Phật giáo Kiên Giang với hành trình hộ quốc an dân (ThS. Lê Tô Nam)

Phật giáo là tôn giáo đầu tiên truyền thừa đến Kiên Giang và tồn tại hòa bình cùng các tín ngưỡng khác trong tiến trình lịch sử địa phương. Phật giáo Kiên Giang đã đồng hành với các dân tộc, phát huy truyền thống tương thân tương ái, giúp nhau vượt qua khó khăn thử thách trong quá trình khai hoang, lập ấp. Trong khuôn khổ bài viết, tác giả đề cập đến những đóng góp của Phật giáo Kiên Giang đối với sự nghiệp chống giặc ngoại xâm và xây dựng quê hương Kiên Giang.

CÙNG NHÂN DÂN CHỐNG GIẶC GIỮ NƯỚC 

Phật giáo đã hòa mình vào dòng chảy chung của các dân tộc ở Kiên Giang trong quá trình khai mở vùng đất nơi đây. Đồng thời, Phật giáo còn dung hợp với những mặt tốt đẹp của tín ngưỡng truyền thống đã có từ lâu đời của nhân dân, giúp nhân dân an vui, hòa thuận là đạt tôn chỉ đồng hành của mình. Đối mặt với ách thống trị áp bức của chế độ thực dân và đế quốc, Phật giáo đã đồng hành cùng nhân dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc. Đã có không ít những   người con Phật  hy sinh anh dũng vì sự nghiệp bảo vệ cái thiện, chân lý của Đức Phật trước bạo tàn.

Năm 1882, trước ách áp bức bạo tàn của thực dân Pháp ở địa phương, Hòa thượng Tăng Phô (tự Trần Phổ) trụ trì chùa Láng Cát (Rạch Giá) đã vận động các vị Achar và bà con Phật tử, người cao tuổi có uy tín noi gương Nguyễn Trung Trực tham gia chống Pháp xâm lược. Hòa thượng đã vận động nhiều binh sĩ người Khmer tham gia nghĩa quân. Về sau bị giặc Pháp truy lùng,  Ngài lui về vùng bí mật ở Tà Pết. Tháng 6 năm 1894, Hòa thượng trở về chùa để tiếp tục gây dựng phong trào thì bị mật thám Pháp vây bắt, tịch thu tài liệu và kết án tù chung thân lưu đày đi Côn Đảo cùng với 22 người khác là Phật tử Ban Quản trị chùa Láng Cát và một số nghĩa quân của tướng quân Đào Công Bửu. Lúc này Hòa thượng đã 65 tuổi. Giặc còn truy bắt một số nghĩa sĩ khác tham gia phong trào.

Tháng 5/1894, Đại đức Chao Sắt – trụ trì chùa Phật Lớn (Rạch Giá), trở thành Hội phó Hội vận động nhân dân không hợp tác với Pháp. Viên Phòng nhì Pháp chỉ huy một tiểu đội lính đã bao vây chùa và bắt Đại đức, dùng cực hình tra tấn rồi đày ra Côn Đảo và đã hi sinh tại đó.

Hoà thượng Nam Huân sinh ngày 15/4/1899 tại xã Thới Quản, huyện Gò Quao, từ năm 1944 làm trụ trì chùa Tổng Quản. Hòa thượng đã khéo léo xây dựng cơ sở vững chắc phục vụ cách mạng trong suốt hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Ngài xây hai hầm bí mật để nuôi cán bộ hoạt động cách mạng và cất giấu vũ khí; khéo léo bố trí, tổ chức nhiều cuộc họp bí mật bàn kế hoạch chống giặc; giáo dục Tăng chúng cách thực hiện công tác binh vận và địch vận. Những hoạt động này đã giúp đỡ cách mạng, góp sức vào cuộc kháng chiến chống  thực dân Pháp và chống Mỹ.

