Ảnh hưởng của Phật giáo và tín ngưỡng dân gian trong truyện thơ Nôm (Dương Thụy)

Tín ngưỡng dân gian chưa phải là tôn giáo. Đó là lòng ngưỡng mộ, tin tưởng của con người đối với các lực lượng siêu nhiên. Người ta tin rằng các lực lượng siêu nhiên này có năng lực ban phúc giáng họa, có khả năng che chở, cứu rỗi con người, có thể xét xử công minh mọi chuyện trong cõi trần thế. Đối tượng sùng bái trong tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam hết sức phong phú. Người Việt tin thờ từ cục đá, gốc cây, chim, cá, rắn, cọp,… cho đến thần thánh như thần núi, thần sông, Thổ Công, Thần Tài, Táo Quân, Thành Hoàng, Thánh Mẫu, Diêm Vương, các vị anh hùng dân tộc, tổ tiên,… và đặc biệt là Trời (hay Ông Trời, Ngọc Hoàng, Thượng Đế).

Thế giới tâm linh đa sắc đa chiều và niềm tin vào Trời – Phật của người Việt được thể hiện sống động trong truyện thơ Nôm, nhất là trong nhóm truyện thơ Nôm có nguồn gốc Việt Nam. Những tình tiết mang tính tâm linh thần kì là yếu tố quan trọng kiến tạo cốt truyện, nối kết các trường đoạn gặp gỡ – biến cố – đoàn tụ của truyện thơ Nôm. Nhân vật chính diện thường kết thúc có hậu. Vì vậy, trong cốt truyện của truyện Nôm bình dân, nhà thơ thường sử dụng rất nhiều yếu tố ngẫu nhiên, phi thường, nhiều yếu tố có tính chất thần linh. Có thể nói, chính vì ước mơ và lý tưởng đó mà người viết/ kể truyện và người đọc/ nghe truyện không hề hoài nghi những yếu tố ngẫu nhiên, phi thường ấy. Người ta dường như tin những điều kì lạ ấy như tin vào Phật Trời, thần thánh. Đạo lí ở đời có thể khiến cho những điều vô lý thành hữu lý. Những yếu tố Phật giáo và tín ngưỡng dân gian thường được tác giả “hiện thực hóa” trong thế giới truyện thơ Nôm thông qua các mô-típ thần kì có tính phổ biến, với một số mô-típ chính:

NHÂN VẬT CHÍNH SINH RA NHỜ THẾ LỰC SIÊU NHIÊN, HỌ VỐN LÀ NGƯỜI CỦA CÕI TRỜI CÕI PHẬT ĐẦU THAI XUỐNG TRẦN 

Mô-típ thường thấy là do đôi vợ chồng côi cút nào đó ở cõi trần luôn “tu nhân tích đức”, “hiếu trung tiết nghĩa”, kính tín Phật Trời, nên khiến cho các đấng quyền năng siêu nhiên cảm động cho người đầu thai xuống “kế hậu nối dòng”. Tín ngưỡng kính Trời thờ Phật hòa quyện vào nhau, mang tính dân gian bình dị, thể hiện rõ nét niềm tin “ở hiền gặp lành”, “gieo phúc được phúc”.

Trong Phạm Công – Cúc Hoa, Phạm Công vốn là Thái tử của Ngọc Hoàng. Vì Ngọc Hoàng cảm động lòng kính Trời mộ Phật của đôi vợ chồng già họ Phạm “hiếu trung tiết nghĩa đủ đường”, luôn “tu nhân tích đức”, tuy nghèo khó nhưng “đã thường làm phúc, lại hay cúng dàng”, nên cho Thái tử xuống làm con của họ. Còn Cúc Hoa thì là Công chúa của Diêm Vương vâng mệnh đầu thai lên trần giới, “Ba mươi năm vẹn Trần Châu/ Hết duyên nên lại về chầu phụ vương”.

