Phật giáo du nhập và phát triển ở vương quốc Phù Nam – những di sản để lại (ĐĐ. Thích Nhuận Lạc)

Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni được người dân tìm thấy tại làng Lợi Mỹ, tỉnh Đồng Tháp, năm 1937. Tượng có tuổi đời khoảng 1.500 năm trước. (Nguồn: VnExpress)

Văn hóa Óc Eo thuộc vương quốc cổ Phù Nam là một phần trong tổng thể văn hóa Việt Nam, có vai trò nhất định trong lịch sử nước ta. Do nhiều biến thiên lịch sử và khí hậu, văn hóa Óc Eo đã suy tàn vào thế kỷ VII. Nhiều thành tựu khảo cổ học đã phác lộ diện mạo một nền văn hóa cổ với nhiều thành tựu của vương quốc Phù Nam. Bức tranh đời sống của cư dân Phù Nam – chủ nhân văn hóa Óc Eo – cũng được tái hiện. Trong đó những giá trị về tôn giáo là không thể bỏ qua. Có thể nói, tôn giáo ở Phù Nam chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ Ấn Độ, đặc biệt, là sự có mặt của Phật giáo.

Bài viết mong muốn phác họa lại hoạt động Phật giáo ở Phù Nam, từ khi du nhập cho đến thời kì phát triển, những ảnh hưởng của tôn giáo này đến đời sống và sinh hoạt văn hóa tinh thần của cư dân Phù Nam cổ cũng như với Phật giáo Nam bộ Việt Nam ngày nay.

SƠ LƯỢC VỀ VƯƠNG QUỐC PHÙ NAM 

Niên đại: Vương quốc Phù Nam được xác nhận tồn tại từ thế kỷ I đến thế kỷ VII. Việc xác định niên đại phần lớn dựa trên các thư tịch cổ Trung Hoa. Thư tịch có niên đại cổ nhất nhắc trực tiếp đến Phù Nam là Hậu Hán thư khi đề cập đến việc cống chim trĩ trắng của Việt Thường thị. Cũng như thư tịch cuối cùng nhắc đến Phù Nam là Tân Đường thư, nhắc đến việc sứ thần Phù Nam sang triều cống trong niên hiệu Vũ Đức của Đường Cao Tổ (618 – 626) và trong niên hiệu Trinh Quan của Đường Thái Tông (626 – 649).

Cương vực: Năm 1903, học giả P.Peliot đã dịch một số thư tịch cổ Trung Hoa cho rằng Phù Nam là một quốc gia “Ấn Độ hoá”. Thông qua các thư tịch cổ có thể phác hoạ cương vực Phù Nam một cách rõ ràng như sau. Tấn thư ghi nhận: “Nước Phù Nam cách Lâm Ấp hơn ba nghìn dặm, giữa vịnh lớn trong biển, diện tích khoảng ba nghìn dặm”. Nam Tề thư chép: “Nước Phù Nam ở trong vùng dân man, phía Tây của biển lớn, ở miền Nam của Nhật Nam, dài rộng hơn ba nghìn dặm”. Lương thư thêm một ít chi tiết: “Nước Phù Nam ở phía Nam quận Nhật Nam, trong vịnh lớn, phía Tây của biển, cách Nhật Nam có đến bảy nghìn dặm, cách Lâm Ấp ở phía Tây Nam đến hơn ba nghìn dặm. Thành cách biển năm trăm dặm, có sông rộng mười dặm chảy từ Tây Bắc sang Đông nhập vào biển. Nước rộng hơn ba nghìn dặm, đất trũng ẩm thấp nhưng rộng, bằng phẳng”[1].

Thư tịch cổ Trung Hoa chỉ xác định Phù Nam nằm ở phía Nam của Nhật Nam và sau đó là Lâm Ấp, do đó chắn chắn phạm vi cương vực Phù Nam trải rộng khắp vùng Nam bộ ngày nay. Bởi lẽ các di chỉ khảo cổ học liên quan đến văn hoá Óc Eo cũng trải rộng trên một địa bàn lớn. Tuy nhiên về vị trí địa lí chính xác của Phù Nam đến nay vẫn chưa thống nhất.

