Triết lý Tịnh độ nhân gian Phật giáo thời Chúa Nguyễn (ĐĐ. Thích Tâm Chánh)

Phật giáo Việt Nam thời Lê Trung Hưng (thế kỷ XVI – XVIII), tuy không còn giữ vai trò là quốc giáo như thời Lý – Trần, nhưng vẫn có nhiều ảnh hưởng đến đời sống quần chúng nhân dân và thời đại. Cụ thể, khi không còn giữ vị trí đặc biệt trên vũ đài chính trị, Phật giáo lui về gắn bó với đời sống nhân dân, thiết lập các phương thức tu tập và sinh hoạt truyền thống, đáp ứng nhu cầu của quần chúng Phật tử. Đặc biệt, trong công cuộc di dân về phương Nam dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, đã xuất hiện một mô hình Phật giáo bình dân với triết lý tu tập khéo léo, trở thành điểm tựa tinh thần cho giới lãnh đạo cùng đông đảo nhân dân. Phật giáo đóng vai trò hộ trì tích cực khi những triết lý sống được hiện thực hóa, áp dụng trong mọi giai tầng xã hội.

BỐI CẢNH, ĐIỀU KIỆN LỊCH SỬ 

Thực tế tiến trình lịch sử dân tộc cho thấy, vấn đề xây dựng và ổn định cương thổ đất nước luôn được các triều đại quân chủ nước ta chú trọng. Đến đầu thời Lê Trung Hưng, chiến tranh giữa các thế lực phong kiến Lê – Mạc khiến xã hội bất ổn. Chính trong hoàn cảnh phân tranh quyền lực như thế, sự kiện Doãn quốc công Nguyễn Hoàng được chúa Trịnh chấp thuận cho vào trấn thủ vùng đất Thuận Hóa, đã tạo bước ngoặt mới trong lịch sử khi chúa Nguyễn Hoàng bắt đầu mưu dựng cơ đồ riêng. Theo cùng chúa Nguyễn là các lưu dân người Việt, sau này còn có cả người Minh Hương, đều là những người bị thời cuộc tao loạn đưa đẩy về phương Nam.

Trong hoàn cảnh ấy, các chúa Nguyễn đã dùng chính sách an dân, ổn định đời sống, xây dựng nếp sống hiền thiện để hướng đến quốc thái dân an: “Vỗ về quân nhân, thu dụng hào kiệt, quân lệnh nghiêm trang, mở mang ngoại thương, khiến dân trong cõi an cư lạc nghiệp” [1]. Trong chừng mực nhất định, xứ Đàng Trong thời các chúa Nguyễn đã đạt được sự bình yên, phản ánh ước nguyện thiết lập một xã hội an bình, hạnh phúc tại vùng đất mới xứ Đàng Trong, đúng như bài minh của chúa Nguyễn Phúc Chu viết trên chuông đồng chùa Thiên Mụ (năm 1710): “Duy nguyện: phong điều vũ thuận, quốc thái dân an, pháp giới chúng sanh, đồng viên chủng trí”. Nghĩa là: Xin nguyện cho mưa thuận gió hòa, đất nước thịnh trị yên lành, mọi chúng sanh trong pháp giới cùng được tròn đầy trí tuệ.

XÂY DỰNG HÌNH ẢNH MỘT PHẬT GIÁO NHẬP THỂ, BÌNH DÂN 

Buổi đầu Phật giáo Đàng Trong, hẳn nhiên không thể thiếu sự đồng hành trong vai trò hộ trì cùng giới lãnh đạo. Chư Tôn đức Tăng Ni và Phật tử bấy giờ đã tích cực xây dựng vai trò mới: Phật giáo thế sự, bình dân, đồng hành cùng dân tộc để phát huy những giá trị ưu việt nhất, thể hiện qua các phương diện tu tập, phổ hóa vào nếp sống thường nhật cho mọi giới trong xã hội được lợi lạc. Các chúa Nguyễn đã chủ động vận dụng triết lý Phật giáo vào chính sách cai trị giúp bình ổn đời sống cư dân. Chúa Nguyễn còn chủ trương phục dựng lại các chùa cũ, tạo lập các chùa mới, ban sắc tứ cho nhiều chùa tại Đàng Trong, làm tiền đề quan trọng để Phật giáo có cơ sở, điều kiện sinh hoạt tu tập thuận lợi tác động vào đời sống quần chúng nhân dân. Bởi tạo lập chùa cũng có nghĩa là định hình đời sống tâm thức cho cộng đồng thực hành nếp sống đạo, từ đó nhà chùa trở thành nhà trường, các sư trở thành nhà giáo, thầy thuốc… hướng dẫn quần chúng nhân dân tu học, sinh hoạt văn hóa, giáo dục, tín ngưỡng, phổ biến giáo lý đạo đức nhà Phật thông qua các chương trình tu tập, kiến tạo trai đàn, làm lễ bố thí, niệm kinh giải oan, cầu cho quốc thái dân an.