Cũng với mô-típ đó, trong truyện Thạch Sanh, vì đôi vợ chồng già Thạch Nghĩa “hiền lành nhân đức”, “Vợ thì gánh nước liền tay/ Để đem bố thí người nay lỡ đường/ Chồng thì khơi cống khơi mương/ Luôn tay cuốc thuổng sửa đường người qua”, nên “Ngọc Hoàng chỉ phán tức thì/ Truyền đòi Thái tử cho đi xuống trần/ Làm con họ Thạch đền ân”. Còn Tống Trân trong truyện Tống Trân – Cúc Hoa cũng là người thiên đình đầu thai xuống. Đôi vợ chồng già ở huyện Phù Hoa vì “Tháng ngày cầu khẩn các nơi/ Đúc chuông tô tượng đều thời cúng luôn/ Khó nghèo chẳng quản thiệt hơn/ Của đem làm phúc làm duyên sạch làu”, nên “Lòng thành thấu đến Thiên tào/ Sai Văn Xương xuống kíp vào đầu thai”.

Tương tự, Lý Công ra đời cũng là do Phật Trời cảm lòng kính tín của ông bà Tể tướng. Tác giả truyện Lý Công viết: “Vợ chồng cầu khẩn ăn chay/ Xin sinh trai gái họa may muôn đời/ Có lòng thấu đến Bụt Trời/ Cho bà Tể tướng bỗng người thụ thai”. Còn trong Phạm Tải – Ngọc Hoa, “Phạm Tải vốn thực con Trời/ Nhẽ thì Thiên tử chính ngôi chương tòa/ Lỗi nhầm đày xuống phàm gia/ Giáng sinh nhị nguyệt, ngày ba, mão thì”.

Sự ra đời có tính thần kì của nhân vật chính thể hiện rõ nét tín ngưỡng thờ Trời và tư tưởng khuyến thiện của Phật giáo trong dân gian. Đồng thời mô-típ này cũng là một thủ pháp nghệ thuật có tính phổ biến, nó liên quan đến phẩm hạnh và tài năng của nhân vật, liên quan đến sự vượt qua khó khăn, thử thách của họ, và chắc chắn là một người có nguồn gốc xuất thân như vậy thì không thể nào thất bại, kết thúc có hậu là hiển nhiên.

NHÂN VẬT CHÍNH THƯỜNG HỌC ĐƯỢC PHÉP THUẬT, NHẬN ĐƯỢC BẢO BỐI NHỜ MỘT LỤC LƯỢNG SIÊU NHIÊN NÀO ĐÓ

Ở các truyện thơ Nôm, phần lớn nhân vật chính phải trải qua những thử thách, khó khăn trước các thế lực gian tà. Thường thì họ vượt qua thử thách nhờ học được phép lạ hay có được bảo bối từ Trời, Phật, thần tiên. Hơn nữa, những biện pháp thần kì đó còn có công năng nhấn mạnh tài năng, phẩm hạnh của nhân vật, thử thách càng lớn thì phẩm chất đó càng chói sáng, thắng lợi cuối cùng càng vẻ vang.

Trong truyện Thạch Sanh, sau khi Thạch ông và Thạch bà “về chầu cảnh tiên”, để lại Thạch Sanh côi cút trên đời, thì “Ngọc Hoàng nghĩ đến gần xa/ Kíp sai Lý Tĩnh xuống qua phàm trần” dạy cho chàng phép thuật để “Mai ngày sẽ được chăn dân, trị đời”. Rồi chàng chém đầu Chằn tinh thu được cung tên vàng, giết Mãng xà vương – Đại bàng cứu Công chúa Quỳnh Nga và Thái tử con vua Thủy Tề, xuống Thủy phủ được biếu cây đàn thần tam huyền, … Những phép thuật và bảo bối mà chàng có được liên quan mật thiết đến những tình tiết quan trọng khác của truyện, chẳng hạn: tiếng đàn thần giúp chàng giải oan cho mình, làm rung động trái tim Công chúa khiến nàng hết câm, tiếng đàn đẩy lui đội quân của 18 nước chư hầu, cuối cùng lấy Công chúa và lên ngôi báu. Trong truyện Thoại Khanh – Châu Tuấn, một cây đàn thần kì như vậy cũng đã được “Thích Ca xuống phước” ban cho Thoại Khanh sau khi nàng mù lòa vì dâng đôi mắt cho dâm thần để cứu mẹ chồng. Tiếng đàn ai oán của nàng làm xúc động nhân thế, vẳng tới tai Châu Tuấn, giúp cho vợ chồng, mẹ con sum họp sau 15 năm chia lìa đau khổ.