Tháp Chót Mạt – dấu tích cuối cùng của nền văn hóa Óc Eo
Nguồn: khamphadisan.com.vn

Các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa: Việc lập quốc của vương quốc Phù Nam chung quy xoay quanh truyền thuyết về Kaundinya và Soma. Từ truyền thuyết đó cũng xác định chủ nhân của nhà nước Phù Nam đầu tiên là những người thuộc tộc Kaundinya, sau đó là những người họ Phạm và hàng loạt vị vua cuối cùng lấy đế hiệu liên quan đến yếu tố tiếp vĩ ngữ varman. Theo nhiều học giả, cách tổ chức chính quyền của Phù Nam theo dạng thức Mandala tức nhiều tiểu quốc tự trị cùng liên minh lại, trong đó tuỳ theo thời điểm tiểu quốc nào phát triển mạnh về mọi mặt được xem như chủ thể có tác động đến các tiểu quốc còn lại. Hình thức tổ chức này thể hiện tính độc lập tương đối của các tiểu quốc.

Chính từ thể chế chính trị đặc trưng như vậy làm cho thành phần cư dân cũng như xã hội Phù Nam phát triển theo cách rất riêng biệt. Thành phần dân cư của Phù Nam đặc biệt đa dạng. Theo các học giả lớn chủ nhân của Phù Nam mang nhân chủng đặc trưng của người Australoid đã có sự hỗn chủng với chủng Mongoloid nói ngữ hệ Malayo-Polinedien. Ngôn ngữ Môn-Khmer là do tác động trong quá trình cộng cư.

Vì tổ chức chính quyền theo dạng thức Mandala nên việc xác định đô thị chính của Phù Nam qua các thời kì không ổn định. Tuy nhiên có ghi nhận cơ bản về kinh thành Phù Nam trong thư tịch Trung Hoa là thành Đặc Mục, có lẽ dịch âm từ Vyadhapura (Đô thị của thợ săn) và kinh thành Na Phật Na được dịch âm từ Naravaranagara (thành phố mong ước của cư dân). Phù Nam được ghi nhận là xã hội có sự phân hoá giai cấp. Đời sống cư dân cũng có sự đa dạng từ sinh hoạt cho đến tín ngưỡng tinh thần. Cư dân Phù Nam được xác định là ăn lúa gạo, ở nhà sàn và phong phú trong đời sống tinh thần. Người Phù Nam cũng đạt đến trình độ canh tác nông nghiệp cao, đa dạng về công cụ lao động và kỹ thuật canh tác với nhiều loại lúa đặc biệt để thích nghi điều kiện tự nhiên. Về thủ công nghiệp, cư dân Phù Nam đã tiến bộ trong nhiều ngành nghề, nhất là kĩ thuật chế tác vàng và xây dựng. Hơn hết, cư dân Phù Nam là những người làm thương nghiệp rất chuyên nghiệp. Đặc biệt là ngoại thương và chính họ có tác động rất lớn đến việc khai thác con đường tơ lụa trên biển, thiết lập mạng lưới giao thương ở vùng biển phía Nam.

Về văn hoá, cư dân Phù Nam đặc biệt chịu ảnh hưởng của văn hoá Ấn Độ bởi khu vực Phù Nam kề cận biên giới Ấn Độ cổ, tầm ảnh hưởng của một trung tâm văn minh lớn của thế giới đến Phù Nam là điều không thể phủ nhận.

