Sư Khương Tăng Hội và lời tựa kinh An Ban Thủ Ý

 

Bắt đầu từ thế kỷ thứ II, Phật giáo dần được truyền nhập vào Trung Hoa một cách rời rạc, không hoàn chỉnh do sự cách biệt về ngôn ngữ. Đến thế kỷ thứ III, các nhà sư mới bắt đầu tập trung dịch thuật kinh điển. Nổi bật trong số đó là Thiền sư Khương Tăng Hội, một vị thiền sư có ảnh hưởng lớn đến cả Phật giáo nước ta và Đông Ngô lúc bấy giờ.

THIỀN SƯ KHƯƠNG TĂNG HỘI VÀ BƯỚC ĐƯỜNG HÀNH ĐẠO

Sinh ra và lớn lên ở Giao Chỉ vào thế kỷ III, ông được một số nhà nghiên cứu xem là thiền sư đầu tiên còn lưu lại dấu ấn trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Trái với một số ý kiến trước đây, thiền sư Khương Tăng Hội xiển dương dòng thiền của Phật giáo Nguyên thủy chứ không phải Thiền tông của Trung Hoa[1].

Sử liệu về sư Khương Tăng Hội chỉ còn tản mát trong hai tài liệu chính ghi nhận về hành trạng của ngài là Cao Tăng Truyện[2] và Xuất Tam Tạng Ký[3], đều ra đời vào thời nhà Lương. Cha mẹ Khương Tăng Hội là người nước Khương Cư (Sogdiane, ngày nay thuộc Uzbekistan), di cư đến Giao Chỉ để lập nghiệp. Theo sách Cao Tăng Truyện, ông sinh ra và lớn lên ở Giao Chỉ. Sau đó xuất gia tại một ngôi chùa ở miền Bắc nước ta. Ông tu học rất tinh tấn, giỏi cả tiếng Hán và tiếng Phạn. Sách còn nói rằng ông đến Kiến Nghiệp – thủ đô nước Ngô (nay là Nam Kinh) – vào năm Xích Ô thứ mười (năm 247). Sau 33 năm ở trên đất Trung Hoa, ông mất vào năm 280, niên hiệu Thái Khương nguyên niên nhà Tấn.

Còn theo giáo sư Nguyễn Lang, Khương Tăng Hội đã viết một số chú giải kinh Phật trong thời gian ở Giao Chỉ, trong đó có lời tựa và bản chú giải kinh An Ban Thủ Ý[4]. Bài tựa kinh cho thấy bằng chứng ông đã viết nó trước năm 229, khi còn ở Giao Chỉ. Ðó là chi tiết An Thế Cao – người đã dịch kinh An Ban Thủ Ý, được ghi nhận rằng : “Có vị bồ tát tên An Thanh, tự là Thế Cao, con đích của vua An Tức, sau khi nhường ngôi cho chú lánh qua đất này, sau bèn về kinh sư”. Kinh sư ở đây là Lạc Dương, nơi An Thế Cao đã dịch nhiều kinh vào nửa sau thế kỷ II.

Nếu bài tựa này viết sau năm 229, tức năm Tôn Quyền xưng đế, kinh sư phải là Kiến Nghiệp chứ không phải Lạc Dương. Bởi sau ngày Tôn Quyền xưng đế, Giao Chỉ thuộc về Ðông Ngô, không còn theo Bắc Ngụy. Tác giả Thích Đạt Đạo còn đề xuất ý kiến cho rằng Khương Tăng Hội đã trước tác phần lời tựa kinh An Ban Thủ Ý ở Giao Chỉ trong giai đoạn 221-230.