Đúng như nhận định của Cao Huy Đỉnh, mặc dầu truyện Nôm có “xu hướng tiểu thuyết hóa truyện dân gian”, nhưng về cơ bản vẫn bảo lưu khuôn dạng của truyện cổ tích. Những mô-típ thần kì như trên là một trong những thủ pháp dựng truyện quan trọng trong truyện cổ tích mà truyện thơ Nôm vẫn còn giữ lại hoặc thừa hưởng.

NHÂN VẬT ĐƯỢC CỨU GIÚP NHỜ MỘT LỰC LƯỢNG SIÊU NHIÊN NÀO ĐÓ

Đây là mô-típ chức năng có tính phổ quát trong truyện cổ tích và trong nhóm truyện thơ Nôm. Hình thức cứu giúp và chủ thể cứu giúp hết sức đa dạng, có thể chia thành hai kiểu loại là: nhân vật được cứu thoát khỏi tai nạn và nhân vật được tái sinh.

Nhân vật được cứu thoát khỏi tai nạn: Trong quá trình đi đến thắng lợi và kết thúc có hậu, nhân vật chính luôn bị thử thách và tai nạn là kiểu thử thách hiệu quả nhất. Biến cố là trường đoạn ly kỳ, hấp dẫn nhất của câu chuyện. Để cường điệu những gian lao, khó khăn mà nhân vật “đáng thương” trải qua, tai nạn thường diễn ra theo kiểu “họa vô đơn chí”, hết họa này lại đến nạn kia và thường thì họ luôn thoát khỏi một cách thần kì nhờ sự giúp đỡ từ một thế lực siêu nhiên nào đó: Trời, Phật, thần tiên, chúa sơn lâm, …

Trong truyện Lý Công, Bảo Vương mấy lần định giết Lý Công khi bắt gặp chàng ở trong cung công chúa, nhưng chàng đều được bề trên che chở: khi thì “Nam Tào, Bắc Đẩu trở đương/ Hào quang sáng khắp hộ chàng Lý sinh”; khi thì “Ngọc Hoàng sai khiến rồng vàng/ Kíp khi che phủ mình chàng Lý Công”; lúc bị trói bỏ lên bè chuối thả trôi sông thì Lý Công và công chúa được cá chép, vua Thủy Tề giúp cho ăn uống. Khi sang đất Hung Nô, Lý Công lại bị chúa Hung Nô hãm hại hòng cướp công chúa nhưng chàng cũng được Ngọc Hoàng cứu thoát: uống thuốc độc không chết, gươm đâm cũng gẫy. Không lấy được công chúa, chúa Hung Nô cho đóng cũi thả nàng trôi sông, nhưng nàng lại được Thủy Tề cứu sống.

Quả là Trời – Phật chẳng để người ngay mắc nạn. Diễn tiến truyện được nối kết với nhau bằng những yếu tố thần kì, thể hiện một niềm tin đạo nghĩa hồn nhiên, bay bổng ước mơ. Những tình tiết siêu nhiên như vậy chúng ta luôn bắt gặp trong các truyện thơ Nôm mộc mạc khác. Trong truyện Thoại Khanh – Châu Tuấn, nàng Thoại Khanh lóc thịt cánh tay mình để nướng cho mẹ chồng ăn, tấm lòng hiếu thảo của nàng thấu tận Trời nên cánh tay chẳng hề rơi một giọt máu hồng sau đó được Ngọc Hoàng cho thuốc tiên đắp vào thế là thịt da lại đầy đặn như xưa; Khi qua rừng mẹ con nàng được hổ thần thương tình cõng giúp, trong khoảnh khắc đã tới nước Tề; Dẫu bị dâm thần lấy đi đôi mắt, nhưng nhờ phép thiêng của Trời Phật mà đôi mắt của nàng được lắp trở lại toàn vẹn như ngày nào; …

Những tai nạn khủng khiếp như vậy cũng giáng lên Phạm Công khi chàng từ chối không lấy Công chúa Hung Nô. Tuy bị chúa Hung Nô ra lệnh chặt tay, khoét mắt, rứt mày, xẻ tai, đục răng, nhưng nhờ Ngọc Hoàng, chư Phật, thánh thần cứu giúp mà chàng lại được lành lặn trở về quê hương. Việc xét xử vụ án oan ngất trời ấy hầu như có mặt đủ đầy các đấng quyền năng trên thượng giới: “Ngọc Hoàng xem trạng mới hay/ Những điều ác nghiệt gớm thay cõi trần!/ Liền sai hỏa tốc chư quân/ Trẫm cho tra xét xử phân việc này/ Phật Bà nghìn mắt nghìn tay/ Phật Tổ ngày rầy cũng phải ra đi/ Quan Âm cũng đến tức thì/ Thanh Đề Huyền Nữ chỉnh tề uy nghi/ Thập điện La Hán chỉ huy/ Ngọc Hoàng chính ngự đơn trì xuống tra” (Phạm Công – Cúc Hoa).

