Giới thiệu về lý tưởng Bồ tát trong Kinh Thập Địa (SC. Thích Nữ Huệ Thùy)

DẪN NHẬP

Hình ảnh Bồ tát được nhắc đến nhiều trong hệ thống Kinh điển Đại thừa với vô số hạnh nguyện cũng như hành trình tu tập. Bồ tát thấy được thực tại đời sống rằng chúng sanh đang còn mãi chìm đắm trong cơn mê, vô minh vọng chấp, từ đó nhìn thấy “nước mắt của chúng sanh trong ba nghìn thế giới còn nhiều hơn nước bể bốn đại dương”. Đạo Phật nêu lên những nguyên lý khổ đau của con người và đi đến giải quyết những khổ đau ấy. Nếu chân lý này không hiện hữu tức chư Phật, chư Bồ tát đã không hiện hữu, vì làm sao các ngài có đủ lý do để thị hiện ra trên cõi đời này với hạnh nguyện lớn lao là cứu khổ muôn loài chúng sanh? 

Chính hạnh nguyện lớn lao này đã làm khởi lên ngọn lửa mãnh liệt trong trái tim người. Nó kết tinh lại thành lý tưởng, thúc đẩy ta không ngừng đi tới trước mọi gian khổ, và có thể chấp nhận hy sinh tất cả ngay chính cả thân mạng mình. Đạo Phật gọi đó là lý tưởng Bồ tát. 

KHÁI NIỆM VỀ BỒ TÁT

Theo từ nguyên học, Bodhisattva (Bồ tát) là thuật ngữ được ghép thành từ chữ Bodhi, với ý nghĩa là sự giác ngộ hay chứng ngộ (của một vị Phật), và sattva có nghĩa là “chúng sinh” [1]. Kết hợp lại nghĩa là “một chúng sanh mà tâm của người ấy đã trở nên vững chắc ở sự giác ngộ, cũng được truyền thống công nhận”[2]. Hay “Bodhisattva là một chúng sinh thiết tha đối với sự giác ngộ” [3]. Ta có thể hiểu Bodhisatta là một chúng sanh bình thường, tự mình vượt qua những dục vọng của bản thân, tha thiết hướng đến sự giác ngộ. Khái niệm Bồ tát được đề cập trong giáo lý Phật giáo, không phải là tư tưởng đặc quyền của Phật giáo Bắc truyền, mà nó đã xuất hiện trong Kinh tạng Nikaya của văn điển Pali – là một phần của toàn bộ giáo điển Theravada. Đức Phật lúc chưa giác ngộ là một chúng sanh đang đi trên con đường hướng tới giải thoát = Bồ tát. Ngài cũng có những lúc vô minh, cuốn trôi trong ưu não… khi còn là Bồ tát. Đồng thời, Đức Phật nhiều lần công nhận những đại đệ tử của Ngài chứng đắc các cấp độ tâm linh ngang bằng Đức Phật. 

Muốn làm Bồ tát trước hết phải có tâm nguyện rộng lớn, phát lời thệ nguyện độ khắp tất cả muôn loài chúng sanh mà ở đây chúng ta có thể nói đến là Tứ hoằng thệ nguyện do mỗi hành giả hằng ngày trì niệm. Nhìn chung, Bồ tát còn là khái niệm tổng thể và giàu ý nghĩa để chỉ những vị chứng quả thâm diệu, nhưng vì theo đuổi tâm nguyện độ thoát chúng sanh, nên còn lưu lại trong tam giới.

TÌM HIỂU VỀ KINH THẬP ĐỊA

Hoa Nghiêm Kinh có kết cấu không thống nhất, là một bộ các kinh văn có nội dung riêng biệt. Kinh hiện còn hai phần Phạn văn – một là mười công đoạn tu tập trên con đường của Bồ tát đạt đến giác ngộ được dịch trong Thập Địa Kinh, thứ hai là những tư tưởng cao nhất của Hoa Nghiêm Kinh nằm trong Nhập Pháp Giới phẩm (Gandavuyha Sutra). Ở đây, chúng ta sẽ tìm hiểu về Kinh Thập Địa. 

Theo nghiên cứu, Thập Địa Kinh được phiên dịch sang tiếng Trung Quốc vào thế kỷ thứ III. Bản dịch tiếng Trung Quốc hoàn hảo của Hoa Nghiêm kinh do Bồ-đề-bạt-đà-la phiên dịch vào năm 418-421, sau đó có một bản dịch khác hoàn thành vào cuối những năm thuộc thế kỷ VII  Cho thấy kinh điển Đại thừa ở thời cổ đại không nguyên vẹn, mà trải qua nhiều sự chỉnh sửa, mở rộng và đôi khi còn được rút gọn [4]. 

