Kỳ 1: Bước khởi đầu công cuộc vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam (HT. Thích Huệ Thông)

Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Phật giáo trân trọng trích đăng các bài viết thuộc tác phẩm “Giáo hội Phật giáo Việt Nam: 40 năm hình thành và phát triển” của Hòa thượng Thích Huệ Thông. Các bài viết được sắp xếp và biên tập để cung cấp cho độc giả gần xa biết về những khó khăn, thách thức và nỗ lực không ngừng nghỉ của bao thế hệ Phật tử Việt Nam trong suốt nhiều năm, nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

1. KHÁI LƯỢC TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO MIỀN NAM SAU NGÀY THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC

Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước hòa bình thống nhất, giang sơn nối liền một dải. Toàn dân tộc tập trung nguồn lực vào công cuộc tái thiết đất nước, hòa theo nhịp sống chung trong thời đại mới, chư Tăng Ni và quần chúng Phật tử tham gia lao động sản xuất, cải thiện môi trường, trồng cây gây rừng và tích cực tham gia công tác an sinh xã hội. Trong giai đoạn này, các bậc tôn Đức Tăng Ni tiếp tục đóng góp cho sự ổn định và duy trì các hoạt động Phật sự tại các tự viện trên cơ sở tuân thủ theo những quy định pháp luật hiện hành.

Khi nói đến bối cảnh Phật giáo Việt Nam sau ngày miền Nam giải phóng, thiết nghĩ chúng ta không thể không nhắc đến những hệ lụy do chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã để lại trong lòng Phật giáo Việt Nam (giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975). Cùng với các chính sách cai trị tại miền Nam Việt Nam, ngay từ năm 1954, quân đội Mỹ đã tìm mọi cách đưa gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam, trong đó có hàng chục vạn tín đồ Phật giáo. Đồng thời lợi dụng, lôi kéo một bộ phận Tăng Ni làm hậu thuẫn cho ý đồ chính trị hòng lèo lái phong trào Phật giáo di cư, theo định hướng có lợi cho chánh quyền Sài Gòn. Đây cũng chính là một trong những tồn tại của chế độ Việt Nam Cộng hòa trong lòng Phật giáo sau ngày đất nước hòa bình thống nhất.

Mặt khác, tại miền Nam thời bấy giờ có rất nhiều Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái sinh hoạt một cách rời rạc, riêng lẻ. Đồng thời một số ít cá nhân trong các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái đã từng tham gia các tổ chức, đảng phái của chế độ Việt Nam Cộng hòa chẳng hạn như tham gia đảng Dân Chủ hay tổ chức Nha Tuyên Úy. Có những nhận thức dị biệt về công cuộc tái thiết xây dựng đất nước sau ngày giải phóng, nên vẫn còn mang tâm lý co cụm, lẩn tránh và nguy hiểm hơn, ẩn chứa trong đó là thái độ bất mãn, bất hợp tác, dù thành phần này không đáng kể nhưng cũng là vật cản nhất định trên bước đường Phật giáo Việt Nam tiến đến công cuộc thống nhất thành một mối.

Theo tài liệu lưu trữ tại Tổ đình Giác Lâm1 thì tại Sài Gòn thời bấy giờ có đến hàng chục hệ phái tôn giáo có Văn phòng Trung ương đóng trên địa bàn thành phố Sài gòn. Trong đó có Giáo hội Tăng già Nguyên thủy của Hòa thượng Thích Giới Nghiêm; Giáo hội Tăng già Nam Việt của Hòa thượng Trí Tịnh, Hòa thượng Thiện Hòa; Giáo hội Lục Hòa Phật Tử của Hòa thượng Minh Thành, Hòa thượng Thiện Hào; Giáo hội Lục Hòa Tăng của Hòa thượng Thiện Tòng và Hòa thượng Thành Đạo; Giáo hội Thiền Tịnh Đạo Tràng của Hòa thượng Pháp Triều và Hòa thượng Minh Trực; Thiên Thai Thiền Tông Giáo Thiên Hữu Hội của Tổ Huệ Đăng; Hội Phật học Nam Việt của cư sĩ Chánh trí – Mai Thọ Truyền; Phật giáo Nguyên Thủy của Hòa thượng Bửu Chơn và cư sĩ Nguyễn Văn Điêu; Hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam do ngài Minh Đăng Quang sáng lập.