KINH AN BAN THỦ Ý CÀ NHỮNG PHÁC HỌA VỀ SƯ KHƯƠNG TĂNG HỘI

Kinh An Ban Thủ Ý là một trong những bản kinh được viết ra và phổ biến sớm nhất của Phật giáo Á Đông. Tác giả An Thế Cao được cho đã biên dịch bộ kinh từ tiếng Phạn sang tiếng Hán trong thế kỷ II. Và sư Khương Tăng Hội chú giải, viết lời tựa cho bản kinh này nhằm hoằng pháp khắp Giao Chỉ lẫn Trung Hoa.

Lời tựa kinh An Ban Thủ Ý là một trong ba trước tác của sư Khương Tăng Hội ngày nay còn được biết đến. Hai bản chú giải còn lại là Pháp Kính Kinh Chú Giải và Đạo Thọ Kinh Chú Giải đã thất lạc. Riêng bản chú giải kinh An Ban Thủ Ý cùng lời tựa được lưu lại nguyên vẹn trong bản dịch của An Thế Cao, ở bản in Đại chính của Đại tạng kinh.

An Ban là niệm hơi thở, Thủ Ý là sự nhiếp tâm, định tâm. Như vậy, An Ban Thủ Ý là dùng phương pháp niệm hơi thở để điều phục tâm và ý, đi từ sơ nhất thiền đến tứ thiền.

Sư Khương Tăng Hội viết: “An Ban[5] ấy là xe lớn của chư Phật để cứu chung sanh nổi trôi. Nó có sáu việc nhằm trị sáu tình. Tình, có trong, ngoài. Mắt, tai, mũi, miệng, thân, tâm gọi là trong. Sắc, tiếng, mùi, vị, trơn thô, tà niệm gọi là ngoài”[6].

“Thiền định thì cột ý vào hơi thở, đếm một đến mười. Đếm mười không lầm thì định ý ở đó. Tiểu định ba ngày, đại định bảy ngày, vắng không niệm khác, yên lặng như chết, ấy gọi nhất thiền”.

Khi nghiên cứu bản văn, các học giả nhận thấy, đối với kinh An Ban Thủ Ý, việc chép lẫn lời chú giải vào chính văn kinh đã xảy ra từ rất sớm. Nhiều chư tăng, học giả đã nỗ lực nhằm tách chính văn ra khỏi chú giải nhưng không thành công.

Điểm thú vị trong bản chú giải này là sự pha trộn một ít cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt trong văn bản thuần Hán tự. Ví dụ câu “ngưỡng chiêm vân nhật”, có nghĩa là “ngửa trông mây trời”. Trong ngữ pháp tiếng Trung, “vân nhật” không có nghĩa là mây trời, nhưng phải hiểu theo nghĩa “mây trời” của ngữ pháp tiếng Việt. Hoặc câu “kiến sắc vạn vật”, thuần túy văn phong tiếng Việt là “thấy sắc của vạn vật”. Hoặc “thủy vũ” nghĩa là nước mưa, “tín bản nhân duyên” là “tin gốc nhân duyên”, “hành hạnh vô vi” là “làm hạnh vô vi”…

Từ cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt này, chúng ta tìm kiếm thêm trong lời tựa của sư Khương Tăng Hội sẽ phát hiện mối quan hệ thầy trò giữa sư và cư sĩ Trần Tuệ.

“Tôi sinh ra muộn màng, mới biết vác củi, cha mẹ chết mất, ba thầy viên tịch, ngửa trông mây trời, buồn không biết hỏi ai, nghẹn lời trông quanh, lệ ra lã chã. Song phước xưa chưa hết, may gặp Hàn Lâm từ Nam Dương, Bì Nghiệp từ Dĩnh Xuyên, Trần Tuệ từ Cối Kê. Ba vị hiền này tin đạo dốc lòng, giữ đức rộng thẳng, khăng khăng vươn tới, chí đạo không mỏi. Tôi theo xin hỏi, thước giống góc đúng, nghĩa không sai khác. Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước, chẳng phải chỗ thầy truyền, thì không dám tự do”.