Theo một nguồn tư liệu khác, Daśabhūmika-sūtra (tức Kinh Thập Địa) do Dharmarakṣa dịch sang Hoa ngữ vào năm 297. Nhưng học giả A.B. Keit lại cho rằng, kinh này xuất hiện vào thế kỷ thứ IV [5]. Trong Kinh Hoa Nghiêm có nhắc đến hàng Bồ tát Thập địa gồm mười cấp bậc tu chứng. Để chứng được Phật quả như đã nói, hành giả cần phải thể nhập vào Thập địa hay Bồ tát địa qua quá trình tu tập Thập độ Ba-la-mật, từ đó diệt trừ Thập chướng. Ở Hoa Nghiêm Kinh, hàng Bồ tát tập sự chưa thể trở thành Bồ tát thực thụ. Vị ấy chưa chính thức nhận trách nhiệm, phải nương theo sự chỉ đạo của hàng Thập Thánh để phát triển đạo hạnh của bản thân. Tuy vậy, khi Bồ tát ấy đăng địa, chính là bước sang giai đoạn phải phát huy bằng tự lực mà không nương nhờ bậc đạo sư nữa.  

CÁC HÀNH BỒ TÁT THEO THẬP ĐỊA KINH

Bồ tát Sơ địa: Hoan Hỷ địa

Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: Bồ tát Sơ địa hiện thân làm tiểu vương, là lãnh chúa cai trị một vùng. Như người với công việc hoằng pháp lãnh trị một phần trách nhiệm từ Giáo hội, vị ấy hăng say và nhiệt tâm trước thuận nghịch. Bấy giờ vị hành giả này đã chứng đạt Sơ địa Bồ tát. “Bắt tay vào lãnh đạo mới nhận chân được nhiều khó khăn, mới thấy được các bậc cha anh thật tài đức. Bắt đầu viết sách, dịch kinh, mới thấy HT Trí Tịnh quá giỏi. Đến làm Trưởng ban Hoằng pháp, mới phục cố HT Thiện Hoa. Làm việc, va chạm với nhiều khó khăn, nhưng lòng vẫn hoan hỷ, không nhăn nhó. Bình tĩnh, sáng suốt, vui vẻ là ba đức tính mà Bồ tát Hoan Hỷ địa an trụ”[6]. Dù trong bất kì hoàn cảnh nhân duyên nào, hành giả cũng cố gắng hoàn thành tốt, gặp chuyện hay dở, giữ tâm thái tích cực không để bị kích động hay tức giận, nương theo đức hạnh các bậc chân tu mà học hỏi.

Trong lúc hành đạo, hành giả hẳn sẽ không thiếu gặp chướng duyên, nhưng không vì thế mà dùng tâm sân giận trả đũa lại người, thù hằn họ, chỉ có thể lấy tài năng và đức hạnh tu trì chuyển hóa cái tâm tánh xấu ác đó. Bồ tát Sơ địa tu Thập Ba la mật và Tứ Nhiếp pháp, đối với Bố thí: “Tôi thường tìm pháp lữ đồng hành, đồng hạnh, đồng nguyện; vì thiếu quyến thuộc, không làm được. Tìm xem ai có căn tánh Đại thừa để ta kết làm bạn tu, cả hai bên đều chung sức với nhau. Không được như vậy, khó làm nên đạo nghiệp”[7]. Bồ tát hành Bố thí trên ba phương diện. Về tài thí là cho đi của cải, vị ấy kết nhiều thiện duyên với chúng hữu tình, giúp họ qua hoạn nạn và thành công. Về pháp thí, không chỉ là giảng kinh, nói pháp mà chính là lời hay ý đẹp, chân lý, ý nghĩa cuộc sống trong lúc họ đang khốn khổ, tâm bất thiện mà chúng ta có thể chuyển hóa được họ hướng thiện, tư tưởng tích cực và sống có giá trị hơn. Tiếp đến là nói pháp hướng họ tu tập giải thoát. Hơn nữa là Bồ tát Sơ địa cho người được sự an lành. Muốn được như thế, tự thân chúng ta cần phải an trước, rồi sau đó họ an khi có sự hiện hữu của mình. “Kinh Hoa Nghiêm dạy sáu cách giúp tha nhân khôi phục cảm giác an toàn? Một, nên suy nghĩ rằng mình như căn nhà, giúp tha nhân được che chở. Hai, mình như kẻ bảo vệ chặn đứng không để phiền não bức bách. Ba, mình như ngọn đuốc thắp sáng lối đi, phá tan bóng tối…”[8], là pháp vô úy. Khác với chúng phàm phu bố thí nhưng tâm có thể vẫn còn phiền não. 

