấn, bồi dưỡng kiến thức… của Ban Văn hóa trung ương; các chuyên đề trong chương trình đào tạo của các trường đào tạo, lớp học hạ hoặc lớp bồi dưỡng định kỳ hàng năm…) và trách nhiệm của các sư trụ trì trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo. Trước hết, Ban Văn hóa TƯ cần lập kế hoạch phối hợp với các cơ quan chuyên môn liên quan, chuyên gia tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức.

Theo Luật di sản văn hóa thì tổ chức, cá nhân có các quyền và nghĩa vụ “Tôn trọng, bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa”, “ngăn chặc hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ngăn chặn, xử lý kịp những hành vi phá hoại, chiếm đoạt, sử dụng trái phép di sản văn hóa”. Vì vậy, mỗi một vị tăng, ni Phật giáo trước hết là một công dân Việt Nam, đều phải thực hiện nhiệm vụ theo quy định, pháp luật chung của nhà nước, đặc biệt các tăng, ni Phật giáo là người trụ trì ở những ngôi chùa, đặc biệt là chùa di tích thì hơn ai hết, họ lại càng đóng vai trò quan trọng, trực tiếp trong việc gìn giữ, phát huy giá trị di sản đó. Bởi, ngôi chùa, nhất là chùa làng (chiếm tỉ lệ phổ biến) là biểu tượng vật chất của Phật giáo tại các cộng đồng làng xã. Tại mỗi ngôi chùa đều có tăng, ni cư trú, được Ban trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh bổ nhiệm trụ trì. Trụ trì là người thay mặt Giáo hội quản lý, điều hành các hoạt động của cơ sở tự viện theo đúng Hiến chương của Giáo hội, pháp luật Nhà nước. Về mặt luật pháp, trụ trì chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động Phật sự tại cơ sở tự viện.

– Cần xác định, đặt đúng vai trò (mà cụ thể là quyền và nghĩa vụ) của sư trụ trì trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo: Trước những thách thức của thời đại, vấn đề nhận diện, xây dựng phương pháp bảo vệ giá trị di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam là một việc làm cần thiết. Quan điểm nhìn nhận vai trò của sư trụ trì như một bên liên quan quan trọng trong việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo là một giải pháp hiệu quả. Vai trò sư trụ trì cần đặt trong mối tương quan với các bên liên quan khác, nhất là cộng đồng, chính quyền địa phương, cũng như cần được tạo điều kiện hoạt động thông qua cơ chế chính sách của Nhà nước, Giáo hội. Nếu như quyền và nghĩa vụ của tăng, ni Phật giáo được nhận thức đầy đủ và có sự phối hợp tốt của cơ quan quản lý nhà nước về di sản văn hóa thì chắc chắn sự đóng góp của họ trong việc quản lý, bảo tồn, phát huy sẽ hiệu quả và khả thi hơn rất nhiều.

– Tăng cường sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa với các cơ quan chức năng liên quan trong quản lý di sản. Bổ sung những quy định cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp nhằm tăng cường vai trò quản lý di sản một cách thiết thực, đồng bộ, hiệu quả hơn.

– Trong phạm vi Giáo hội quản lý, cần xây dựng và thực hiện chế độ đãi ngộ, tuyên dương… những tổ chức, cá nhân có thành tích tích cực trong bảo tồn, phát huy di sản hiệu quả để nhân rộng tấm gương tiêu biểu, điển hình đồng thời xây dựng và thực hiện xử lý vi phạm (những mức độ khác nhau: xử phạt, khiển trách…) nhằm thực hiện bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo một cách thiết thực, hiệu quả hơn.

– Cần xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện đánh giá thực trạng bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo trên toàn quốc (trước hết là kiểm kê toàn bộ khối di sản vật thể, phi vật thể lưu giữ tại các cơ sở tự viện theo các cấp độ: di sản thế giới, di tích quốc gia đặc biệt, di tích cấp quốc gia, di tích cấp tỉnh và danh mục các di sản được kiểm kê kèm theo; bảo vật quốc gia…) để làm cơ sở nắm bắt, đánh giá hàng năm giúp việc quản lý, thực hiện bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo trong phạm vi Giáo hội một cách khoa học, khả thi.

