Kỳ 5: Sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (HT. Thích Huệ Thông)

 

Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo trân trọng trích đăng các bài viết thuộc tác phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam: 40 năm hình thành và phát triển của Hòa thượng Thích Huệ Thông. Các bài viết được sắp xếp và biên tập để cung cấp cho độc giả gần xa biết về những khó khăn, thách thức và nỗ lực không ngừng nghỉ của bao thế hệ chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong suốt nhiều năm, nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

TỔ CHỨC CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Sau khi toàn thể Đại biểu thảo luận và thống nhất thông qua bản Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, thông qua chương trình hoạt động và hoàn tất việc giới thiệu và suy tôn Hội đồng Chứng minh, cũng như giới thiệu thành phần và thực hiện suy cử Hội đồng Trị sự xong, thời khắc trọng đại Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được ra đời, đánh dấu một sự kiện lịch sử của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đáp ứng nguyện vọng thiết tha bao đời của Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên Phật giáo thống nhất trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, kỷ nguyên một Giáo hội Phật giáo Việt Nam lấy “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” làm phương châm hành động.

Đại hội đã cung nghinh suy tôn Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cung thỉnh suy cử Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đại hội đã suy tôn Hội đồng Chứng minh và suy cử Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thành phần nhân sự lãnh đạo Trung ương Giáo hội tại nhiệm kỳ I (1981-1987) như sau:

– Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 50 vị Hòa thượng, Trưởng lão tiêu biểu của các tổ chức, Giáo hội và hệ phái, trong đó Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm có: Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp chủ; Hòa thượng Thích Đôn Hậu làm Phó Pháp chủ kiêm Giám luật; cùng quý Hòa thượng Thích Minh Nguyệt, Hòa thượng Thích Ấn Lâm, Hòa thượng Maha Saray, Hòa thượng Thích Mật Hiển, Hòa thượng Thích Huệ Thành đồng làm Phó Pháp chủ và Hòa thượng Thích Nguyên Sinh làm Chánh Thư ký.

– Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 49 vị Hòa thượng, Trưởng lão tiêu biểu của các tổ chức, Giáo hội và hệ phái, trong đó Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam gồm có: Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Chủ tịch; cùng với 9 vị Phó Chủ tịch; trong đó nhị vị Hòa thượng Thích Thế Long và Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Phó Chủ tịch Thường trực; Hòa thượng Thích Thiện Hào; Hòa thượng Thích Thanh Chân, Hòa thượng Thích Bửu Ý, Hòa thượng Thích Giới Nghiêm, Hòa thượng Thích Giác Nhu, Hòa thượng Châu Mum đồng là Phó Chủ tịch; Hòa thượng Thích Minh Châu là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký; Thượng toạ Thích Thanh Tứ làm Phó Tổng Thư ký; Thượng toạ Thích Từ Hạnh làm Phó Tổng Thư ký. Trụ sở đặt tại chùa Quán Sứ, số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Thủ đô Hà Nội.

Về cơ cấu tổ chức, Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nhiệm kỳ I (1981-1987) có các ban và chuyên ngành cụ thể như sau:

1/ Ban Tăng sự Trung ương do Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Trưởng ban.

2/ Ban Giáo dục Tăng Ni do Thượng tọa Thích Thiện Siêu làm Trưởng ban.

3/ Ban Hướng dẫn nam nữ cư sĩ, Phật tử do Thượng tọa Thích Thanh Hiền làm Trưởng ban.

4/ Ban Hoằng pháp do Thượng tọa Thích Trí Quảng làm Trưởng ban.

5/ Ban Nghi lễ do Thượng tọa Kim Cương Tử làm Trưởng ban.

6/ Ban Văn hóa do đạo hữu Võ Đình Cường làm Trưởng ban.