Từ Hội Tăng già khất sĩ Việt Nam đã phát sinh thêm: Hệ phái Khất sĩ chùa Lộc Uyển (Quận 6); Hệ phái Khất sĩ Giác Nhiên tịnh xá Trung Tâm (Bình Thạnh); Hệ phái Ni giới Khất sĩ của Ni sư Huỳnh Liên ở tịnh xá Ngọc Phương; Giáo hội Cổ Sơn Môn của Sư Trí Hưng; Thiên Thai Giáo Quán Tông của Hòa thượng Đạt Pháp; Hội Tịnh Độ Tông Việt Nam của cư sĩ Đoàn Trung Còn ở số 145 đường Đề Thám; Tịnh Độ Cư sĩ Phật hội của Sư cụ Minh Trí; Giáo hội Hồng Môn Minh Đạo của bà Hồng Tâm Trúc Lâm Nương và Thanh Quang; Giáo hội Phật giáo Hoa Tông của Hòa thượng Siêu Trần và Phước Quang; Giáo hội Tăng già Trung Việt của Hòa thượng Trí Thủ chùa Quảng Hương Già Lam; Giáo hội Tăng già Bắc Việt của Hòa thượng Tâm Giác chùa Vĩnh Nghiêm; Giáo hội Phật giáo Xã hội của Hòa thượng Trí Dũng chùa Nam Thiên Nhất Trụ (Thủ Đức); Giáo hội Phật giáo Việt Nam Trung phần của Thượng tọa Đức Tân; Hội Việt Nam Phật giáo Bắc Việt của cư sĩ Vũ Bảo Ninh; Ủy ban Liên hiệp thuần túy Phật giáo của Hòa thượng Nhựt Minh; Phật giáo Nam Tông của bà con Campuchia ở miền Nam có 500 ngôi chùa và trên 3 triệu tín đồ gồm các hệ phái: phái Maranikay của Thạch In, chùa Bồ Đề (288/34A Dương Bá Trạc); phái Thérévada của Kim Cang, trụ sở Trung ương đặt tại chùa Thérévada Trương Minh Giảng; phái Khemaranykay của Lâm Em, trụ sở Trung ương đặt tại chùa Chantaranikay số 164/235; Giáo phái Thérévada của Sơn Thái Nguyên; Môn đồ Phật Thầy Tây An thành lập các hệ phái: Phật giáo Tứ Ân Hiếu Nghĩa của Nguyễn Long Châu và Nguyễn Long Giao (Núi Tượng); Giáo hội Bửu Sơn Kỳ Hương của Nguyễn Tất Đắc; Phật giáo Hòa Hảo của Huỳnh Phú Sổ; Đạo Cao Đài cũng phân thành các phái: Mười hai phái của cụ Cao Triều Phát; phái Tây Ninh của Phạm Công Tắc; phái ông Ca ở Mỹ Tho; phái ông Tương ở Bến tre; Phái ông Trung ở Tân An; Phái ông Chiêu ở Cần Thơ; Tôn giáo Hoàn Cầu của Lê Lộc Ba; Giáo hội Tin Lành Việt Nam, Giáo hội Thiên Chúa giáo; giáo phái người Ấn Độ ở Việt Nam; Ấn giáo chùa Ô Đê đường Tôn Thất Hiệp; Hồi giáo đường Thái Lập Thành; Phật giáo chùa Bà Đen đường Trương Định, đó là chưa kể đến các mối đạo phát sinh đặc biệt lạ thường như đạo Khoai, đạo Nằm, đạo Dừa…

Ngoài những Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo được liệt kê trên đây, thời bấy giờ còn có các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái khác cần phải kể đến, đó là Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam, Giáo hội Tăng già Nguyên Thủy Việt Nam, Hội Đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ, Giáo hội Tăng già Khất sĩ Việt Nam, Giáo hội Thiên Thai Giáo Quán Tông, Hội Phật học Nam Việt… Ở đây, người viết liệt kê những hệ phái mối đạo khá đầy đủ như vậy nhằm cho thấy tình hình tôn giáo hoạt động trong thời kỳ này đan xen dày đặt, quả là vô cùng phức tạp… Trước tình hình này, ngay sau ngày giải phóng miền Nam, nhằm mục đích cùng với chính quyền, nhân dân ổn định trật tự kỷ cương để chung tay xây dựng đất nước phát triển giàu mạnh, chư Tôn đức giáo phẩm nặng lòng vì đạo pháp và dân tộc trong hệ thống Tăng già đã hướng đến việc thống nhất các Giáo hội, các tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo thành một Giáo hội duy nhất mang tên Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Sau ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, nhìn chung tình hình Phật giáo trong nước dần dần trở lại ổn định. Tuy nhiên trước những tồn tại như đã nêu, nếu mong muốn Phật giáo có được sự ổn định và phát triển bền vững, cũng như góp phần hiệu quả vào công cuộc tái thiết, xây dựng đất nước, thì điều kiện đầu tiên là cần phải thống nhất các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo trong cả nước lại thành một mối duy nhất trên tinh thần lục hòa cộng trụ, thượng tôn pháp luật và nhất là được sự đồng thuận nhất trí cao của chư Tôn đức lãnh đạo các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo trong cả nước. Trên đây là bối cảnh chung của đất nước và của Phật giáo sau ngày miền Nam giải phóng, từ những yêu cầu thực tế, từ trách nhiệm thiêng liêng cao cả của Tăng già giao phó, chư Tôn đức có tâm huyết với đạo pháp và dân tộc đã gấp rút tiến hành các hoạt động thiết thực để thống nhất các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo trong cả nước, hình thành nên một Giáo hội duy nhất của Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới.