– Tăng cường nghiên cứu, khai thác giá trị từ di sản Phật giáo để kế thừa, phát huy, đáp ứng yêu cầu của xã hiện đại đồng thời định hướng đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam. Trong đó, cần tập trung nghiên cứu bài bản hệ thống kinh, sách hướng dẫn và di tích, di vật (là những tư liệu quý giá) để xây dựng những tiêu chí, chuẩn mực bổ sung công cụ cho sự kiểm soát, quản lý việc bảo tồn, phát huy di sản. VD: tập hợp/xây dựng hệ thống về kiến trúc (không gian cảnh quan, bố cục, công năng sử dụng…); về biểu tượng, trang trí, mỹ thuật và ý nghĩa của chúng; về tượng pháp, đồ thờ, pháp khí (nhất là hệ thống hoành phi, câu đối, đại tự, bia ký, chuông, khánh…); về các cách thức thực hành nghi lễ, tổ chức lễ hội Phật giáo…

– Cần xây dựng những trung tâm văn hóa/bảo tàng để lưu giữ, giới thiệu một cách đầy đủ, toàn quốc, toàn diện, thống nhất trong đa dạng về Phật giáo Việt Nam (có thể theo vùng, miền hoặc theo hệ phái…).

– Cần xây dựng kế hoạch/đề án tổng thể cho việc bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo, trong đó phân tách từng lĩnh vực, vấn đề cần xử lý, thực hiện theo lộ trình, khoa học nhằm đảm bảo tính đồng bộ, triệt để, hiệu quả, khả thi cao hơn.

– Tăng cường, thể chế hóa vị trí, vai trò của Giáo hội PGVN trong bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo. Đặc biệt, đối với những cơ sở tự viện là di tích thì việc quản lý của Giáo hội không chỉ là quản lý về nhân sự, hoạt động tôn giáo, cơ sở vật chất thông thường mà thông qua đó còn quản lý cả văn hóa vật thể, phi vật thể mà trong đó di sản văn hóa phải được xác định là một phần rất quan trọng.

Di sản văn hóa Phật giáo là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, gắn liền với đời sống văn hóa tín ngưỡng, tôn giáo của các cộng đồng dân cư. Đó là một phần quan trọng trong đời sống tâm linh, lịch sử, văn hóa truyền thống, dân tộc. Đồng thời, đó còn là dữ liệu quan trọng trong việc nghiên cứu phục vụ xây dựng định hướng, xác định mục tiêu phát triển Phật giáo vừa hiện đại vừa kế thừa truyền thống đảm bảo đặc trưng văn hóa Phật giáo Việt Nam. Vì vậy, sự nghiệp bảo tồn, phát huy di sản văn hóa Phật giáo trước thực trạng hiện nay, hơn lúc nào hết, nó càng trở nên cấp thiết và cần phải được đánh giá, thực hiện một cách khoa học, bài bản, đồng bộ các giải pháp… cũng như sự vào cuộc nhiệt thành, trách nhiệm của tất cả các bên liên quan mà trước hết là của các tăng ni Phật giáo trụ trì các cơ sở tự viện; sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ban Văn hóa Trung ương… Thực hiện tốt việc bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa Phật giáo đóng vai trò quan trọng tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong phát triển Phật giáo Việt Nam cũng như góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nguồn sức mạnh nội sinh, yếu tố quan trọng hàng đầu của đất nước trong thời kỳ hội nhập, phát triển./.

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

  1. Luật Di sản văn hóa số: 32/2009/QH12 ngày 18 tháng 6 năm 2009 sửa đổi, bổ sung năm 2009.
  2. https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=77C601
  3. http://phatgiaonamtongkhmer.org/vai-tro-cua-su-tru-tri-trong-bao-ton
  4. Ban Văn hóa Trung ương. Tài liệu tổng hợp kết quả khảo sát, tọa đàm về Kiến trúc Phật giáo Việt Nam. Tháng 3/2023.