Câu “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước”, có phải hàm ý cư sĩ Trần Tuệ viết bản chú giải, còn sư Khương Tăng Hội chỉ là người “châm chước”? Căn cứ vào nội dung hiện có của An Ban Thủ Ý Kinh chú giải ngày nay, trong quá trình lưu truyền sao chép đã bị nhuận sắc ít nhiều, ta vẫn còn phát hiện một số cấu trúc mang sắc thái ngữ pháp tiếng Việt như đã thấy. Không thể một người từ Cối Kê sang như Trần Tuệ lại viết chú giải An Ban Thủ Ý Kinh với những cấu trúc kiểu đó.

Từ đó, việc sư Khương Tăng Hội bảo “Trần Tuệ chú nghĩa, tôi giúp châm chước” biểu lộ sự khiêm tốn và lòng biết ơn đối với Trần Tuệ. Mặt khác, nó xác nhận Trần Tuệ có ảnh hưởng nhất định lên công tác chú giải của sư. Việc nhắc đến thầy mình khi viết chú giải hay phiên dịch là nét đặc trưng trong cốt cách Khương Tăng Hội. Khi dịch Cựu Tạp Thí Dụ Kinh, sư đã ghi lại 14 lời bình luận của thầy với câu “Sư viết” (thầy nói).

Với vai trò là một trong những vị cao tăng thuộc giai đoạn đầu Phật giáo du nhập vào không gian văn hóa Á Đông, sư Khương Tăng Hội đã khéo léo hoằng pháp bằng lời giảng bình dị. Lời tựa và chú giải của ngài góp phần đặt nền móng vững chãi để Phật giáo Trung Hoa phát triển mạnh mẽ về sau.

 

Chú thích:

[1] Thiền Tông Trung Hoa được Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci ?-594) (người gốc Ấn Độ) truyền bá vào nước ta vào thế kỷ VI. Ông là môn đệ đắc pháp của Tam Tổ Tăng Xán.

[2] Cao Tăng truyện, còn gọi là Lương Cao Tăng truyện là tuyển tập truyện ghi chép sự tích về các nhà sư nổi tiếng ở Trung Quốc, từ lúc Phật giáo mới du nhập vào Trung Quốc đến đầu nhà Lương (502-557). Bộ sách gồm 14 quyển, do Tuệ Kiểu – tăng nhân thời nhà Lương Nam – Bắc triều – biên soạn, ghi chép truyện 257 danh tăng cùng 274 nhân vật nổi tiếng từ thời Hán Vĩnh Bình (58–75) đến Lương Thiên Giám (502-519), phân thành 10 loại. Chịu ảnh hưởng của Cao tăng truyện, đời Đường có Đạo Tuyên soạn “Tục cao tăng truyện” gồm 30 quyển, đời Tống có Tán Ninh soạn “Tống cao tăng truyện” gồm 30 quyển, đời Minh có Như Tinh soạn “Đại Minh cao tăng truyện” gồm 8 quyển. Đời sau gọi 4 bộ Cao tăng truyện này hợp xưng là Tứ triều cao tăng truyện.

[3] Tên gọi đầy đủ là Xuất Tam Tạng Ký Tập do sư Tăng Hựu (445-518) soạn vào thời nhà Lương, còn gọi là Xuất Tam Tạng Ký Mục Lục, Lương Xuất Tam Tạng Tập Ký, hoặc Tăng Hựu Lục. Nội dung ghi chép nguyên nhân, danh mục các kinh và những bản dịch kinh tạng khác nhau từ thời nhà Hậu Hán đến thời nhà Lương.

[4] Nguyễn Lang (1992), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Lá Bối, tr.53.

[5] An Ban là âm Hán Việt từ chữ Anapanasati nghĩa là niệm hơi thở.

[6] Thích Đạt Đạo (biên soạn) (2003), Kinh An Ban Thủ Ý Lược Giải, Học viện Phật giáo, tr.3, www.vbu.edu.vn. Các đoạn trích trong công trình đều lấy từ nguồn văn bản này.

 

Trả lời