Bồ tát Nhị địa: Ly Cấu địa

Sau khi thành tựu ở Sơ địa, Bồ tát và chúng sanh có sự gắn kết trong tình thương. Tuy nhiên, để có thể giữ được lâu dài, không phân biệt nghĩa là Bồ tát cần tịnh hóa thân tâm, trì giới thanh tịnh. Trên căn bản, chúng ta cần nghiêm trì khiến cho tam nghiệp thanh tịnh. Khi thấy người thiện dễ thương, nhưng tướng mạo không trang nghiêm và xấu xí, Bồ tát không vì thế mà sanh tâm phân biệt, chê bai vì lúc này nghiêm trì giới luật khiến Bồ tát thanh tịnh vậy.

Ở giai đoạn này Bồ tát chuyên trì giới, xa lánh các duyên pháp thế gian, không bị chi phối bởi hơn thua, vọng tình mê chấp mà trái lại làm nhiều việc công đức hơn. Tâm lúc nào cũng thanh tịnh, hòa hợp, không khởi các niệm phân biệt với chúng sanh. Khi ấy, chúng sanh thấy hình tướng mà phát tâm quy ngưỡng. Hình ảnh Bồ tát với tâm thanh thản, phụng sự giúp đời mà không nhiễm bụi trần, đóng góp nhiều lợi ích cho đời vẫn không rời giải thoát, không vướng mắc lợi danh phiền não hay tham vọng. Tóm lại, Bồ tát Nhị địa tu Tam tụ tịnh giới, thiền định thâm sâu, lấy sự lợi ích chúng sanh làm trọng và đoạn trừ các phiền não vậy.

Bồ tát Tam địa: Phát Quang Địa

Ở hàng Nhị địa, Bồ tát có quyền hành lãnh trị với vai trò là Chuyển luân Thánh vương. Bồ tát tiếp tục thâm nhập địa thứ ba là Phát Quang địa. “Ở vị trí này, Bồ tát chứng được luật vô thường, tu trì tâm mình, thực hành hạnh nhẫn nhục khi gặp chướng ngại trên đường hóa độ chúng sanh. Lại trừ được ba độc và bốn cấp định an chỉ bốn xứ, chứng đạt năm phần trong lục thông”[9]. Vì không chú trọng quyền lợi thế gian mà hướng tâm đến những điều cao thượng hơn, vị ấy từ bỏ các ý niệm tầm thường thế gian. Nhờ sự hành trì giới căn bản Bồ tát luyện được thân tâm thanh tịnh, thường sống trong Diệu Pháp, nhớ nghĩ về pháp mà không bị đọa lạc. Tại đây, Bồ tát Phát Quang địa tu pháp nhẫn nhục, nghĩa là chúng sanh cần gì trên cuộc đời này, Bồ tát sẵn sàng trao cho họ, kể cả thân mạng. Bồ tát nhẫn nhịn để làm lợi ích cho chúng sanh, không bị chúng sanh và hoàn cảnh chi phối. Cái nhẫn của Bồ tát khác hẳn nhẫn nhục của Thanh văn, vì không phải chịu đựng, ấm ức trước những gì chúng sanh đổ lên. Trái lại suy nghĩ ứng xử cách nào lợi lạc cho người trong hiện tại và tương lai. 

Bồ tát đệ Tứ địa: Diệm Huệ địa

Thành tựu hạnh nhẫn nhục, tiến đến Diệm Huệ địa ở cõi Dạ Ma Thiên. Lúc này Bồ tát chuyên hành Tinh tấn và Đồng sự. Vì có kiến thức cao tột ở cõi Trời Dạ Ma mà Bồ tát nhập thế, sinh hoạt với người thường thành công dễ dàng. Trong bình thường, Bồ tát không cần nhọc công luôn an nhàn bình thản, với việc khó khăn mà người không kham nổi, Bồ tát cũng sẵn lòng không buông lời than trách. Chính bởi hạnh nguyện, Bồ tát lập hạnh mang lợi lạc cho người, không biết mệt mỏi: “Thừa sự thập phương chư Phật vô hữu bì lao”. Ví như Bồ tát muốn nhiếp phục, chuyển hóa người nông dân, thì lúc này Bồ tát cũng phải dấn thân mình vào lối sống ấy cùng lao động với họ. Tóm lại, giai đoạn này, Bồ tát tinh tấn để dẫn dắt nhiều người trở thành quyến thuộc Bồ-đề, đương nhiên Bồ tát phải đồng lao cộng khổ với người.