Mặc dù là truyện Nôm do văn nhân viết mang tính tự truyện, nhưng trong Lục Vân Tiên, ta vẫn thấy các mô-típ thần kì được sử dụng như một thủ pháp nghệ thuật đắc lực, có đến 12 lần các yếu tố thần kì xuất hiện để phù trợ cho người ngay và trừng phạt các lực lượng hắc ám. Trong đó những mô-típ phổ biến nổi bật là: Cọp cắn dây mở trói, cõng tiểu đồng từ rừng sâu ra đường cái; Giao Long dìu Vân Tiên từ giữa sông vào trong bãi; Du thần qua hang Thương Tòng, dắt Vân Tiên từ trong hang ra chân núi; Sóng thần dìu Nguyệt Nga vào bãi cát; Phật Quan Âm đưa Nguyệt Nga vào vườn hoa nhà Bùi ông; Phật Bà mách bảo Lão bà đi tìm đón Nguyệt Nga khi nàng vừa trốn khỏi nhà Bùi Kiệm; Tiên Ông cho linh dược để chữa cho Vân Tiên sáng mắt ra sau 6 năm mù lòa. Rõ ràng phương thức dựng truyện Lục Vân Tiên rất gần gũi với nhóm truyện thơ Nôm bình dân trước đó.

 

Nhân vật được tái sinh: Trong truyện thơ Nôm, nhất là nhóm truyện có nguồn gốc từ văn học dân gian, để thực hiện mô hình kết thúc đoàn viên có hậu tác giả thường hay sử dụng mô-típ “tái thế tương phùng” thần kì này. Với tâm thức hướng thiện người ta không cho phép nhân vật vẹn nghĩa trọn tình của mình phải chịu cảnh nửa đường dang dở, chia ly, có một kết cuộc vô hậu phũ phàng. Như vậy thì còn gì là công lý, còn gì đạo trời.

Trong Phạm Công – Cúc Hoa, tuy nợ duyên 30 năm giữa Cúc Hoa và Phạm Công đã hết, nhưng cảm động trước tấm tình chung đi khắp năm tòa địa ngục, thủy phủ trong bốn tháng trời tìm vợ của Phạm Công, không nỡ để chồng con Cúc Hoa trong cảnh “đói cơm, khát sữa, mặc chàng một thân”, nên Diêm Vương vẫn cho Công chúa Cúc Hoa tái sinh trở lại dương gian đoàn tụ cùng chồng con.

Đặc biệt, trong truyện thơ Tấm Cám, cô Tấm đã tái sinh nhiều lần. Trước khi được trở lại thành người đoàn tụ với vua, Tấm đã trải qua một chuỗi liên hoàn hóa thân: lần thứ nhất, Tấm bị giết thì “Hoàng oanh đổi lốt hóa thân”; lần thứ hai, chim bị giết thì “Đống lông chim bỗng hóa luôn xoan đào”; lần thứ ba, xoan đào bị chặt làm khung cửi thì “Khung kêu như có tiếng người”; lần thứ tư, khung cửi bị đốt thì tro “Mọc lên cây thị rườm rà tốt tươi”; và sau đó trái thị lại hóa thành cô Tấm. Những tình tiết trong truyện cổ tích Tấm Cám được bảo lưu hoàn toàn khi nó được diễn thành truyện thơ Nôm.