Ngoài ra, còn có các bộ phận trực thuộc Trung ương Giáo hội như bộ phận Tài chính do đạo hữu Tăng Quang và Thượng tọa Thích Thanh Chỉnh phụ trách; Thủ quỹ do Thượng tọa Thích Thuận Đức và đạo hữu Nguyễn Thị Thanh Quyên phụ trách; bộ phận Kiểm soát do Ni sư Thích Nữ Huỳnh Liên và đạo hữu Tống Hồ Cầm phụ trách…

Như vậy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã chính thức hình thành, hoạt động với bản Hiến chương gồm: Lời nói đầu, 11 Chương và 46 Điều, được 165 Đại biểu thống nhất thông qua. Bản Hiến chương do Hòa thượng Thích Đức Nhuận và Hòa thượng Thích Trí Thủ thay mặt đoàn Chủ tịch hội nghị, Thượng tọa Thích Minh Châu thay mặt đoàn Thư ký hội nghị ký, 9 vị Trưởng đoàn của 9 tổ chức hệ phái tham dự Hội nghị cùng ký tên, công nhận gồm: 1/ Trưởng đoàn Đại biểu Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam Hòa thượng Thích Nguyên Sinh; 2/ Trưởng đoàn Đại biểu Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Thượng tọa Thích Thiện Siêu; 3/ Trưởng đoàn Đại biểu Giáo hội Phật giáo Cổ truyền Việt Nam Hòa thượng Thích Trí Tấn; 4/ Trưởng đoàn Đại biểu Ban Liên lạc Phật giáo Yêu nước TP. HCM Hòa thượng Thích Thiện Hào; 5/ Trưởng đoàn Đại biểu Giáo hội Tăng già Nguyên Thuỷ Việt Nam Thượng tọa Thích Siêu Việt; 6/ Trưởng đoàn Đại biểu Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước Tây Nam Bộ Hòa thượng Dương Nhơn; 7/ Trưởng đoàn Đại biểu Giáo phái Khất sĩ Việt Nam Hòa thượng Thích Giác Nhu; 8/ Trưởng đoàn Đại biểu Giáo hội Thiên Thai Giáo Quán Tông Thượng tọa Thích Đạt Pháp; 9/Trưởng đoàn Đại biểu Hội Phật học Nam Việt cư sĩ Tăng Quang. Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam được Bộ trưởng Tổng Thư ký Hội đồng Bộ trưởng Đặng Thí ký phê chuẩn vào ngày 29 tháng 12 năm 1981.

Trong Lời nói đầu, Hiến chương đã nêu rõ lập trường, quan điểm của Giáo hội Phật giáo Việt Nam như sau: “Trong gần hai ngàn năm hoằng pháp độ sinh trên đất nước Việt Nam và hòa mình trong dân tộc, Đạo Phật đã trở thành một tôn giáo của dân tộc. Với truyền thống yêu nước, Phật giáo Việt Nam bao giờ cũng là thành viên được tin cậy trong khối đoàn kết toàn dân, suốt dòng lịch sử dựng nước và giữ nước từ ngàn xưa, cũng như trong sự nghiệp giải phóng dân tộc ngày nay do Hồ Chủ tịch và Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo… Nguyện vọng thống nhất Phật giáo đã thực hiện từ lâu, nhưng chưa được trọn vẹn, nay trong bối cảnh dân tộc đã độc lập, Tổ quốc đã thống nhất, cả nước đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, Phật giáo Việt Nam có đủ cơ duyên thống nhất thật sự để duy trì chánh pháp, góp phần tích cực cùng toàn dân đem lại vinh quang cho Tổ quốc, hòa bình an lạc cho dân tộc và nhân loại… Sự thống nhất này xây dựng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, tuy nhiên, các truyền thống hệ phái cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chánh pháp đều được tôn trọng, duy trì” [1]

