Tinh thần tam giáo đồng nguyên trong văn học Phật giáo thời Lý – Trần (Nguyễn Thị Thanh Huyền)

 

Ðược truyền vào nước ta từ thời Bắc thuộc, Nho giáo hình thành ảnh hưởng qua hệ thống giáo dục và khoa cử theo mô hình Trung Hoa. Khi việc học hành được mở mang thì lực lượng nho sĩ ngày càng đông trong xã hội. Ðạo giáo, Phật giáo cũng vào nước ta trong thời gian này, có ảnh hưởng nhất định đến đời sống xã hội. Cả Nho – Phật – Ðạo vô hình trung tạo thành thế chân kiềng, thành tinh thần Tam giáo đồng nguyên trong đời sống chính trị, tôn giáo và văn học của Ðại Việt, đặc biệt ở hai triều đại Lý – Trần.

PHẬT – NHO DUNG HÒA

Triều đại Lý – Trần các Thiền sư đã thừa nhận tư tưởng của Nho giáo cần thiết để duy trì trật tự của xã hội cũng như giáo lý của Đức Phật cần thiết cho sự giải thoát tâm linh con người. Lời sư Trí Thiền có thể nói lên tinh thần vừa phân biệt, lại vừa dung hoà giữa Phật và Nho:

“Như Lai lục ngữ cái bất hư thiết. Thế gian chư pháp hư huyễn bất thực, duy đạo vi thực, ngã phục hà cầu. Thả Nho gia khả thuyết quân thần phụ tử chi đạo, Phật pháp khả ngôn Bồ tát, Thanh văn chi công. Nhị giáo tuy thủ, kỳ quy tắc nhất. Nhiêm, xuất sinh tử, nhược đoạn hữu vô kế phi Thích tắc bất năng dã”.

(Mấy lời nói kia của Như Lai chẳng phải là lời nói suông. Các phá́p ở trên thế gian này đều là hư ảo, không thực, chỉ có đạo mới là thực, ta còn cần gì nữa; vả lại, Nho gia thì nói đạo vua tôi, cha con. Phật pháp thì nói về công đức của các bậc Thanh văn, Bồ tát. Hai giáo tuy có khác nhưng quy về chỉ một mối mà thôi. Nhưng muốn vượt qua nỗi khổ sinh tử, dứt khỏi sự cố chấp hữu vô, ngoài Phật giáo thì không thể đạt được) [1].

Giáo lý của Nho giáo và Phật giáo tuy không giống nhau nhưng đều giúp ích cho đời. Viên Chiếu Thiền sư cho rằng Phật và Thánh như ánh sáng rực rỡ của mặt trời soi tỏ khắp nơi, đem lại sự sống cho vạn vật; như ánh trăng êm dịu mang đến sự thanh tĩnh cho con người; như mùa xuân ấm áp thì chim oanh hót líu lo; như mùa thu về thì cúc vàng rực rỡ:

Ly hạ trùng dương cúc
Chi đầu thục khí oanh.

(Trùng dương đến, cúc vàng dưới giậu
Xuân ấm về oanh náu đầu cành).

Đệ tử vẫn chưa hiểu, sư đáp tiếp:

Trúc tắc kim ô chiếu,
Dạ lai ngọc thố minh.

(Ngày vầng ô chiếu sáng,
Đêm bóng thỏ rạng soi) [2].

 

Trên bình diện tư tưởng, các Thiền sư thường kết hợp vũ trụ quan của Dịch, tư tưởng của Khổng Tử với ý niệm “Nhất như” cùng chủ trương tất cả quy về tâm của Phật giáo để phát biểu một vấn đề hiện thực. Đoạn mở đầu của bài bia chùa Linh Xứng núi Ngưỡng Sơn Thanh Hóa của Pháp Bảo (Giác Tính Hải Chiếu) là một minh chứng cho khuynh hướng kết hợp này:

Phù! Thiền tổ hiển thực nhi trực chỉ nhất tâm; Thánh nhân thích thời nhi thông hồ vạn biến. Vạn giả nhất chi tán; nhất nãi vạn chi tông. Chí ư hiền trí gián xuất: quỹ phạm điệt hưng. Tụ kỳ tán dĩ quy tông; bão ư nhất dĩ thống vạn. Lập trượng tướng nhi thị hữu sở thống; sùng thác miếu nhi linh hữu sở quy…

(Phật tổ soi tỏ cái thực mà chỉ thẳng chữ tâm; Thánh nhân thích ứng theo thời mà thông suốt muôn biến. “Muôn” là sự phân tán của “một”. “Một” là cội gốc của “muôn”. Đến như các bậc hiền Thánh thỉnh thoảng ra đời, khuôn phép thay nhau dấy lên. Nhóm cái đã phân tán để đưa nó về cội gốc, ôm cái “một” để thâu tóm cái “muôn”. Tạc nên hình tượng để biểu thị sự thâu tóm; dựng lên đền tháp để có sự hướng về) [3].