TRONG NHÓM TRUYỆN THƠ NÔM NGUỒN GỐC VIỆT NAM THẾ GIỚI THIÊN ĐÌNH, ÂM PHỦ, THỦY CUNG, TRẦN GIAN DƯỜNG NHƯ KHÔNG CÓ KHOẢNG CÁCH

Trời (hay Ngọc Hoàng, Thượng Đế), Diêm Vương, Thủy Tề, tiên thánh,… ở rất gần con người, luôn nhìn thấy những việc làm của con người, luôn cảm thông giúp đỡ người hiền đức và trừng phạt kẻ gian ác. Mục đích khuyến thiện trừng ác của nhà Phật và tín ngưỡng dân gian đã kéo thế giới thần thiêng u linh lại cận kề thế giới phàm trần. Con người không cần là thần tiên mới lên được thiên đình, không cần là hồn ma mới xuống được âm phủ. Thế giới trần gian, địa ngục, thủy cung, thiên đình tương thông nhau, và con người có thể giao tiếp với hồn ma, Diêm Vương, vua thủy cung, tiên nữ, Ngọc Hoàng, …

Cảnh Thạch Sanh được đón rước xuống Thủy cung có lẽ chỉ có trí tưởng tượng hồn nhiên của quần chúng nhân dân mới tạo ra được: “Hai người từ tạ ra đi/ Giang thần tiễn biệt đưa về đỗi xa/ Lại truyền khắp hết giang hà/ Muôn loài thủy tộc phải ra lạy người/ Truyền ra chưa kịp dứt lời/ Côn thời đến trước, Kình thời theo sau/ Cá Lăng, cá Vược theo hầu/ Nhởn nhơ là lượt mọi màu khoe tươi/ Cá Chày, cá Chép đua chơi/ Cá Nghê cúi mặt, cá Voi nghiêng mình/ Cá Vàng, cá Bạc tốt lành/ Tôm He, cá Mực tranh hành ngược xuôi/ Mảng xem cá nước vầy vui/ Thoắt đà trông thấy đền đài tòa chương/ Truyền cho cá lại hà giang/ Anh em bước xuống Thủy vương điện tiền”.

Khi Phạm Công đi tìm Cúc Hoa, địa ngục và cõi tiên dường như ở cạnh nhau, được miêu tả cụ thể như chốn trần gian. Chàng đi qua chiếc cầu dưới cõi âm: “Ván mỏng như giấy bắc sông Ngân Hà/ Dưới thời những rắn mãng xà/ Thấy người cất cổ bằng ba con sào”, chứng kiến cảnh hành hình tội nhân rùng rợn: “Tứ bề lửa cháy hồng hào/ Chân tay trói buộc ném vào ghê thay!/ Cháy chân thôi lại cháy tay/ Xương da máu thịt hóa rầy ra tro”, “Mày xanh, mắt đỏ, nanh vàng” “Bắt tù khảo đả lao xao/ Lấy đầu mà xẻ ào ào khá thương”. Rồi bỗng chốc, Phạm Công lạc vào cõi tiên: “Dọc đường đua nở muôn hoa tốt lành”, “Chim kêu ríu rít trên cây/ Loan quỳ phượng múa vui thay những là!”. “Dưới sông nước chảy trong xanh”, chàng xuống tắm thì gặp “Một đoàn đầy tớ Cúc Hoa/ Ba mươi đàn bà xuống tắm dưới sông/ Lụa sa đua nhộn nhiễu hồng/ Cởi ngay áo yếm tắm sông Ngân Hà”.

Có thể nói, khi khoa học phát triển, ta hiểu biết nhiều hơn về bản thân và thế giới xung quanh, nhân loại bước vào kỷ nguyên lí trí, cũng có nghĩa là loài người đã đánh mất tuổi thơ của mình, người ta không còn tin tưởng một cách hồn nhiên vào những điều kì diệu trong những truyện cổ tích, trong những truyện thơ Nôm dân dã mộc mạc nữa. Nhưng, dẫu thế nào đi nữa thì người ta vẫn phải tin rằng cái tốt đẹp, cái thiện cũng thắng cái xấu xa, cái ác, vì đó là lương tâm của nhân loại, là tương lai của loài người. Những phép lạ, những chuyện thần kì trong truyện thơ Nôm cũng không nằm ngoài niềm tin và ước mơ tốt đẹp đó.

 

Chú thích:

*Th.S Nguyễn Thùy Dương – Khoa Công tác xã hội (ĐH Mở TP HCM).

1. Trần Đình Sử (2005), Thi pháp văn học trung đại Việt Nam, Nxb. ĐHQG Hà Nội.
2. Kiều Thu Hoạch (2007), Truyện Nôm – lịch sử hình thành và thi pháp thể loại, Nxb. Giáo dục, tr.57.
3. Kho tàng truyện Nôm khuyết danh (2 tập), Nxb. Văn học, 2000.
4. Cao Huy Đỉnh (1974), Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội.

 

Trả lời