Việc chú trọng vào phương thức sinh hoạt truyền thống để phát triển Phật giáo bình dân đại chúng, thể hiện rõ nét nhất ở hình ảnh các vị Thiền sư cùng cư dân chung tay khai mở đất hoang, tạo lập cuộc sống, hoằng dương Phật pháp, giúp người dân vượt qua khó khăn hoạn nạn, góp phần an cư lạc nghiệp.

Phật giáo bình dân được thực thi trong đời sống cư dân, chẳng câu nệ lễ nghi, hình tướng, bởi: “Họ cần trước hết là những bài học về đạo đức làm người, cụ thể, giản dị và sinh động chứ không phải là sự nghiền ngẫm thiên kinh vạn quyển với vô số triết lý cao siêu. Và, Phật giáo với đội ngũ các nhà tu hành nhiệt huyết nhập thế một cách tích cực đã mau chóng đáp ứng điều này. Ở đâu có đất mới được mở ra là ở đó có chùa mới dựng. Tiếng chuông chùa và tiếng tụng kinh chẳng khác gì lời ru êm ái đối với một xã hội lầm lũi [2].

Và đương nhiên, nhu cầu cần có thầy cầu an khi đau ốm và cầu siêu khi qua đời là một đòi hỏi bức bách của lưu dân. Tín ngưỡng Phật giáo đã đáp ứng được nhu cầu ấy và tạo tiền đề để đẩy mạnh hơn nữa sự phát triển nhanh chóng của nhiều ngôi chùa lúc bấy giờ [3].

Những nhu cầu này là tiền đề cho sự có mặt của Phật giáo với ý nghĩa tôn giáo đồng hành cùng cư dân tích cực xây dựng, ổn định đời sống về vật chất lẫn yếu tố nhu cầu tinh thần giúp người dân vượt qua khó khăn hoạn nạn. Điều ấy cũng đúng với truyền thống nhập thế của Phật giáo nước ta đã khơi gợi từ những thế kỷ trước, được tiếp nối và duy trì.

HIỆN THỰC HÓA CÁC PHƯƠNG THỨC TU TẬP CĂN BẢN 

Trong giai đoạn này, sự xuất hiện của các vị Thiền sư Trung Hoa như: Chuyết Công, Nguyên Thiều, Thạch Liêm, Minh Hải Pháp Bảo… hoằng hóa hành đạo tại xứ Đàng Trong, đã mang đến một đời sống sinh hoạt Phật giáo cho mọi tầng lớp xã hội có cơ duyên tiếp nhận các phương pháp tu tập, tư tưởng mới đến từ các vị Thiền sư Trung Hoa. Bên cạnh các dòng thiền Lâm Tế, Tào Động, các Thiền phái Trúc Lâm, Chúc Thánh, Liễu Quán của Phật giáo dân tộc cũng được phục hưng và hình thành trong giai đoạn này. Từ đó, các thiền phái đóng vai trò quan trọng trong việc định hình, hướng dẫn quần chúng nhân dân tu niệm hiệu quả, lợi lạc và tạo dấu ấn rộng rãi của Phật giáo trong đời sống tâm linh của nhân dân ở Đàng Trong.

Sự chuyển mình của Phật giáo còn thể hiện trong việc thay đổi từ sử dụng các công án tham thiền, thoại đầu, đánh hét… nhằm giúp hành giả kiến tánh ngộ đạo, sang phương thức tu tập của Tịnh độ tông. Đây là bước đi cần thiết để tạo nên sự lan tỏa sâu rộng, thích ứng với điều kiện tu tập bấy giờ của các giới xuất gia lẫn tại gia trong xã hội. Giáo nghĩa Tịnh độ đã được khởi xướng bởi các Thiền sư Chuyết Công, Nguyên Thiều, Chân Nguyên, Hương Hải, Thạch Liêm, Toàn Nhật…. Các Ngài chủ trương khuyến hóa mọi giới trong xã hội nỗ lực tu tập hành trì theo pháp tu Tịnh độ, thông qua các phương thức tu niệm. Từ kết hợp giữa triết lý thiền tịnh để niệm Phật, thực hành pháp quán tưởng tự tánh Di Đà, phát khởi niềm tin cầu nguyện vãng sanh Tây phương, tin sâu giáo lý nhân quả, cho đến việc tụng kinh, trì trai, giữ giới… với ý nguyện hướng đến sự tịnh hóa thân tâm, thiết lập giá trị an lạc giải thoát ngay kiếp sống hiện tại đồng thời hướng nguyện về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà.