Cuối bài bia có bài minh ca tụng chân như với đức tính “hóa dục vạn vật” của Thái cực:

“Chí tai chân như,
Thể thưởng Thái hư.
Thần như bất trắc,
Hóa nhi hữu dư.
Nhất vũ bái nhuận,
Tam thảo tam thư.
Pháp chàng đại thụ,
Tà võng đốn trừ.
(Cùng tột chân như!
Thể lượng Thái hư.
Khôn lường linh diệu,
Biến hóa có thừa.
Mưa nhuần thấm đượm,
Cây cỏ sởn sơ.
Giương cao cờ phướn,
Dẹp hết tà nhơ) [4].

Sang đời Trần, vua Trần Thái Tông đã trình bày vai trò của Đạo Phật và Đạo Thánh trong bài tựa “Thiền tông chỉ nam”. Đạo của Phật thì: “Thị dĩ dụ quần mê chi phương tiện, minh sinh tử chi tiệp kính giả, ngã Phật chi đại giáo dã”. (Vì vậy, phương tiện dẫn dụ người mê muội; con đường tắt sáng tỏ lẽ tử sinh, ấy là đại giáo của Đức Phật) [5].

Còn đạo của Thánh là “Nhiệm thuỳ thế chi quyền hành, tác tương lai chi quỹ phạm giả, tiên thánh chi trọng trách dã” (Đặt mực thước cho hậu thế. Làm khuôn khổ cho tương lai, ấy là trách nhiệm của bậc tiên thánh) [6].

Một bên là đạo, một bên là đời. Một đằng là đáp ứng giải thoát tâm linh của cá nhân, một đằng là thỏa mãn yêu cầu tổ chức đời sống xã hội. Sự phân công hợp tác giữa Phật và Nho kể trên đã đưa tới kết quả tốt đẹp trong đời sống của một dân tộc vừa hưng khởi, đó là sự tương trợ giữa tôn giáo và chính trị. Điều đó rất cần thiết cho đất nước vừa độc lập và đang trên đà phát triển như Đại Việt thời bấy giờ.

Ngay từ buổi đầu, Nho học đã nhờ Phật giáo mà phát triển. Trí thức Nho học ngày ấy thường được sự dạy dỗ bởi nhà Sư. Khi khoa cử chưa tổ chức, nhiều trí thức Nho học được triều đình bổ nhiệm làm quan là nhờ sự bảo cử, tiến cử của các nhà Sư. Trong “Văn học đời Lý”, Ngô Tất Tố đã dẫn lại câu nói xưa: “Trước Nhân Tông, chưa có khoa cử, những kẻ thông minh nhanh nhẹn đều phải lo dọn Thích đạo lựa chọn và cất nhắc cho)” minh chứng cho ý kiến trên [7]. Triều đình nhà Đinh, Tiền Lê, Lý thường nhờ cậy đến sự giúp đỡ, cố vấn của các nhà Sư như: Khuông Việt, Vạn Hạnh, Đỗ Pháp Thuận… để ổn định cục diện chính trị. Các đời vua Trần vừa trị nước vừa tu thiền là một minh chứng khác thể hiện rõ mối quan hệ này.