BỨC TRANH PHẬT GIÁO Ở PHÙ NAM 

Từ thư tịch cổ nhìn nhận về Phật giáo ở Phù Nam: Theo Đại sử ký (Mahavamsa) của Śrilanka, “cho biết sau kiết tập kinh điển lần thứ ba, vua A Dục và đại lão hòa thượng Moggaliputta-Tisa đã tích cực cử chín đoàn đi hoằng dương Phật pháp. Các đoàn “Như Lai sứ giả” đi khắp lãnh thổ Ấn Độ và đến các nước bên ngoài Ấn Độ để hoằng dương Phật pháp. Đoàn thứ tám do Ngài Sona và Uttara đến vùng Suvarnabhūmi (Kim Địa – Miến Điện), các nước Đông Dương, trong đó có Việt Nam”[2].

Vùng đất vàng mà Đại Sử ký nhắc đến, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể là Phù Nam. Do đó có thể từ thế kỷ III Trước Tây lịch, Phật giáo đã có mặt ở Phù Nam. Trong Đại Đường Tây Vực, Cầu pháp Cao tăng truyện, Ngài Nghĩa Tịnh đã viết: “Các vị sư muốn đến Ấn Độ phải đi qua một ngàn con sông. Khi đến Woolai, phía Tây Pakhoi chư Tăng xuống một chiếc thuyền buôn vượt qua ngàn sóng gió đi qua vương quốc Phù Nam và bỏ neo ở xứ Lăng Già”[3]. Nam Hải kí quy nội pháp truyện, Nghĩa Tịnh nhận định: “Vương quốc Phù Nam thuở xưa, đó là một nước dân chúng ở trần truồng. Người dân tôn thờ rất nhiều Thần Thánh. Kế đó, Phật giáo được truyền bá và lan rộng khắp nơi”[4].

Nam Tề thư ghi nhận vua Kaundinya Jayavarman tuy giữ tín ngưỡng truyền thống vẫn thờ thần Śiva thông qua hình tượng Maheśvara (Maha Īśvara – tức là vị Đại thiên thần tối thượng) nhưng cũng thờ kính Avalokiteśvara, nhờ đó mà được an ổn thái bình. Do một lần phái bộ của vua trên đường từ Quảng Đông trở về có vị sư Ấn Độ là Sakya Nāgasena theo phái đoàn về Phù Nam truyền đạo và đã gặp vua và hướng dẫn thờ kính Avalokiteśvara.

Lương thư năm 506 vua Lương Võ Đế yêu cầu vua Kaundinya Jayavarman của Phù Nam cho hai nhà sư là Sanghapala và Mandrasena sang Trung Hoa để hỗ trợ công tác dịch kinh điển từ Phạn ngữ ra Hán ngữ. Cao tăng truyện của Ngài Huệ Kiểu cũng nhắc đến Ngài Sanghapala. “Đầu nhà Lương lại có Tăng-già-bà-la, cũng là học Tăng nước ngoài, nghi mạo cẩn khiết, giỏi nói năng, đối đáp, đến kinh sư cúng dường trụ ở chùa Chính Quán”[5].

Lương thư cũng thuật lại việc, vua Lương cử phái đoàn sứ Trung Hoa đến Phù Nam từ năm 535 đến năm 545 để yêu cầu vua Rudravarman gom góp tất cả kinh sách và thỉnh các vị Tăng đến thăm Trung Hoa. Và vua Rudravarman cử thiền sư Paramārtha là một thiền sư Ấn Độ đang hành đạo tại Phù Nam theo phái đoàn sứ giả đến Trung Hoa. Cao tăng truyện của Ngài Huệ Kiểu cũng có nhắc đến Mahajivaka, là cao Tăng Ấn Độ từ Phù Nam sang Trung Hoa: “Kì Vực là người Thiên Trúc, cất bước từ Thiên trúc đến Phù Nam, trải qua các mé biển, bèn tới Giao Châu và Quảng Châu”[6].

Có thể thấy, Tăng sĩ từ Ấn Độ sang Trung Hoa thông qua con đường Phù Nam rất nhiều. Từ đó phác họa nên bức tranh sinh động về Phật giáo ở Phù Nam, cho thấy hình ảnh giới tu sĩ ở đây rất đông đúc, am tường kinh điển và có khả năng Phật học cao. Nhờ đó, người Trung Hoa mới sang Phù Nam cầu thỉnh kinh tạng từ các nhà sư du hóa tại đây.