Bồ tát đệ Ngũ địa: Nan Thắng địa

Với trí tuệ đã phát sanh nhờ tinh tấn tu trì ở Diệm Huệ địa, thì tại Nan Thắng địa, tu Thiền định nên không rơi vào tà. Lúc này Bồ tát từ bỏ những lợi danh, quyền uy để thâm nhập giáo nghĩa Phật dạy và tiến sâu vào Thiền định. Ở đoạn này, Bồ tát thấu suốt Phật pháp, tức là cảnh giới bên ngoài vào cảnh giới bên trong là Đâu Suất Đà Thiên của Đức Di Lặc. Vì nếu chúng ta không có trí tuệ vào tà định thì gặp thiên ma. “HT Trí Tịnh nhắc nhở tôi, khi sống trong Thiền định sẽ có trực giác; rời định, chúng ta sống với vọng thức, tính toán thường gặp rắc rối. Sống trong Thiền định, có trực giác, thấy việc biết ngay tốt xấu, vì lòng chúng ta yên tĩnh như gương, cái gì hiện lên, chúng ta biết rõ, đúng được tám mươi phần trăm, không cần suy nghĩ; còn suy nghĩ kỹ cũng chỉ biết đúng năm mươi phần trăm” [10]. Bồ tát Thiền định thâm sâu, trở thành một người phi thường, làm việc lợi ích chúng sanh; vì pháp tỏ bày trong tâm, phàm phu không thể hiểu được, nên gọi là Nan Thắng địa. 

Bồ tát đệ Lục địa: Hiện Tiền địa

Trên bước đường hành Bồ tát đạo, ở địa này, Bồ tát vì hoàn tất năm pháp trước làm nền tảng cho việc chứng đắc trí tuệ Ba la mật. Vị ấy trở thành Thiện Hóa Thiên Vương với trí tuệ siêu tuyệt, thấy biết chính xác tam thiên đại thiên thế giới như thấy vật để trên bàn tay. Nghiên cứu theo tinh thần Hoa Nghiêm, thành tựu Trí tuệ không dừng lại ở điểm này, vì từ chơn không của Bát Nhã phát sanh diệu hữu. Vậy nên, kinh Hoa Nghiêm triển khai thêm bốn pháp hành ba la mật của Bồ tát đạo là phương tiện, nguyện, lực và trí.

Bồ tát đệ Thất địa: Viễn Hành địa

Ở đệ Thất địa, Bồ tát tu Phương tiện. Tức điều chỉnh thân khỏe mạnh, oai nghi, chuyển ác nghiệp thành phước đức thân tướng trang nghiêm. Vì nếu không có sức khỏe, tướng mạo xấu xí cộng với kém phước đức nữa thì việc sẽ không được thành tựu; sức khỏe là phương tiện căn bản cần có của Bồ tát. Thứ hai, theo Kim Cang Tạng Bồ tát thì những gì chúng sanh cần, Bồ tát đều đáp ứng được. Bồ tát hành đạo tùy phương tùy tiện, hay tùy không gian và thời gian mà thỏa mãn yêu cầu của mọi người. Cho đến khắp pháp giới chúng sanh, chỗ nào, người nào, lúc nào, Bồ tát cũng phương tiện mà đáp ứng mọi nhu cầu sự cần thiết. Ngoài ra, để giáo hóa chúng sanh được phổ cập, Bồ tát phải hiểu biết về kỹ thuật, lý luận học và Phật học. Người Tây phương rất thích Thiền học của Phật giáo và Lạt Ma giáo mà người thường không thể đáp ứng được. Còn phương tiện của chúng ta chỉ giới hạn, không thông thạo ngôn ngữ cũng như không giải đáp được sự bế tắc của người, tất nhiên khó giáo hóa.