Trong khi Nho giáo phải nhờ Phật giáo để phát triển, chính trị cần sự giúp đỡ của tôn giáo thì ngược lại, Phật giáo cũng nhờ Nho gia, tôn giáo cũng phải nhờ đến phương tiện vật chất dồi dào của chính quyền để hoằng dương Phật pháp. Trong bài văn bia chùa Linh Xứng, Thiền sư Pháp Bảo đã thừa nhận: “Tự Phật giáo dĩ lai, đãi kim nhị thiên dư tải, nhi kính phụng ích tân. Phàm hữu danh sơn thắng cảnh, mạc bất khải thác dĩ kiến giác trường. Nhiên nhi vương công đại nhân, hoằng lộ khuông duy tắc mạc năng thành yên… Từ khi có Phật giáo tới nay đã hơn 2000 năm, mà sự thờ phụng ngày càng thêm mới. Hễ có cảnh đẹp núi non thì không nơi nào là không mở mang để xây dư?ng chu?a chi??n, nh?ng kh?ng co? b??c v??ng c?ng ?a?i nh?n giu?p ??? thi? la?m sao ma? n?n ????c) ̣ng chùa chiền, nhưng không có bậc vương công đại nhân giúp đỡ thì làm sao mà nên được) [8].

Mặt khác, văn hóa Phật giáo sau này từ đường bộ Trung Quốc truyền xuống với hệ kinh sách đã dịch sang Hán văn, nên các nhà Sư muốn học kinh Phật phải thông hiểu chữ Hán và thực tế các vị đều là những người uyên thâm Hán học. Trong bối cảnh bấy giờ, điều đó có nghĩa là giáo lý từ bi của nhà Phật nhờ văn hóa ngôn ngữ của đạo Nho làm phương tiện truyền bá. Câu nói của vua Trần Thái Tông giải thích thêm lời của Lục tổ Huệ Năng là Phật và Thánh không khác gì nhau: “Cố Lục tổ hữu vân: Tiên đại thánh nhân dữ đại sư vô biệt. Tắc tri ngã Phật chi giáo, hữu giả tiên thánh dĩ truyền ư thế dã” (cho nên Lục tổ có nói: bậc đại thánh và đại sư đời trước không khác gì nhau. Như thế là đại giáo của Đức Phật ta phải nhờ tiên thánh mà truyền lại cho đời) [9].

Hơn nữa, chúng ta không lấy làm lạ nhiều người xuất thân từ Nho học nhưng đến khi về già, lòng lại hướng về Phật. Nhiều sáng tác thơ văn ca ngợi cảnh già lam với lời thơ đầy ý vị Thiền đạo mà có nhà nghiên cứu gọi đó là “dòng thơ Thiền thế sự”. Từ giữa đời Trần về sau, Nho giáo thịnh dần; nhiều nhà Nho trước đây đã từng lên án chỉ trích Phật giáo nhưng cuối đời chính họ lại vào chùa sống đời tương dưa thanh đạm, làm thơ như Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh với Cam Lộ tự, Đăng Dục Thúy sơn lưu đề, Du Phật Tích sơn ngẫu đề ca ngợi cảnh đẹp già lam, ca ngợi đức độ danh Tăng và trong bài văn viết về việc chùa Sùng Nghiêm núi Vân Lỗi thờ Đại Bi, ông đã ca ngợi công đức nhà sư xây chùa, tạo danh thắng cho đất nước và chùa thờ Phật để cầu nguyện cho quốc thái dân an; Trần Nguyên Đán với Sơn trung khiển hứng, Ngẫu đề; Chu Văn An đã làm thơ ca ngợi vị sư đạo cao đức trọng, tán dương tư cách thanh cao của các nhà Sư trong bài Đề Dương công Thủy Hoa đình; Phạm Nhân Khanh thì ca ngợi đức độ cùng tài thơ của Thiền sư Lãm Sơn trong bài Tống Lãm Sơn Quốc Sư hoàn sơn [10].

Nhìn chung, sự dung hoà giữa tư tưởng Nho giáo và Phật giáo vào thời Lý – Trần đã tạo nên một lý tưởng cao đẹp, trong đó cá nhân có thể vừa hoàn thành nhiệm vụ chính trị đối với đất nước, vừa có thể an yên thành tâm hướng Phật, hướng về giải thoát.

PHẬT – LÃO KẾT HỢP

Văn học Phật giáo Lý – Trần đã có nhiều tác phẩm mang tư tưởng siêu thoát vừa Phật, vừa Lão – Trang như thơ của Tuệ Trung Thượng sĩ Trần Tung. Bài Phóng cuồng ngâm của ông là sự kết hợp của hai luồng tư tưởng Phật giáo và Lão – Trang, có pha chút “ngông nghênh” của nhà Nho trong một con người vừa là Thiền sư, vừa là quý tộc:

“Thiên địa điếu vọng hề hà mang mang,
Trượng sách ưu du hề phương ngoại phương…
Quy sơn tác lân hề mục thủy cổ
Tạ Tam đồng chu hề ca Thương Lương.
Phỏng Tào Khê hề ấp Lư thị
Yết Thạch Đầu hề sái Lão Bàng
Lạc ngô lạc hề Bố Đại lạc,
Cuồng ngô cuồng hề Phổ Hóa cuồng.
Đốt đốt phù vân hề phú quý,
Đu hu quá khích hề niên quang…
… thâm đắc lệ hề thiển tắc kệ,
Dụng tắc hành hề xã tắc tàng”.