2. NHỮNG NỖ LỰC TIÊN KHỞI TRONG CÔNG CUỘC VẬN ĐỘNG THỐNG NHẤT PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Bước khởi đầu công cuộc vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam đó chính là công tác vận động hiệp thương, đi đến Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam, nhằm mục đích hưng thịnh Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới và góp phần xây dựng phát triển đất nước Việt Nam thân yêu. Có thể nói, đây là điều mà chư Tôn đức vốn nặng lòng vì đạo pháp và dân tộc luôn canh cánh trong lòng, cũng là điều mà toàn thể Tăng, Ni và Phật giáo đồ Việt Nam hằng mơ ước, hơn nữa đây không chỉ là điều băn khoăn, trăn trở của hầu hết các bậc tôn túc trong các Giáo hội, tổ chức Hội, các hệ phái Phật giáo thời bấy giờ, mà đây còn là tầm nhìn chiến lược, là trách nhiệm thiêng liêng của Phật giáo Việt Nam trước đạo pháp và dân tộc trong thời đại. Và điều kỳ diệu là hoài bão, ước mơ này đã được trở thành hiện thực khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam chính thức ra đời tại Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội, vào ngày 7/11/1981.

Tuy nhiên, sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào ngày 7/11/1981, là cả một quá trình tích cực dấn thân trong chuỗi hoạt động vận động hiệp thương rất trí tuệ và nhiều công sức của chư Tôn đức giáo phẩm trong các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo trong cả nước. Trước khi nói đến công cuộc vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam, trước hết chúng ta cần quay lại bối cảnh Phật giáo miền Bắc.

Tại miền Bắc, từ năm 1954 đến năm 1975, nhân dân và đồng bào Phật tử được sống trong cảnh tự do độc lập, tích cực tăng gia sản xuất, thanh niên tham gia chiến đấu góp phần giải phóng miền Nam, Bên cạnh đó, Tăng, Ni và Phật tử tại miền Bắc cũng tích cực tham gia lao động, một bộ phận thanh niên Tăng lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của non sông, các hoạt động tại cơ sở tự viện vẫn hoạt động bình thường theo truyền thống sơn môn pháp phái. Nhân đây chúng tôi khái quát toàn cảnh tình hình Phật giáo miền Bắc, khoảng thời gian trước và sau năm 1945, tại miền Bắc, Hội Phật giáo Bắc Kỳ đã thành lập được các Ban Đồng ấu, Ban Thanh niên, Ban Phụ nữ, mãi đến tháng 10/1950, Hội Phật giáo Việt Nam Bắc Việt mới quyết định thành lập tổ chức Gia đình Phật hóa phổ Bắc Việt. Về các hoạt động yêu nước của Phật giáo miền Bắc trong khoảng thời gian này đã diễn ra một số sự kiện quan trọng, đó là sau ngày Cách mạng tháng 8 thành công đúng 9 ngày, vào ngày 28/8/1945, tại trụ sở Hội Khai Trí Tiến Đức (gần chùa Bà Đá) đã diễn ra một cuộc họp trọng thể với sự tham dự của trên 100 đại biểu Tăng, Ni, cư sĩ đại diện cho các sơn môn ở Hà Nội, Hà Đông, Hưng Yên, Hải Phòng… do Hòa thượng Thích Thanh Thao chủ trì, có các ông Nguyễn Lương Bằng, Hoàng Quốc Việt đại diện cho Mặt trận Việt Minh tham dự. Hội nghị Phật giáo đã nhiệt liệt hoan nghênh ủng hộ Việt Minh và đi đến quyết định thành lập một tổ chức Phật giáo yêu nước lấy tên là Hội Phật giáo cứu quốc, Ban Chấp hành được bầu gồm 9 người do Hòa thượng Thích Thanh Thao làm Chủ tịch, Thượng tọa Thích Thanh Đặc và bác sĩ Nguyễn Hữu Thuyết là Phó Chủ tịch…