Theo Kinh Hoa Nghiêm, Bồ tát đạt được Phương tiện Ba la mật, giải quyết trọn vẹn yêu cầu của chúng sanh. Bồ tát chuyên trì niệm Phật, Pháp, Tăng và chớ tự mãn vì như thế sẽ dẫn đến rớt xuống lục đạo, tức còn thoái chuyển. Có thể nói, đạt đến đệ Thất địa có phương tiện Ba la mật, Bồ tát tiến tu đệ Bát địa, sau sáu Ba la mật Phật dạy, bên kia Chơn không còn có cái thật mầu nhiệm của Phật, Bồ tát. Chưa qua được khoảng chơn không này, dù đứng trên thiên hạ, có đủ phương tiện, Bồ tát đệ Thất địa vẫn còn bị sự chi phối của người, vẫn rớt lại dễ dàng. Tuy vậy, với vô số phương tiện dẫn dắt, người ấy tiến đến chân thật pháp, khi hành đạo giáo hóa, vị ấy làm cho họ thấu hiểu và hành trì sự hiểu đó.

Bồ tát đệ bát địa: Bất Động địa

Sau khi thành tựu được việc sử dụng phương tiện độ sanh, giai đoạn này Bồ tát bước sang đệ Bát là Bất Động địa. Lúc này chuyên tâm vào hành pháp Nguyện Ba la mật, là dùng nguyện lực tác động vào chúng sanh phát tâm Bồ đề. Với ý nghĩa Bồ tát không giáo hóa mà chúng sanh cảm ân, là sự khởi tâm nghĩ đến người hay ngược lại khi cần giúp đỡ. Ở giai đoạn này, Bồ tát dường như đã trừ sạch phiền não nhiễm ô, các cấu uế, nên nhờ vậy tiếp nhận Phật lực, trang nghiêm tự thân bằng những công đức của mười phương chư Phật. Chính sự trang nghiêm ấy, chúng sanh tự cảm lấy nơi thân tướng oai đức trang nghiêm mà thuần thục theo khiến họ cũng thanh tịnh, giải thoát nơi các phiền não, nhiễm ô mà phát khởi sự tu hành. 

Chúng sanh hiện hữu có muôn hình vạn trạng, cũng như chư Bồ tát có muôn ngàn pháp môn phương tiện dẫn dắt, giáo hóa chúng sanh mà tùy theo căn tánh của mỗi người. Đó là vị trí của Bồ tát đệ Bát địa, Bất Động địa này thể nhập vào thế giới Phật. Như vậy, chúng ta thấy với sự nỗ lực tu tập từ Sơ địa đến đệ Thất địa, đạt được Phương tiện Ba la mật, rồi từ đó mở ra cho Bồ tát cánh cửa khác để bước vào thế giới không sanh tử. Còn ở giai đoạn trước, Bồ tát cũng vẫn còn nghiệp Duyên khởi, công phu tu tập cũng bị tiêu tan, tức còn bị sanh tử chi phối.

Bồ tát đệ cửu địa: Thiện Huệ địa

Ở địa trước chúng ta thấy với trạng thái tâm hoàn toàn thanh tịnh, Bồ tát có thể thành tựu mọi việc giáo hóa chúng sanh và thọ pháp với mười phương Phật nhờ vào nguyện sâu chắc. Tới giai đoạn này đối với Bồ tát, mọi việc tự động sáng ra, dễ dàng tiếp nhận pháp âm Phật, đạt được Phật huệ, hiểu biết đồng với Phật, bước lên địa vị thứ chín gọi là Thiện Huệ địa Bồ tát. Ở đây, Thiện Huệ được hiểu là huệ tròn đủ, hành được Tứ Vô ngại biện tài để giáo hóa chúng sanh.

Bồ tát đệ thập địa: Pháp Vân địa

Ở giai đoạn này, ví như mây trùm Pháp giới không còn giới hạn nào, thành tựu viên mãn đạo Bồ đề. Bồ tát thành tựu Trí Ba la mật, khác với Trí ở địa thứ sáu. Như trong biển trần khổ, Bồ tát giai đoạn này thấy vô số châu báu và dùng đó cứu độ chúng sanh. Tóm lại, kinh Hoa Nghiêm quy định Bồ tát hoàn tất lộ trình Bồ tát đạo, phải trải qua mười cấp bậc tu chứng trong thánh vị và chờ thành Phật, là nhứt sanh bổ xứ Bồ tát.