 

(Trời đất liếc trông chừ, sao mênh mang!
Chống gậy nhởn nhơ chừ, phương ngoài phương!…
… Láng giềng cùng Quy Sơn chừ, hát khúc Thương Lương.
Thăm Tào Khê chừ, vái chào Lư thị,
Viếng Thạch Đầu chừ, sánh vai Lão Bàng.
Vui cái ta vui chừ, Bố Đại vui,
Cuồng cái ta cuồng chừ, Phổ Hóa cuồng!
Ối ối! giàu sang chừ, lưng trời mây nổi,
Chà chà! năm tháng, bóng ngựa lướt ngang!
… sâu thì dấn chừ, nông thì sắn vén,
Dùng thì làm chừ, bỏ thì ẩn táng) [11]. 

Ta còn gặp chất phiêu diêu trong nhiều bài thơ của ông như Phỏng Tăng Điền đại sư, Xuất trần, Tự tại, Giang hồ tự thích, Phúc đường cảnh vật, Thoái cư… Sự ưa thích cảnh sống phóng khoáng, phiêu diêu thoát tục dường như là chất chung của trí thức thời Lý – Trần. Thiền Lão Thiền sư đối đáp với vua Lý Thái Tông mà sách Thiền uyển tập anh ngữ lục có chép:

“… Vua hỏi: Hòa thượng trụ trì ở núi này đã bao lâu?

Sư đáp: Đản tri kim nhật nguyệt,

Thùy thức cựu xuân thu. 

(Chỉ biết ngày tháng này, Ai rành xuân thu trước.)

Vua hỏi: Hàng ngày Hòa thượng làm gì?

Sư đáp:

Thúy trúc, hoàng hoa phi ngoại cảnh,

Bạch vân, minh nguyệt lộ toàn chân.  

(Trúc biếc, hoa vàng đâu cảnh khác,

Trăng trong, mây trắng hiện toàn chân)”.

Những câu thơ của Thiền Lão Thiền sư trả lời Lý Thái Tông ở trên man mác phong vị tiêu dao thoát tục kiểu Lão – Trang của một Thiền sư ẩn mình tịnh tu nơi thiên nhiên u tịch, thoát khỏi hồng trần.

Những bài thơ của nhóm Bích Động thi xã chủ yếu là những dòng thơ ca ngợi thú vui nhàn tản, ca ngợi thiên nhiên, xem thường danh lợi, vừa mang ý vị Thiền đạo, vừa mang chất phóng nhiệm của Lão Trang. Trần Quang Triều với những bài thơ “thanh thoát, đáng ưa” [12]; “giàu tình cảm, tinh tế, phóng khoáng tài hoa [13]” như Ngư điếu, Mai thôn phế tự, Hoàng châu đạo thượng tác, Đề gia lâm tự [14]. Những bài thơ như Xuân nhật thôn cư, Nguyên nhật yết kiến Diên Quang tự, Nguyệt Đàm thượng nhân của Nguyễn Ức [15], Nguyễn Sưởng với bài thơ ca ngợi cảnh già lam Phả lại sơn tự, Tiên Du Vạn Phúc tự, Túc Thứu thượng nhân Thiền phòng, Trùng đáo Quỳnh Lâm Bích Động am lưu đê [16]. Tất cả đều mang đậm nội dung vừa nêu. Nhà nho Chu Văn An khi lui về quê cũng đã viết những vần thơ ca ngợi thiên nhiên, bộc lộ tâm tình tiêu dao, phóng khoáng tự tại, mang cốt cách của Thiền sư, của đạo sĩ:

“Nhàn thân nam bắc phiến vân khinh,
Bán chẩm thanh phong thế ngoại tình.
Phật giới thanh u, trần giới viễn,
Đình tiền phún huyết nhất oanh minh”.