Góc nhìn về Phật giáo Phù Nam từ hiện vật khảo cổ học: Các hiện vật khảo cổ học liên quan đến Phật giáo ở Phù Nam hầu hết là các tượng Phật và Bồ tát với nhiều dạng thức khác nhau cũng như chất liệu khá phong phú đa dạng. Điểm qua các hiện vật đã khai quật được ở vùng đất được định vị là cương vực Phù Nam có thể hệ thống các hiện vật đó thành bốn trường phái nghệ thuật.

Gandhāra là trường phái nghệ thuật Phật giáo xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ I đến thế kỷ thứ II tại vùng Ngũ Hà phía Tây Bắc Ấn Độ. Trường phái này chịu ảnh hưởng của thời kì hình thành Phật giáo Đại thừa nên trong phong cách tạo tượng đã diễn tả Đức Phật như một người bình thường với y phục quấn kiểu Lâm y, tóc dạng thẳng như nước chảy, nhục kế nhô cao. Trường phái này mô tả hình tượng Đức Phật như diễn tả trong kinh điển Đại thừa về hình ảnh Phật đẹp như chư thiên, hình tướng thanh thoát, tự tại. Một phần quan niệm về mĩ học của Gandhāra chịu ảnh hưởng của mĩ học Hy Lạp cổ. Tiêu biểu cho trường phái này là tượng Phật mang số hiệu BTLS 1617 lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, tượng này được tìm thấy năm 1937 ở Đồng Tháp bằng gỗ mù u cao khoảng 1,8 mét.

Mathura là trường phái nghệ thuật Phật giáo xuất hiện cùng thời điểm với Gandhāra, vùng thịnh hành của trường phái này ở phía Bắc Ấn Độ đặc biệt là phía Nam Delhi. Tượng Phật trường phái Mathura chịu ảnh hưởng mĩ học Ấn Độ cổ nên diễn tả hình tượng Phật mạnh mẽ, đầy đặn do đó có phần hơi thô. Tóc dạng xoắn trôn ốc, y phục quấn kiểu hở vai trái. Tiêu biểu cho trường phái này là tượng Phật phát hiện ở xã Mỹ Thạnh Đông, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Trường phái Āmarāvatī xuất hiện vào khoảng thế kỷ II là kết quả sự kế thừa hai trường phái Gandhāra và Mathura, ảnh hưởng trực tiếp đến vùng Nam Ấn. Nó diễn tả hình tượng Đức Phật với tứ chi thanh thoát, mảnh như dạng thức của Gandhāra, nhưng về tóc và khuôn mặt lại kế thừa ảnh hưởng Mathura. Tiêu biểu cho trường phái này là tượng Phật mang số hiệu BTLS 1615 lưu trữ tại Bảo tàng Lịch sử TP.HCM, được khai quật ở Đồng Tháp Mười năm 1943, chế tác bằng gỗ sao.

Trường phái Gupta hình thành tại Ấn Độ trong thế kỷ IV đến thế kỷ VI. Trường phái nghệ thuật này chịu ảnh hưởng của Yogin nên mô tả hình tượng Đức Phật theo dạng thức các Du già sư, tứ chi rất mảnh, thân hình thanh nhã tương quan với tứ chi, nhục kế cao, mắt nhắm dạng thiền định. Tiêu biểu cho tượng của trường phái này là di vật phát hiện tại Tân Mỹ, Long An, chế tác bằng đá sa thạch màu trắng xám.