Hiến chương đã nêu rõ lý tưởng, vai trò, vị trí của Giáo hội Phật giáo Việt Nam: “Lý tưởng giác ngộ chân lý hòa hợp chúng, hòa bình và công bằng xã hội của giáo lý Đức Phật, nhằm phục vụ dân tộc, Tổ quốc và nhân loại chúng sinh là lập trường và mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam về mọi mặt quan hệ ở trong nước và ngoài nước; Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”[2]. Ở Chương II (Mục đích – Thành phần), tại Điều 4, một lần nữa Hiến chương nhấn mạnh mục đích ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, đó là: “Điều hòa hợp nhất các hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì và hoằng dương Phật pháp, phục vụ dân tộc và Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần hòa bình an lạc cho thế giới”. Nội dung các Chương, Điều thể hiện trong Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã toát lên tầm vĩ mô, mang ý nghĩa chiến lược nhằm ổn định tổ chức Giáo hội và định hướng phát triển lâu dài bền vững. Đặc biệt, Hiến chương Giáo hội thể hiện vai trò then chốt trong hệ thống quản lý, điều hành và chế tài của Giáo hội, xác lập giáo quyền và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của các thành viên Giáo hội; đoàn kết hòa hợp, đảm bảo các quyền được đề cử và được suy cử cũng như nghĩa vụ của tất cả thành viên đối với Giáo hội. Như vậy, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam là cơ sở pháp lý, được xem như là đạo luật căn bản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam để xây dựng Giáo hội vững mạnh, xác định các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy Giáo hội, phản ánh và tác động đến sự phát triển bền vững của Giáo hội.

Kể từ ngày tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, đứng đầu là Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội, đã hướng đến mục tiêu xác lập việc thống nhất quản lý và điều hành Phật sự trên phạm vi toàn quốc theo tiêu chí: “Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức; các truyền thống Hệ phái cũng như các pháp môn tu hành và phương tiện tu hành đúng chánh pháp vẫn được tôn trọng, duy trì”. Do vậy, để thiết lập một trật tự, bảo đảm quyền và nghĩa vụ của Tự viện, Tăng, Ni, Phật tử trong bối cảnh đất nước thống nhất, Hiến chương Giáo hội như một đạo luật cơ bản, chủ đạo trong hệ thống Giáo hội, nhằm tổ chức thể chế chính trị, bộ máy Giáo hội và các quan hệ xã hội phù hợp với phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Lúc này chúng ta có thể khẳng định Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực sự là kim chỉ nam lèo lái con thuyền Giáo hội vượt qua mọi khó khăn, góp phần thiết thực để Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành tựu mỹ mãn và không ngừng thăng tiến qua mỗi nhiệm kỳ [3].

Trong buổi lễ bế mạc, Đại hội đã gửi thư lên Chủ tịch Hội đồng Nhà nước, báo cáo kết quả tốt đẹp của Đại hội và cam kết tiếp tục thực hiện truyền thống yêu nước và tinh thần đoàn kết với cộng đồng dân tộc. Thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam, Hòa thượng Thích Trí Thủ đã tuyên đọc bức tâm thư, trong đó có đoạn: “Với sự thành công viên mãn của Đại hội lịch sử này, chúng ta đang thực hiện một bước tiến mới, tiếp nối cuộc hành trình vẻ vang hai ngàn năm hoằng pháp, độ sinh của Phật giáo chúng ta trên Tổ quốc thân yêu. Từ đây chúng ta có thêm cơ sở thuận lợi mới để bảo đảm tín ngưỡng và phương pháp tu hành đúng chánh pháp, phát huy tinh thần bi, trí, dũng và nền văn hóa nhân bản của Phật giáo trong thời kỳ nước ta đang xây dựng chủ nghĩa xã hội, thể hiện cao hơn nữa truyền thống yêu nước và gắn bó hài hòa giữa đạo và đời, đóng góp tích cực hơn nữa cho sự nghiệp xây dựng hòa bình và an sinh cho nhân loại… Để thực hiện tốt đẹp lý tưởng, cũng như các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của Giáo hội, sau Đại hội này, chúng ta hãy ra sức phấn đấu biến thành hiện thực những điểm trong Hiến chương và Chương trình hành động mà Đại hội đã thông qua. Giáo hội thiết tha kêu gọi chư tôn Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Tăng, Ni và Phật tử cả nước nhiệt tình hưởng ứng, chung sức chung lòng, kề vai sát cánh cùng Giáo hội làm tròn trách nhiệm lớn lao mà Tổ quốc Việt Nam đang đòi hỏi và lịch sử Giáo hội Phật giáo Việt Nam hằng giao phó” [4].