Sau đó hai ngày, vào ngày 30/8/1945, một tổ chức yêu nước của Phật giáo tại miền Bắc nữa cũng đã lần lượt ra đời, đó là Ủy ban nhân dân cách mạng Tăng già cứu quốc đoàn phủ bộ Thủy Nguyên, thuộc Đệ tứ chiến khu, trụ sở đặt tại chùa Phương Mỹ, cách phủ lỵ Thủy Nguyên hai cây số. Các tổ chức Phật giáo yêu nước tại miền Bắc lúc bấy giờ ra đời đều cùng chung mục đích, đó là tham gia vào công cuộc cách mạng để củng cố nền độc lập nước nhà, bài trừ hủ tục mê tín dị đoan, tham gia công tác hồng thập tự, làm công tác cứu tế và từ thiện… Từ những tổ chức yêu nước này, Phật giáo tại miền Bắc đã phát triển một đội ngũ Tăng sĩ yêu nước có tinh thần và trách nhiệm cao cả đối với đạo pháp và dân tộc, họ là những hạt nhân lãnh đạo các tổ chức Phật giáo tại miền Bắc được hình thành sau ngày Cách mạng tháng Tám…

Về mặt tổ chức, các cấp Giáo hội cơ sở trực thuộc Trung ương Giáo hội của Hội Phật giáo Bắc Kỳ, ban đầu gồm cấp tỉnh (thành), phủ (huyện), gọi chung là Ban Đại lý Hội Phật giáo. Từ năm 1950 đến năm 1951, các tổ chức Giáo hội cơ sở của Phật giáo ở miền Bắc, bên cạnh cấp tỉnh, thành, phủ, huyện, còn phát triển xuống đến cấp xã, phường, đều gọi chung là Chi hội Việt Nam Phật giáo. Thời bấy giờ, các tổ chức Giáo hội cơ sở tại miền Bắc thường sử dụng các ngôi chùa để làm trụ sở (hội quán) sinh hoạt cho các chi hội Phật giáo tại địa phương, những ngôi chùa này thường ổn định về kiến trúc cảnh quan, không gian thờ tự và đối tượng thờ tự.

Đến năm 1958, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam được thành lập ở miền Bắc, do Hòa thượng Thích Trí Độ làm Hội trưởng (1958-1979), trong khoảng thời gian từ năm 1958 đến năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Hòa thượng Thích Trí Độ, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ ổn định và phát triển Phật giáo tại miền Bắc, phát huy vai trò hộ quốc an dân của Phật giáo và đóng góp đáng kể vào đời sống văn hóa và an sinh xã hội. Như vậy, tại miền Bắc từ năm 1958 đến năm 1975, toàn miền Bắc chỉ có một tổ chức Giáo hội duy nhất, đó là Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, chính vì vậy mà vấn đề vận động hiệp thương để đi đến đại hội thống nhất Phật giáo Việt Nam tại miền Bắc diễn ra rất thuận lợi khi được sự hưởng ứng, đồng thuận, nhất trí cao của chư Tôn đức giáo phẩm lãnh đạo Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam.

Tại miền Nam, tình hình Phật giáo chúng tôi đã khái quát trong mục “Bối cảnh Phật giáo Việt Nam sau ngày miền Nam giải phóng” trong đoạn này không đề cập chi tiết, mà chỉ xin trích dẫn lời của Hòa thượng Thích Hiển Pháp, Phó Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh để tóm gọn những gian nan khó khăn ban đầu mà Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh và Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước của một số tỉnh lúc bấy giờ phải đối mặt trong quá trình công tác vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam, đó là “đầy khó khăn và nhiều nghi ngại” bởi vì theo Ngài: “Một số vị ngờ vực các thành viên của Ban Liên lạc, có những nơi mà khi đoàn đến, các vị đó đóng cửa không tiếp hay cố tình lánh mặt làm cho nhiệm vụ của Ban chậm đi một bước so với yêu cầu đề ra”2.

Như vậy để thấy rằng, nếu công cuộc vận động hiệp thương nhằm mục đích thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra khá thuận lợi tại miền Bắc, thì tại miền Nam, bước đầu cuộc vận động đã gặp không ít trở ngại, nếu như không có sự nỗ lực và tâm huyết của chư Tôn đức trong Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM và nhất là được sự đồng thuận nhất trí cao của chư Tôn đức trong hàng giáo phẩm của các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái khu vực phía Nam, đặc biệt là sự hưởng ứng ủng hộ của Tăng, Ni, Phật tử trong ngôi nhà Phật giáo Việt Nam.

 

(Tiếp theo kỳ 2: Sự ra đời của Ban liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh).

 

Chú thích:

* Hòa thượng Thích Huệ Thông – Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

1. Lược sử đấu tranh của Phật giáo Nam kỳ – Sài Gòn Gia Định 1862-1975.
2. Trích lời phát biểu của Hòa thượng Thích Hiển Pháp – Phó Chủ tịch Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh, đăng trong bài viết “Kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2015) – Bài 1: Phật giáo Sài Sòn – thành phố Hồ Chí Minh: Giai đoạn chuyển giao” trên báo Giác Ngộ Online do tác giả Bảo Thiên thực hiện.

 

Trả lời