 

(Thân nhàn tựa áng mây trôi,
Gió trăng nửa gối việc đời nhẹ tênh.
Cõi trần xa, cõi Phật thanh,
Sân hoa máu đỏ, chim oanh líu lường).

Trong văn học dân gian, sự kết hợp trên cũng thể hiện rõ nét qua những câu chuyện lưu truyền trong Lĩnh Nam chích quái. Trong đó, tính chất thần bí lộ rõ nét ảnh hưởng của Phật giáo Mật tông và của Đạo giáo phù phép. Truyện Man Nương nói về nguồn gốc Phật giáo vào nước ta. Lúc ấy, Phật giáo đã pha lẫn tín ngưỡng Bà-la-môn tạo thành một biến thể phù hợp với tín ngưỡng người Việt. Việc sư Già La Đồ Lê cho Man Nương chiếc gậy thần làm nước suối chảy cứu dân khỏi cảnh hạn hán; việc đặt tên cho bốn tượng Phật tạc từ cây có giấu đứa bé con của Man Nương là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện là kết quả Phật hóa các hiện tượng thiên nhiên: mây, mưa, sấm, chớp vốn được người Việt sùng bái. Cây đổ trôi đến trước chùa, trăm người không kéo được, Man Nương đụng vào, cây di chuyển vào bờ, cho thấy những người tin Phật vẫn mang trong người niềm tin về sự liên lạc của tình cảm huyết thống. Chính vua nhà Lý đã có thơ ca ngợi:

Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo hựu huyền.
Thần thông kiêm biến hóa,
Nhất Phật nhất thần tiên. [18]

Ngoài ra, các truyện về Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không với pháp thuật phù chú giải quyết tranh chấp; dùng pháp thuật để trị bệnh, hóa kiếp đầu thai, thể hiện đức tin của quần chúng, chứng tỏ sức mạnh của uy linh huyền bí. Tất cả thể hiện sự kết hợp tịnh hành giữa Phật giáo với Đạo giáo.

QUAN NIỆM TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN

Tinh thần Phật – Nho dung hòa, Phật – Lão kết hợp bắt nguồn từ quan niệm Tam giáo đồng nguyên. Quan niệm này xuất hiện từ thời Nguỵ – Tấn, Nam – Bắc Triều ở Trung Quốc mà người đầu tiên đề xuất là Đạo sĩ Cát Hồng (284-364), sau đó được Đạo sĩ Đào Hoằng Cảnh (456-536) sống đời Tiền Lương phát triển thêm. Từ đó, quan niệm này đã ảnh hưởng đến các nhà Sư phái Hoa Nghiêm tông, Thiền tông, Mật tông. Vị Tổ thứ 5 phái Hoa Nghiêm tông đã nhận định: “Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca đều là bậc chí thánh, tuỳ thời đem ứng dụng vào vật, giáo lý tuy khác nhau nhưng nội ngoại đều có thể hỗ trợ cho nhau, cùng có lợi cho quần sinh. Muôn việc cần đến đều có thể dựa vào Tam giáo” [19].

Tư tưởng này còn ảnh hường đến các nhà Nho. Nho sĩ đời Tống như Chu Đôn Di tuy bề ngoài đã phê phán Phật – Lão nhưng thực chất bên trong lại kế thừa và phát huy tư tưởng của Phật – Lão và còn chủ trương Tam giáo dung hợp. Trong lịch sử Trung Quốc có ghi những câu chuyện về sự dung hợp này như chuyện Phó Ông, một nhân vật sống thời Nam – Bắc triều, đầu đội mũ nhà Nho, thân mặc áo nhà sư, chân đi dép đạo sĩ. Hình ảnh này để nói cái ý Tam giáo nhất gia. Quan niệm Tam giáo đồng nguyên ngay từ thời Bắc thuộc đã du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng suốt thời trung đại.

Văn học Phật giáo Lý – Trần đã thể hiện tinh thần của quan niệm trên. Chính vua Lý Nhân Tông khi nói với Mãn Giác cũng nhận định: “Chí nhân thị hiện, tất vụ tế sinh, vô hạnh bất cụ, vô sự bất tu, phỉ duy thả kính thậm chi” (Bậc trí nhân thị hiện tất phải làm việc cứu giúp chúng sinh, không hạnh nào là không cần có đủ, không việc gì là không phải chăm lo, chẳng phải chỉ sức đinh tuệ mà cũng có công giúp ích nên phải kính nhận nó) (Thiền uyển tập anh, bản in đời Vĩnh Thịnh năm thứ 11, ký hiệu A 3144).