Tâm thư cũng nêu rõ: “Ngày nay, nước nhà được độc lập, thống nhất, từ Lạng Sơn đến Minh Hải quy về một mối. Trong niềm hân hoan chung của cả nước, Tăng, Ni và Phật tử Việt Nam lại có niềm hân hoan riêng thấy ước mơ bao đời nay của mình đã thành hiện thực. Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập, thống nhất tất cả các hệ phái Phật giáo Việt Nam theo cùng một ý chí, một Hiến chương và chương trình hành động, trong cùng cơ cấu tổ chức và lãnh đạo, nhằm mục đích chung là duy trì chánh pháp, đề cao chánh tín, góp phần tích cực cùng toàn dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, đem lại vinh quang cho Tổ quốc, hòa bình cho dân tộc và cho nhân loại” [5]. Ngoài ra, trong lời kêu gọi sau khi Đại hội thành công, Hòa thượng Thích Trí Thủ thay mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội đã nêu rõ: “Từ nay, chúng ta không còn là Phật tử của miền Nam, miền Trung hay miền Bắc, không còn bị gò bó chia cách bởi tổ chức này hay hình thức nọ, mà đều là Phật tử Việt Nam, thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong nước cũng như ngoài nước” [6]. Sau ngày Đại hội bế mạc, trong buổi tiếp Đại biểu Đại hội tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng đã bày tỏ niềm phấn khởi, tin tưởng trước sự thành công của Đại hội và nhấn mạnh: “Đây là một sự kiện lịch sử của đạo Phật nước ta, cả từ trong quá khứ cũng như trong hiện tại và tương lai… Lịch sử đã xác nhận Phật giáo Việt Nam là một tôn giáo từ bản chất, bản sắc, từ trong thực tiễn hoạt động của mình, biểu hiện truyền thống yêu nước, gắn bó chặt chẽ với dân tộc, với Tổ quốc. Trong sự nghiệp cách mạng cao cả của dân tộc ngày nay, Phật giáo Việt Nam đã góp phần xứng đáng…” [7].  Cũng tại buổi tiếp này, Hòa thượng Thích Đức Nhuận thay mặt quý Đại biểu nêu lên ba nguyện vọng của Phật giáo, cũng là nguyện vọng chung của toàn thể Tăng, Ni và Phật giáo đồ cả nước. Ba nguyện vọng đó là:

1/ Phật giáo Việt Nam được thống nhất.

2/ Phật tử được tự do tín ngưỡng, dễ dàng xuất gia học đạo.

3/ Được mở mang trường Đại học Phật giáo ở 3 thành phố lớn: Hà Nội, Huế và TP.HCM. Các tỉnh thành được mở lớp gia giáo và Phật Học Viện để đào tạo Tăng tài.

Trong buổi hôm đó, tất cả thành viên trong đoàn ai nấy đều vui mừng sung sướng, khi được cụ Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng chấp nhận ba nguyện vọng trên. Từ khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam đến nay trải qua 8 nhiệm kỳ và ba giai đoạn lịch sử dưới sự lãnh đạo, chứng minh tối cao của ba Đức Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam:

1/ Đệ nhất Pháp chủ – Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận từ năm 1981 đến năm 1993.

2/ Đệ nhị Pháp chủ – Đại lão Hòa thượng Thích Tâm Tịch từ năm 1997 đến năm 2005.

3/ Đệ tam Pháp chủ – Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ từ năm 2007 đến nay.

Và dưới sự lãnh đạo điều hành Phật sự của ba vị Chủ tịch Hội đồng Trị sự:

1/ Hòa thượng Thích Trí Thủ từ năm 1981 đến năm 1984.

2/ Hòa thượng Thích Trí Tịnh từ năm 1984 đến nay 2014.

3/ Hòa thượng Thích Thiện Nhơn từ năm 2014 đến nay.