Ví như Thiền sư Chuyết Công trong tác phẩm Bồ đề yếu nghĩa có bảo: “Trước khi niệm Phật A Di Đà, hành giả phải thực hành tuần tự quy y Tam bảo, thọ trì năm giới, sám hối nghiệp chướng và cuối cùng phát khởi đại nguyện”. Rõ ràng, việc thực tập niệm Phật theo Thiền sư chủ trương trong thời kỳ này là đơn giản, dễ dàng để thực tập tu niệm. Bởi lẽ con người trong ý niệm cần cầu giá trị an lạc, hướng đến đời sống tịnh hóa của tự thân thông qua việc trì niệm danh hiệu Phật. Mỗi cá nhân nhất thiết phải nỗ lực chuyển hóa đời sống tâm thức của mình bằng các hành động cụ thể thông qua ba nghiệp thân, khẩu và ý được tịnh hóa trong lộ trình hướng thượng. Chỉ khi đó, việc thực tập pháp tu niệm Phật mới mong được chuyên nhất và có hiệu quả lợi lạc. Thiền sư Minh Châu Hương Hải (1628-1715), cho rằng việc chuyên trì danh hiệu Phật thâu nhiếp cả hết thảy công đức, hơn cả việc trì chú: “Chuyên trì danh hiệu thắng hơn trì chú, thắng hơn hết thảy chư dư công đức”. Còn việc trì trai, giữ giới đối với các tầng lớp tu tập bấy giờ có thể thấy qua lời của ngài Thạch Liêm chỉ dạy cho chúa Nguyễn:

“Việc trai giới chẳng phải giữ cho sạch miệng, sạch mình, tư tưởng trong sạch mà thôi. Việc trai giới của nhà vua cần phải đem việc quốc gia trên dưới thanh lý chỉnh tề, không một người nào chưa được yên sở, không một việc nào chưa được thỏa đáng, như thế mới gọi là viên mãn…” [4].

Rõ ràng, ý niệm tu tập theo tinh thần Phật giáo không phải cố chấp, nắm giữ trong những điều lệ, giới điều để ràng buộc người tu tập, chúng cần phải được vận dụng hành trì chuyển hóa một cách thiện xảo, sáng suốt. Ở đây, Thiền sư Thạch Liêm mong muốn chúa Nguyễn Phúc Chu trong cương vị là một người lãnh đạo đất nước nhưng cũng là một Phật tử thì cần phải thấu triệt đạo lý này để tránh rơi vào sự dính mắc, sai lầm.

Triết lý nhân quả, nghiệp báo hướng con người đến chỗ hiền thiện, hạnh phúc, an lạc hẳn nhiên khiến cư dân bấy giờ cần phải tự nỗ lực sống tốt, biết sợ điều ác, thực hành điều thiện để làm lợi ích cho mình và mọi người xung quanh [5]. Nhờ vậy, đời sống cư dân bấy giờ mới đủ ý chí, niềm tin để vượt qua mọi khó khăn thử thách nơi vùng đất mới với nhiều thứ phải đối mặt. Khi ấy, tinh thần và triết lý sống của Phật giáo sẽ giúp mọi giai tầng trong xã hội kiến tạo cuộc sống an bình, hạnh phúc.

Có thể nói, trong bối cảnh xã hội Đàng Trong thế kỷ XVI – XVIII, việc thiết lập và định hình triết lý tu tập của Phật giáo để ổn định đời sống nhân dân đã đóng vai trò rất lớn trong sứ mệnh củng cố nền độc lập, tự chủ của dân tộc. Phật giáo thời kỳ này được phát huy, mở rộng trong mọi giai tầng xã hội, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng sinh hoạt của các tầng lớp nhân dân. Đây còn là cách thức để khẳng định sự đồng hành của Phật giáo với dân tộc ở mọi phương diện và trong bất cứ hoàn cảnh nào vì sự an bình, hạnh phúc của nhân dân.

 

Chú thích:

[1] Lê Quý Đôn toàn tập (tập 1), Nxb Khoa học Xã hội, tr.67.
[2] Nguyễn Khắc Thuần (2005), Đại cương Lịch sử văn hóa Việt Nam (tập II), Nxb Giáo dục, tr.156.
[3] Trần Hồng Liên (2004), Góp phần tìm hiểu Phật giáo Nam bộ, Nxb Khoa học xã hội, tr.15.
[4] Viện Đại học Huế (1963), Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự, Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam, tr.97.
[5] Ngô Thị Hường (2015), Sự phục hưng của Phật giáo ở Đàng Trong dưới thời các chúa Nguyễn trong Phật giáo thời Nguyễn, Nxb Tôn giáo, tr.141.

 

Trả lời