Ngoài ra còn có các tượng Bodhisattva ở Phù Nam, đặc biệt cư dân Phù Nam thờ hình tuợng Avalokiteśvara và Maitreya rất nhiều. Trong đó đặc biệt là tượng Maitreya tìm thấy ở Trung Điền, Vĩnh Long và tượng Avalokiteśvara được L.Malleret tìm thấy ở Trà Vinh là các tượng tiêu biểu rất đẹp. Một đặc điểm chung của các tượng Bodhisattva ở Phù Nam hầu hết đều được tạo hình bốn tay như phong cách tượng hần Visnu của Ấn giáo. Tuy nhiên về kiến trúc Phật giáo tại Phù Nam chưa tìm được di chỉ nào khác ngoài di tích tháp Phật giáo Gò Xoài ở Long An. Do đó, từ các di chỉ khảo cổ học chưa phác họa lên được hình ảnh các tu viện Phật giáo Phù Nam ra sao.

Về các hiện vật khảo cổ học có thể phác họa ra một bức tranh về Phật giáo Phù Nam rất đa dạng khi hiện vật biểu hiện đầy đủ các trường phái nghệ thuật Phật giáo tại Ấn Độ. Các trường phái ấy tiếp nối nhau không có sự đứt gãy trong nguồn chảy văn hoá nghệ thuật Phật giáo ở Phù Nam. Mặt khác, sự xuất hiện các hiện vật tượng Bồ tát, phần nào phản ánh tính chất Phật giáo Phù Nam bấy giờ là có sự góp mặt của Phật giáo Đại thừa. Đặc biệt một hiện vật rất quan trọng đó là tượng Phật của Bắc Nguỵ ở Trung Hoa xuất hiện ở Phù Nam, nói lên được Phật giáo Phù Nam cũng có sự tiếp xúc với Phật giáo Trung Hoa chứ không riêng gì Phật giáo Ấn Độ.

DẤU ẤN PHẬT GIÁO PHÙ NAM

Định vị niên đại Phật giáo du nhập vào Phù Nam: Các thư tịch cổ như Ngô thư hay Tam quốc chí đều ghi nhận việc Khang Thái và Chu Ứng theo lệnh vua Ngô đi sứ sang Phù Nam. Trong các ghi chép về Phù Nam của Khang Thái và Chu Ứng cũng nhắc đến các yếu tố Phật giáo ở Phù Nam. Từ đó có thể đặt ra giả thuyết từ những năm giữa thế kỷ III, Phật giáo đã có mặt tại đây.

Bên cạnh đó, Cao tăng truyện của Huệ Kiểu nhắc đến thiền sư Mahajivaka (Ma Ha Kỳ Vực) đã ở Phù Nam và sau đó đến Trung Hoa vào thời Tấn Huệ Đế tức những năm cuối thế kỷ III. Đây cũng là một giả thiết cho thấy Phật giáo có mặt tại Phù Nam từ thế kỷ III. Mặt khác về niên đại của các hiện vật khảo cổ học, đặc biệt là các tượng Phật ở Phù Nam đều xác định: “Hầu hết các tượng Phật Phù Nam ở vùng đất Nam bộ đều có niên đại vào khoảng thế kỷ II đến XII”[7]. Do đó, giả thiết Phật giáo có mặt sớm nhất cũng chỉ dừng lại ở thế kỷ thứ II.

Đặc điểm Phật giáo Phù Nam: Phật giáo Phù Nam du nhập trực tiếp từ Ấn Độ thông qua mối quan hệ mật thiết giữa Phù Nam và Ấn Độ trong thời kì hình thành vương quốc Phù Nam cũng như hoà chung trong bối cảnh Phật giáo du nhập vào Đông Nam Á kể từ sau thời Asoka. Mối quan hệ giữa Phật giáo Phù Nam và Phật giáo Ấn Độ là rất chặt chẽ. Có thể nói, Phật giáo Ấn Độ ảnh hưởng trực tiếp đến Phật giáo Phù Nam khi mà các trường phái tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ đều có mặt ở Phù Nam. Về tư tưởng, thiền sư Maha Jivaka là đại diện cho Phật giáo quyền năng còn Paramārtha là đại diện của học phái Yogacara cho thấy trong sinh hoạt Phật giáo Phù Nam bấy giờ có sự tiếp nhận trực tiếp từ Ấn Độ nhiều thành tựu để tạo nên sự đa dạng và phong phú.