Ý NGHĨA SỰ RA ĐỜI CỦA GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

Tóm lại, sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trở thành sự kiện lịch sử trọng đại của Phật giáo Việt Nam, ghi đậm nét son vàng trên trang sử Phật giáo nước nhà thời hiện đại, điều này thể hiện trọn vẹn sứ mạng thống nhất các tổ chức hệ phái Phật giáo trong cả nước quy về một mối, trở thành một tổ chức Giáo hội Phật giáo duy nhất tại Việt Nam sau hơn một ngàn năm phân tán và hoạt động rời rạc, sự kiện này đánh dấu bước khởi đầu công cuộc xây dựng và phát triển Giáo hội. Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo chính thống và duy nhất trên đất nước Việt Nam được Nhà nước Việt Nam công nhận, có Hiến chương, có cơ cấu nhân sự từ Trung ương đến địa phương. Sự hoạt động đồng bộ, nhịp nhàng, xuyên suốt, nhất quán giữa các Ban, Viện thuộc Trung ương Giáo hội, từ cấp Trung ương xuống đến địa phương đã tạo nên luồng sinh khí trong đời sống sinh hoạt của Tăng, Ni, Phật tử. Giáo hội Phật giáo Việt Nam là trung tâm tập hợp nguồn lực lớn lao của Phật giáo Việt Nam, thu hút quần chúng nhân dân đến với đạo Phật, tạo nguồn cảm hứng vô biên cho sự nghiệp phát triển Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới, tạo nên sự hưng phấn cho Tăng, Ni, Phật tử trong quá trình dấn thân phụng sự đất nước trên bước đường đồng hành cùng dân tộc. Có thể nói, tính tập trung, đồng bộ xuyên suốt trong công tác tổ chức, cũng như cơ cấu hành chánh của Giáo hội đã cho thấy sự nổi bật của công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam trong thời đại mới.

Sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã hình thành tiếng nói chung của tất cả các tổ chức Giáo hội, tổ chức hội thuộc ba hệ phái lớn Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ của Phật giáo Việt Nam, đó là “Đoàn kết hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm, trang nghiêm Giáo hội” và “Phục vụ chúng sanh là cúng dường chư Phật”. Sự thống nhất 9 tổ chức hệ phái Phật giáo Việt Nam, đồng lòng thực hiện tiếng nói chung của Phật giáo Việt Nam kể từ ngày Giáo hội Phật giáo Việt Nam ra đời, trải dài trong suốt 40 năm qua  đã khẳng định tính ưu việt của công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam, không chỉ xóa đi khoảng cách giữa các hệ phái Phật giáo tại Việt Nam mà còn gắn kết chặt chẽ các hệ phái Phật giáo thành một khối thống nhất đoàn kết hòa hợp, tạo sự liên thông Phật giáo giữa các vùng miền. Đồng thời, Giáo hội Phật giáo Việt Nam với phương châm, định hướng: “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, là động cơ giúp cho Phật giáo đồ Việt Nam ý thức trách nhiệm cao cả của mình đối với vận mệnh đất nước trên bước đường đồng hành cùng dân tộc, định hướng và tạo điều kiện thuận lợi cho Tăng Ni, Phật tử đóng góp công sức, trí tuệ cho sự hưng thịnh của đạo pháp và sự trường tồn của dân tộc. Nhìn lại quá trình hình thành, ổn định và phát triển của Phật giáo Việt Nam trong suốt 40 năm qua, Phật giáo Việt Nam đã thật sự lớn mạnh trên nhiều phương diện, đạt được kết quả khả quan trong hầu hết các lĩnh vực Tăng sự, giáo dục, hoằng pháp, văn hóa, từ thiện xã hội, quan hệ trên mặt hoạt động đối ngoại, thông qua các Hội nghị, Hội thảo quốc tế, đã không ngừng nâng cao vị thế Phật giáo trong lòng dân tộc, trên trường quốc tế, những thành tựu vượt bật này là nền móng cho sự phát triển bền vững của Giáo hội, đồng thời là cơ sở vững chắc để tăng cường niềm tin đạo pháp của Tăng, Ni và Phật giáo đồ trong cả nước.

Ngược dòng lịch sử, từ thế kỷ XIV, Phật giáo Việt Nam đã tiến hành công cuộc thống nhất các dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thảo Đường, Vô Ngôn Thông thành lập nên Giáo hội Trúc Lâm vào năm 1299; đến năm 1951 lại thống nhất các tổ chức Phật giáo Bắc tông lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam; tiếp theo, vào năm 1958, thống nhất các tổ chức Phật giáo tại miền Bắc lập nên Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam và thống nhất các tổ chức Phật giáo tại miền Nam vào năm 1964 lập nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Tuy nhiên, do những điều kiện khách quan và chủ quan đã khiến cho những lần thống nhất Phật giáo nêu trên chưa đạt được sự thống nhất một cách trọn vẹn, mỹ mãn. Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, chúng tôi xin ghi nhận một số giới hạn của các cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử, đồng thời so sánh và nêu lên sự thành công một cách trọn vẹn trong công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam vào năm 1981:

1/ Sở dĩ công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam vào năm 1981 được xem là công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam trọn vẹn mỹ mãn nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, là vì công cuộc thống nhất Phật giáo vào năm 1981 diễn ra trong bối cảnh đất nước thống nhất, nên Phật giáo có điều kiện tập hợp đầy đủ các tổ chức hệ phái, đây là lần đầu tiên trong lịch sử Phật giáo, cụm từ “Phật giáo thống nhất một cách trọn vẹn” trở nên đúng nghĩa, vì Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tập hợp đầy đủ các tổ chức Giáo hội, tổ chức hội cả ba hệ phái Bắc tông, Nam tông, Khất sĩ mà trước đây thời nhà Trần Phật giáo chỉ thống nhất trong nội bộ thiền phái Trúc Lâm; còn trong năm 1951, Tổng hội Phật giáo Việt Nam chỉ thống nhất trong nội bộ hệ phái Bắc tông; đối với các cuộc thống nhất khác do hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, như việc thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam vào năm 1958 hay Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vào năm 1964, chỉ diễn ra trong phạm vi ở miền Nam hay ở miền Bắc, chứ không thể nói là thống nhất Phật giáo trong cả nước, hơn nữa còn nhiều tổ chức Giáo hội lúc bấy giờ không tham gia.

2/ Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập trong điều kiện đất nước hòa bình, kinh tế xã hội phát triển, tình hình an ninh chính trị ổn định, lại được Nhà nước quan tâm hỗ trợ nên Giáo hội Phật giáo Việt Nam có nhiều điều kiện để phát triển trên nhiều phương diện (tổ chức điều hành) và nhiều lĩnh vực (Tăng sự, giáo dục, hoằng pháp, nghi lễ, văn hóa, từ thiện xã hội…). Trong khi đó, Phật giáo thời nhà Trần, dù tình hình đất nước thái bình thịnh trị, dù được các vua Trần và triều đình hết lòng ủng hộ, nhưng do bối cảnh xã hội thời phong kiến, lại thêm Giáo hội Trúc Lâm chỉ đóng khung trong nội bộ thiền phái Trúc Lâm nên không mở rộng tầm hoạt động trên nhiều phương diện như Phật giáo thời nay; so với công cuộc thống nhất Phật giáo năm 1951, do bối cảnh xã hội lúc bấy giờ đang trong thời kỳ chiến tranh, chư Tăng và cơ quan Giáo hội bị phân tán thành hai vùng tạm chiếm và vùng giải phóng, do yếu tố không tập trung, cộng thêm tình hình kinh tế văn hóa xã hội thời bấy giờ còn nhiều khó khăn giới hạn, nên không có nhiều điều kiện phát triển như Phật giáo thời nay.

3/ Công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam vào năm 1981 được xem là công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam trọn vẹn mỹ mãn, đó là nhờ sự đoàn kết hòa hợp, thống nhất ý chí trong mọi tư tưởng và hành động của cả ba hệ phái Bắc tông, Nam tông và Khất sĩ trong một đoàn thể Giáo hội Phật giáo Việt Nam, điều này đã tạo nên một khối thống nhất, keo sơn bền vững, đây là yếu tố tạo nên sự thống nhất trọn vẹn nhất trong lịch sử các thời kỳ thống nhất của Phật giáo Việt Nam. Nếu nhìn lại Giáo hội Trúc Lâm thời nhà Trần, chỉ đơn độc trong thiền phái Trúc Lâm, hơn nữa về mặt nhân sự, thực tế cho thấy vẫn còn khoảng cách rất lớn giữa hành giả tu chứng và những người sơ cơ học đạo; nếu so với Tổng hội Phật giáo Việt Nam ra đời vào năm 1951 thì Tổng hội này dường như chỉ mang tính lịch sử, chưa thể hiện vai trò của một tổ chức gắn kết các tổ chức hệ phái Phật giáo ba miền, chính điều này dẫn đến việc các hệ phái hoạt động độc lập riêng lẻ…

Nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong suốt 40 năm qua, đây là giai đoạn Giáo hội Phật giáo Việt Nam vô cùng ổn định, ngày càng đi vào chiều sâu của sự phát triển bền vững. Nhân Đại lễ kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, hướng đến Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IX, chúng ta cùng nhau ôn lại một chặng đường lịch sử để cảm nhận sâu sắc giá trị công cuộc thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra cách nay 40 năm. Chính sự thống nhất trọn vẹn này đã tạo nên sức mạnh nội lực vô biên cho Phật giáo Việt Nam, mang lại những thành quả to lớn và là nền tảng vững chắc để Giáo hội Phật giáo Việt Nam hướng đến những mục tiêu cao cả, đáp ứng yêu cầu phát triển Giáo hội thời hội nhập.

Việc thống nhất và thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã mở ra một trang sử mới, một hướng phát triển mới trong lịch sử Phật giáo Việt Nam để phát huy cao hơn nữa truyền thống gắn bó giữa đạo Phật với dân tộc trong thời đại mới theo phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”. Gắn bó với dân tộc, Giáo hội Phật giáo Việt Nam luôn luôn cổ vũ Tăng, Ni, Phật tử chấp hành tốt các chủ trương, chính sách, luật pháp của Nhà nước, hưởng ứng, tham gia tích cực các công tác ở địa phương, các phong trào hành động cách mạng do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, nhất là các phong trào từ thiện xã hội, góp phần ngày càng có hiệu quả hơn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Sự phát triển của Phật giáo Việt Nam trong sự ổn định và phát triển của đất nước, chứng tỏ con đường “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” trong giai đoạn mới của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với giáo lý của nhà Phật, phù hợp với nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam. Đường hướng hành đạo mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam với phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” ngày càng thể hiện tính đúng đắn và hiệu quả, nó không chỉ là sự hun đúc, hội tụ truyền thống gắn bó đồng hành cùng dân tộc của Phật giáo Việt Nam suốt hàng ngàn năm qua, mà còn là sự tiếp nối và kế thừa mạng mạch Phật pháp, phát huy tư tưởng nhân văn sâu sắc của Phật giáo, đồng thời cũng tạo nên những nét đặc thù mang đậm bản sắc rất riêng và độc đáo, đó là Phật giáo của dân tộc Việt Nam…

Ngày nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh về tổ chức và hoạt động, góp phần động viên quần chúng, tín đồ Phật giáo thực hiện những giá trị đạo đức, bảo vệ và giữ gìn bản sắc văn hóa Việt Nam. Với truyền thống yêu nước, gắn bó và đồng hành cùng dân tộc, Phật giáo Việt Nam đã tạo điều kiện để Tăng, Ni, Phật tử trong nước và ngoài nước hiểu rõ đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo; vận động quần chúng, tín đồ tích cực tham gia vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những đóng góp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã nâng cao vị thế của mình trong nước cũng như trên trường quốc tế, được Phật giáo các nước đánh giá cao; thành quả của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là sự kết tinh, chắt lọc những nỗ lực và tâm huyết của hai ngàn năm Phật giáo đồng hành cùng dân tộc… Với tinh thần nhập thế tích cực, ngày nay trên rất nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đang động viên, khuyến khích Tăng, Ni, Phật tử tham gia, đặc biệt là việc xã hội hóa công tác giáo dục, y tế và từ thiện xã hội. Hàng năm, Giáo hội đã đóng góp hàng ngàn tỷ đồng qua các hoạt động từ thiện xã hội, góp phần cùng chia sẻ trách nhiệm cộng đồng, đến với đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, giúp đỡ những hoàn cảnh neo đơn, người già, người tàn tật không nơi nương tựa. Nhiều ngôi chùa đã trở thành mái ấm tình thương nuôi dưỡng những mảnh đời mồ côi, già yếu, bệnh tật… Những tấm lòng cao cả của Tăng, Ni, Phật tử đã và đang là những việc làm ý nghĩa, thiết thực góp phần giải quyết an sinh xã hội, đồng thời tạo dựng niềm tin vào một xã hội tốt đẹp…