Để thành tựu đạo quả, Bồ tát phải trải qua thiết thân kiểm nghiệm không đơn giản như việc Bồ tát phải xả thân hành đạo đến ba ngàn đại kiếp như kinh chép. Như vậy, pháp hành này tuyệt nhiên không phải là việc luận bàn suông của hàng phàm phu. Trước khi bước vào Pháp giới, Bồ tát phải trải chặng đường tu chứng đến Đẳng giác Bồ tát là hoàn tất giai đoạn một, tương đương với Phật nhưng không làm Phật được vì phước đức chưa có. Cũng như học vị xuất sắc thôi chưa đủ, quá trình phụng sự, giúp đời sau đó mới thực sự quan trọng. Căn cứ vào lộ trình kinh Hoa Nghiêm, khi Bồ tát tu Thập Ba la mật mà thấy không có kết quả, phải biết mình chưa đủ tư cách. Chúng ta chỉ bước vào Pháp giới với điều kiện người nhìn thấy ta phải phát tâm Bồ đề, như thế thì mới hoàn tất vai trò Bồ tát.

KẾT LUẬN

Lý tưởng Bồ tát chính là hạnh tu viên mãn của Bồ tát đạt quả vị Đẳng giác và tiến đến Bồ tát Diệu giác. Tại đây tương đương với Phật về trí tuệ, nhưng phải thành tựu phần diệu dụng giống như Phật mới ngang bằng với Phật là Diệu giác Bồ tát, hay còn gọi là Bồ tát Nhứt sanh bổ xứ. Trưởng giả Duy Ma Cật đã thốt lên: “Tôi bệnh vì chúng sanh bệnh. Khi bệnh của chúng sanh được khỏi thì bệnh của tôi sẽ khỏi”. Cũng vậy, khi hành Bồ tát đạo là chúng ta xem cái bệnh, cái khổ của chúng sanh như chính bệnh khổ bản thân. Chính vì thế, chúng ta có trách nhiệm đối với người và xã hội này hơn, hay có thể hiểu là trách nhiệm mà bản thân mình đang gánh vác. Với trách nhiệm giúp đỡ người dưới bất kỳ hình thức, phương tiện gì mà mình có thể. Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta mong mỏi sẽ thay đổi được cuộc đời này, bởi khi chúng ta chưa giác ngộ, những hành động tạo tác làm lợi ích cho người sẽ bị hạn chế so với tâm Bồ tát. Vậy nên, trước tiên là chúng ta phải hoàn thiện bản thân trên bước đường hành Bồ tát và bên cạnh đó làm những việc lợi ích để giúp đỡ người hay nói khác hơn là hoàn thành cái lý tưởng mà vị Bồ tát ấp ủ, hoài bão khi trở lại cuộc đời này. Hoàn thiện và giúp đỡ tha nhân theo khả năng mình có là điều luôn được để tâm nhấn mạnh. Chung quy lại điều này giúp cho những người đang thực hành theo con đường Bồ tát, viên mãn trong việc tự độ và độ tha. Vấn đề ở đây được cho là không có cái gì đó quá trừu tượng và khó lý giải.

 

 

 

Chú thích

* SC. Thích Nữ Huệ Thùy – Học viên Cao học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh.

[1] Thích Viên Trí, Khái niệm về Bồ tát Quán Thế Âm (Lý thuyết và thực hành), Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2002, tr.22. 

[2] Mircea Eliade (1987), The Encyclopaedia of Religion, Collier Macmillan Publishers, New York, tập II, tr.265.

[3] G.P Malalasekera, O.B.E (1971), The Encyclopaedia of Buddhism, Ceylon, tập III, tr.224.

[4] Paul Williams, Thích Thiện Chánh dịch (2022), Nền tảng Phật giáo Đại thừa, Nxb. Thuận Hóa, Huế, tr. 236.

[5] Thích Kiên Định (2008), Lịch sử văn học Sanskrit và Hán tạng Phật giáo, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.126.

[6] HT Thích Trí Quảng (2000), Lược giải Kinh Hoa Nghiêm, Nxb. TP HCM, tr.130

[7] HT Thích Trí Quảng, tr.134-5.

[8] Quán Âm Sám Địa Tạng Sám Di Đà Sám, Hằng Trường, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015, tr.33-4.

[9] Kinh Đại thừa Vô lượng nghĩa, Tiêu Tề Thiên Trúc Sa-môn Đàm Ma Già Đà Da Xá dịch, Nxb. Tôn giáo, tr.83.

[10] HT Thích Trí Quảng, tr.149.