Phật giáo Phù Nam cùng tồn tại cả hai hệ thống Bắc truyền và Nam truyền. Dưới tầm ảnh hưởng chung trong phức hệ Đông Nam Á, Phù Nam không thể không chịu ảnh hưởng của Phật giáo Nam truyền. Đặc biệt trong các thư tịch cổ nhắc đến việc một số nhà sư Trung Hoa đến Phù Nam học ngôn ngữ trước khi sang đảo Lăng Già (tức Śri Lanka) vốn là một trung tâm lớn của Phật giáo Nam truyền [8]. Mặt khác ở Phù Nam cũng tìm thấy dấu tích của tượng Bodhisattva, đó là đặc trưng của Phật giáo Bắc truyền. Có thể thấy Phật giáo Phù Nam tồn tại cả hai hệ thống Bắc truyền và Nam truyền cùng nhau hành đạo. Di sản đó đến ngày nay vẫn còn rất rõ ràng, Việt Nam thuộc số ít các quốc gia Phật giáo có sự linh hoạt thống nhất của cả Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền, đặc biệt là tại Nam bộ.

Phật giáo Phù Nam bản địa hoá rất rõ nét. Trong các hiện vật Phật giáo được ngành khảo cổ học tìm thấy có rất nhiều hiện vật vàng chế tác các biểu tượng Phật giáo như hoa sen. Việc chế tác biểu tượng tôn giáo bằng vàng là một trong những đặc trưng bản địa của người Phù Nam. Và các biểu tượng đó được tìm thấy tại di tích tháp Phật giáo Gò Xoài minh chứng rõ rệt cho nhận định trên. Đồng thời trong chất liệu chế tác tượng Phật của người Phù Nam chúng ta có thể thấy những nét bản địa rất rõ rệt như việc chế tác bằng gỗ mù u hay cây sao thay vì gỗ mít như người Việt hay chiên đàn như người Ấn. Nhìn chung, Phật giáo Phù Nam phát triển với sự đa dạng trong tư tưởng và cách thức sinh hoạt, tuy nhiên để đúc kết lại không nằm ngoài ba đặc điểm lớn trên, và chính các đặc điểm đó tạo nên một diện mạo Phật giáo Phù Nam rất đặc trưng.

Các giá trị của Phật giáo Phù Nam: Trong các thư tịch cổ, các nhà sư Ấn Độ muốn sang Trung Hoa đều đến Phù Nam và xem đây là một trạm trung chuyển và ngược lại. Phù Nam trở thành một nơi tiếp nhận các đoàn hoằng pháp của tu sĩ Ấn Độ đến Trung Hoa. Các nhà sư Trung Hoa muốn sang Ấn Độ học hỏi thêm giáo điển cũng chọn Phù Nam như điểm dừng nghỉ để tích luỹ tư lương. Vai trò là cầu nối giữa Trung Hoa và Ấn Độ khiến cho Phật giáo Phù Nam tiếp nhận đầy đủ cả hai luồng tư tưởng Đông – Tây, tạo nên một diện mạo Phật giáo Phù Nam đặc sắc và đa dạng.

Bộ tem gồm 3 mẫu tem có kích thước 24 x 49,5mm và 1 bloc 80 x 100mm do họa sỹ Nguyễn Du (Tổng công ty Bưu điện Việt Nam) thiết kế theo phong cách đồ họa. Hình ảnh in trên tem là các hiện vật của nền văn hóa Óc Eo. Mẫu tem thứ hai là hình ảnh tượng Phật Hòa Bình. Mẫu cuối cùng là hình ảnh tượng Thần Brahma Giồng Xoài, niên đại thế kỷ VI – VII (Nguồn: phunuonline.com.vn)