Lời nói trên nêu rõ quan niệm về con người lý tưởng của xã hội. Đó là con người có trí tuệ sáng suốt của bậc giác giả (tri), lại biết đem đức hạnh và tài sức ra cứu dân giúp nước (hành); con người ấy, xong việc rồi lại tự tại tiêu dao như bậc “Chí nhân vô kỷ, thần nhân vô công, thánh nhân vô danh” kiểu Trang Tử. Lời của vua Lý Nhân Tông đã thể hiện Tam giáo kết hợp. Sử sách cũng cho biết nhà vua tuy là người sùng Đạo Phật nhưng lại chú trọng Nho giáo, khi thiết lập chế độ khoa cử đầu tiên ở nước ta để chọn nhân tài (năm 1075) và mở trường Quốc Tử Giám đào tạo trí thức Nho học (năm 1076).

Trong Khóa hư lục, Trần Thái Tông đã đưa ra phương pháp sám hối của nhà Phật chẳng khác nào phép tự tu tự tỉnh của Nho gia: “Mỗi ngày ta phải tự xét mình ba lần” (Nhất nhật tam tỉnh ngộ thân) mà Khổng Tử đã dạy trong thiên Học Nhi, sách Luận Ngữ. Ở bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, nhà vua cho rằng Khổng Tử, Thích Ca, Lão Tử đều như nhau với những tư tưởng, hoạt động gần nhau, bởi đạo chỉ một mà thôi: Tuy ngôn thân mệnh chi chí trọng, do vị túc trọng ư chí đạo dã. Cố Khổng Tử viết: Triệu văn đạo, tịch tử khả hỷ. Lão Tử viết: Ngô sở dĩ hữu đại hoạn giả, vị ngô hữu thân. Thế Tôn cầu đạo xả thân cứu hổ. Khởi phi tam thánh nhân khinh thân nhi trọng đạo giả tai [20] (Tuy nhiên nói thân mệnh là đáng trọng nhưng cũng chưa trọng bằng cái đạo tối cao. Khổng Tử nói: Sớm nghe đạo, chiều có thể chết được rồi. Lão Tử nói: ta sở dĩ có điều lo lớn là vì ta có cái thân. Đức Thế Tôn cầu đạo, quên mình cứu hổ. Há chẳng phải ba bậc thánh nhân khinh thân mình mà trọng đạo đó sao?)

Tóm lại, văn học Phật giáo Lý – Trần có được tinh thần trên là nhờ tính cởi mở phóng khoáng, dân chủ. Người Việt sẵn sàng mở cửa tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa tư tưởng bên ngoài rồi dung hợp và tạo nên nét độc đáo riêng, phù hợp hoàn cảnh xã hội  của dân tộc.

 

Chú thích:

[1] Thiền uyển tập anh, bản Vĩnh Thịnh, ký hiệu A3144.
[2] Thơ văn Lý – Trần, tập 1, tr.274.
[3], [4] Thơ văn Lý – Trần, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr.358-360.
[5] Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, 1989, tr.26.
[6] Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, 1989, tr.27.
[7] Ngô Tất Tố (1942), Văn học đời Lý, Nxb Mai Lĩnh, tr.22.
[8] Thơ văn Lý – Trần, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr.361.
[9] Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr.26.
[10] Thơ văn Lý – Trần, tập 3, Nxb Khoa học xã hội, 1978, tr.51, 315.
[11] Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr.279.
[12] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí, Nxb Sử học, Hà Nội, 1960, tr.71.
[13], [14], [15], [16] Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb KHXH, Hà Nội, 1989, tr.608, 609-614, 760-775.
[17] Thơ văn Lý – Trần, tập 3, Nxb Khoa học xã hội, 1978, tr.57.
[18] Thơ văn Lý – Trần, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, 1977, tr.434.
[19] Nguyễn Tài Thư (1999), “Tam giáo đồng nguyên – hiện tượng tư tưởng chung của các nước Đông Á”, Tạp chí Hán Nôm số 40, tr.12.
[20] Thơ văn Lý – Trần, tập 2, quyển thượng, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội, 1989, tr.61.

Trả lời