Trong những năm gần đây, trước xu thế hội nhập và toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã đăng cai và tổ chức thành công nhiều sự kiện Phật giáo quốc tế quan trọng như ba kỳ Đại lễ Phật đản Vesak Liên Hiệp Quốc trong năm 2008, 2014, 2019 và tổ chức cũng như tham gia nhiều Hội nghị và sự kiện mang tầm quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam, con người Việt Nam và Phật giáo Việt Nam yêu chuộng hòa bình, sẵn sàng làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới, đập tan những âm mưu lợi dụng Phật giáo để gây chia rẽ, mất đoàn kết, phá hoại sự nghiệp xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa và thành quả cách mạng của nhân dân ta.

Lịch sử cũng đã cho chúng ta xác tín rằng, dưới ngôi nhà chung Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tinh thần “Lục hòa vô ngã” với phương châm “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, thì người con Phật trên đất nước Việt Nam thân yêu sẽ cùng nhau xây dựng ngôi nhà chung đó ngày càng hưng thịnh và điều đó đã chứng minh một cách thuyết phục với những gì mà Phật giáo Việt Nam đã gặt hái và đóng góp cho đạo pháp và dân tộc trong suốt 40 năm qua. Nhìn lại chặng đường 40 năm Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực hiện phương châm hành đạo “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội”, với sự quan tâm, tạo điều kiện của Nhà nước và các cấp chính quyền bằng những chủ trương, chính sách đúng đắn đối với tôn giáo nói chung, cũng như đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói riêng, chúng ta có thể tin tưởng rằng Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ tiếp tục có những bước tiến vượt bậc, xây dựng Giáo hội vững mạnh, xứng đáng là tổ chức đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước, tiếp tục có những việc làm vị tha vô ngã, thiết thực lợi ích nhân sinh, thể hiện truyền thống gắn bó, đồng hành cùng dân tộc suốt 2000 năm của Phật giáo Việt Nam, góp phần cùng xây dựng đất nước Việt Nam ngày một phồn thịnh, vững mạnh, văn minh, đem lại hòa bình, ấm no và hạnh phúc cho mọi tầng lớp nhân dân.

 

(Tiếp theo kỳ 6: Giai đoạn I của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (nhiệm kỳ 1981-1987)

 

Chú thích:

* HT. Thích Huệ Thông – Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

[1], [2] Trích Lời nói đầu của Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành ngay sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập tại Hội nghị thống nhất Phật giáo toàn quốc vào ngày 4 đến 7/11/1981 tại chùa Quán Sứ, Thủ đô Hà Nội.

[3] Tính đến nay, hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trải qua 8 nhiệm kỳ, trên căn bản ban đầu của Hiến chương, Giáo hội đã ban hành rất nhiều Thông tri, Nghị quyết, Quyết định quan trọng của Giáo hội để lèo lái guồng máy đi vào quỹ đạo “Trí tuệ – Kỷ cương – Hội nhập – Phát triển” một cách khoa học, đáp ứng yêu cầu thời đại, có kế hoạch, có tổ chức và chương trình hoạt động cụ thể. Đồng thời để thích ứng với yêu cầu phát triển trong từng hoàn cảnh lịch sử và nhất là trong bối cảnh thời đại, Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được tu chỉnh lần thứ 6 vào năm 2017 và gần đây nhất là bản quy chế hoạt động Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam nhiệm kỳ VIII (2017 – 2022) được ban hành và đã đi vào cuộc sống.

[4] Trích tài liệu Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 – 2012)-Người thực hiện: Nguyễn Đại Đồng – Nhà xuất bản Tôn giáo 2012.
[5] Trích tài liệu Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 – 2012)-Người thực hiện: Nguyễn Đại Đồng – Nhà xuất bản Tôn giáo 2012.
[6] Trích tài liệu Giáo hội Phật giáo Việt Nam từ Đại hội đến Đại hội (1981 – 2012)-Người thực hiện: Nguyễn Đại Đồng – Nhà xuất bản Tôn giáo 2012.
[7] Trích nguồn Ban Tôn giáo Chính phủ

Trả lời