Cung cấp giá trị văn bản học nhất định trước thời Huyền Trang. Phật giáo Trung Hoa có cứ liệu đầy đủ tam tạng kinh điển từ sau chuyến đi Tây Vực của ngài Huyền Trang đầu thời Đường. Trước đó, nguồn kinh điển phục vụ cho tu học của tu sĩ Trung Hoa hầu hết đều từ các nhà sư Ấn Độ mang sang lẻ tẻ, và một nguồn gần hơn Ấn Độ đó chính là Phù Nam. Theo như Phật giáo Trung Hoa công nhận tứ đại dịch giả kinh điển Phật học của họ là Kumārajīva, Paramārtha, Huyền Trang và Nghĩa Tịnh. Hai trong số ấy là Paramārtha và Nghĩa Tịnh đều đã từng đến Phù Nam và đem kinh điển về. Đặc biệt là Ngài Paramārtha với các dịch phẩm Suvarnaprabhāsa sūtra, Yogācārabhūmi sātra (Du già sư địa luận) – Mahāyānasamgraha sātra là hai bộ luận quan trọng của học phái Du già hành. Và Abhidharamakośa sātra (A Tỳ Đạt Ma Câu Xá luận) là một bộ luận thư quan trọng của học phái A Tỳ Đàm. Chính Mahāyānasamgraha sātra là một động lực thôi thúc Huyền Trang lên đường đi Tây Vực thỉnh kinh khi nó cung cấp một lượng kiến thức rất thâm sâu. Và để tìm hiểu sâu sắc hơn từ những gợi mở ban đầu đó, Huyền Trang lên đường đi Tây Vực.

Cung cấp nhân lực phiên dịch kinh điển từ Phạn ngữ ra Hán ngữ. Với số lượng Tam tạng kinh điển khổng lồ từ Ấn Độ, việc phiên dịch ra tiếng Trung Hoa từ Phạn ngữ không thể do một vài người có thể đảm trách nên lực lượng thực hiện công việc dịch thuật này rất quan trọng. Chính Phù Nam là nguồn cung cấp nhân sự cho công việc dịch thuật kinh điển này. Mỗi khi Trung Hoa thiếu nhân lực để thực hiện công cuộc phiên dịch, các vua Trung Hoa có tư tưởng thân Phật giáo lại cử phái bộ sang Phù Nam để mời người giỏi Phạn ngữ và tiếng Trung Hoa để sang dịch thuật kinh điển. Việc cung cấp nhân sự phục vụ công tác dịch thuật kinh điển của người Phù Nam có ý nghĩa rất lớn đối với Phật giáo thế giới, để lưu trữ và phổ biến các giá trị học thuật Phật giáo.

Phù Nam có vị trí địa lí gần kề Việt Nam, do đó những phái đoàn hoằng pháp của các nhà sư Ấn Độ đôi khi cũng cập bờ Giao Châu, nhờ đó Phật giáo Việt Nam cũng thừa hưởng được những giá trị từ Phật giáo Phù Nam. Đồng thời, những giá trị di sản của Phật giáo Phù Nam để lại đến ngày nay vẫn có những ảnh hưởng nhất định với Phật giáo Việt Nam. Đơn cử như vấn đề hoà hợp trong hai truyền thống Bắc truyền và Nam truyền.

Nguồn: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia

Kết luận: Vương quốc Phù Nam tồn tại trong lịch sử chỉ hơn bảy thế kỷ. Với một thời gian ngắn như vậy, Phật giáo du nhập và phát triển tại đây như một dấu ấn quan trọng trong đời sống tinh thần cư dân Phù Nam; đồng thời, để lại nhiều nét chấm phá rất đặc biệt trong sự phát triển của Phật giáo thế giới.

Với vị trí ở giữa hai nền văn minh lớn Ấn Độ và Trung Hoa, Phù Nam như một nhịp cầu để nối liền hai bờ tư tưởng Đông – Tây. Vị trí thắng địa giúp Phù Nam trở thành một trung tâm chuyển tiếp trong dòng chảy Phật giáo từ Ấn Độ đến Trung Hoa. Việc hầu hết các học phái Phật giáo đều hiện diện ở Phù Nam là minh chứng rõ ràng cho vai trò cầu nối ấy. Điều đó tạo nên sức sống đa dạng và phong phú trong Phật giáo Phù Nam, không chỉ theo một truyền thống Nam truyền hoặc Bắc truyền mà hòa hợp các truyền thống Phật giáo.

Mặt khác, những đóng góp về học thuật Phật giáo với những nhà phiên dịch kinh tạng lừng lẫy phục vụ cho việc biên dịch kinh điển Phật giáo cho Trung Hoa là không thể phủ nhận. Những đóng góp đó giúp Phật giáo lan tỏa lớn mạnh không chỉ ở Trung Hoa mà còn ở cả Đông Á. Những di sản Phật giáo Phù Nam để lại là tiền đề quan trọng cho sự phát triển đa dạng của Phật giáo Việt Nam, đặc biệt là sự hòa hợp tất cả truyền thống Phật giáo trong không gian chung của quốc gia dân tộc.

 

Chú thích:

* Tăng sinh HVPGVN tại TP.HCM khóa XIII

[1] Nguyễn Hữu Tâm (2008), “Khái quát về Phù Nam – Chân Lạp qua ghi chép của các thư tịch cổ Trung Quốc”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học 60 năm phát hiện văn hóa Óc Eo, Nxb. Thế giới, trang 267 -273, dẫn lại trong Đặng Văn Thắng (2019), Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam, Nxb. Đại học Quốc gia Tp.HCM, tr.131.
[2] Thích Kiến Nguyệt (2008), Phật giáo Tây Thiên – Tam Đảo, “Tây Thiên vào hạ”, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, tr.39.
[3] Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nguyên Nhiều, tr.23.
[4] Lê Hương (1974), Sử liệu Phù Nam, Nguyên Nhiều, tr.22.
[5] Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Lương Cao tăng truyện, Nxb. Hồng Đức, tr.166.
[6] Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Sđd, tr.413.
[7] Đặng Văn Thắng (2019), Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP.HCM, tr.96.
[8] Mohamad Alinor Abdul Kadir Zahrin Affandi Mohd (2016), Hubungan Politik dan Sosiobudaya China-Dunia Melayu Hingga Kurun ke-15 Masihi, “Hubungan Kecendekiawanan – Terawal Melayu – China”, Penerbit University Sain Malaysưia Epub)

 

Tài liệu tham khảo:

1. Sherman E.Lee (2007), Lịch sử mỹ thuật Viễn Đông, Nxb. Mỹ thuật.
2. D. G. E. Hall (1997), Lịch sử Đông Nam Á, Nxb. Chính trị Quốc gia.
3. Huệ Kiểu trước tác, Lý Việt Dũng dịch (2015), Lương Cao tăng truyện, Nxb. Hồng Đức, trang 413.
4. Nguyễn Lang (2011), Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Văn học.
5. Nhiều tác giả (2016), Giá trị của di sản văn hóa Óc Eo – An Giang trong tiến trình phát triển kinh tế – xã hội, Nxb. Đại học Quốc gia TP.HCM.
6. Lê Mạnh Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Tập I, Nxb. Thuận Hóa, Huế.
7. Đặng Văn Thắng (2017), Các trung tâm tôn giáo thuộc văn hóa Óc Eo ở Nam bộ, Nxb. Đại học Quốc gia TP.HCM.
8. Đặng Văn Thắng (2019), Khảo cổ học Óc Eo và Phù Nam, Nxb. Đại học Quốc gia TP HCM, tr.96.
9. Trần Thuận (2019), Phật giáo Việt Nam góc nhìn lịch sử văn hóa, Nxb. Tổng hợp TP HCM.
10.Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam (2015), Tổng hợp các bút ký đi Tây Vực thỉnh kinh, Nxb. Hồng Đức.

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam và Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP HCM (2015), Phật giáo vùng Mê-Kông: Lịch sử và hội nhập, Nxb. Đại học Quốc gia TP HCM.

Trả lời