Năm 1936 – 1938 ở Hà Tiên, nhiều tín đồ Phật giáo tham gia Hội Ái hữu do đảng viên Ngô Tám lãnh đạo. Hội tổ chức từng nhóm 3 đến 5 người hỗ trợ nhau vượt qua khó khăn trong cuộc sống, rèn luyện sức khỏe, bản lĩnh chính trị với các hoạt động như luyện tập võ nghệ, công khai đọc báo Đảng, đọc thời sự trong và ngoài nước, hát ca ngợi nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh… Những hoạt động sôi động này đã khích lệ tinh thần yêu nước và rèn sức khỏe trong nhân dân, giúp hiểu hơn đường lối chính sách của Đảng và của Mặt trận Dân chủ Đông Dương.

Ở chùa  Sắc tứ Tam Bảo Rạch Giá, sau khi Hội Phật học Kiêm tế và Tạp chí Tiến Hóa bị đình chỉ vào tháng 6 năm 1941, Sư Thiện Ân và Hòa thượng Thích Trí Thiền cùng nhiều Phật tử tiếp tục tổ chức đầu mối giao thông mật, cất giấu vũ khí từ U Minh chuyển về rồi phân đi các tỉnh. Mật thám Pháp bao vây chùa,tịch thu một số tạc đạn và vũ khí, chúng tử hình Sư Thiện Ân và đày Hòa thượng Thích Trí Thiền ra nhà lao Côn Đảo. Hòa thượng hy sinh vì tuyệt thực, những người liên quan đều bị kết án tù.

Năm 1945, nhà giáo yêu nước Nguyễn Ngọc Lầu được hậu thuẫn của tỉnh trưởng Hà Tiên Tạ Trung Cang, đi khắp các làng kêu gọi thanh niên tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong bằng nội dung “Tây thua, Nhật xính vính, Mỹ còn ở tít đâu đâu, trộm cướp nhen nhóm các nơi, ta phải tổ chức thành đoàn thể…”. Phong trào được sự ủng hộ của nhiều gia đình, nhiều tín đồ Phật tử và tăng chúng trẻ đã ghi danh tham gia, đẩy phong trào phát triển rầm rộ, ở đâu cũng có sân tập võ nghệ, rèn vũ khí, làm gươm giáo, kéo cổ phảng thành thanh kiếm, không khí đánh giặc dâng cao.

Phật tử Hồng Liên thế danh Cam Thị Nam (cô Hai Nàm) sinh năm 1896, dân tộc Hoa, quê ở tỉnh Sóc Trăng đến trông coi chùa Tiên Sơn (thành phố Hà Tiên) một mình. Năm 1946, Hồng Liên hoạt động cách mạng bí mật, che giấu cán bộ trong vùng tạm chiếm kháng Pháp. Ngày 29/4/1948, bà bị địch phát hiện và tử hình tại Bến Cầu (chợ cá Hà Tiên cũ). Chúng trả thù bằng cách thả xác bà trôi sông.

Hòa thượng Thích Chí Hòa, thế danh Nguyễn Văn Tịnh, người quê Bà Rịa – Vũng Tàu, Ngài là người sáng lập và trực tiếp tổ chức cho một số nhà sư ở tịnh xá Chí Hòa (tên chùa Phật Đà, thành phố Hà Tiên lúc khai sơn) tham gia kháng chiến chống Pháp những năm 1950 – 1954. Sau đo kế hoạch bị lộ nên về quê và qua đời tại đấy.

Hòa thượng Thiền Quang, thuộc dòng Lâm Tế Gia phổ đời thứ 40, thế danh là Trần Văn Vạn, nguyên trụ trì chùa Phù Dung (Hà Tiên). Những năm 1951 – 1958, ông bí mật tham gia hoạt động cách mạng tại chùa. Năm 1959 tung tích ông bị lộ và bị giặc bắt tù đày, hy sinh năm 1961 ở nhà lao Côn Đảo.

Đại đức Danh Tân (tên thường gọi Danh Chớp) sinh năm 1944, trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Định An, huyện Gò Quao. Năm 1972, ông về trụ trì chùa Láng Cát, được sự giác ngộ của ông Thạch Đông – nguyên Bí thư Huyện ủy Châu Thành, Trưởng Ban Khmer vận tỉnh Rạch Giá, Đại đức bí mật tham gia Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước, thường xuyên thu thập tin tức, nắm tình hình báo cho Hội và tổ chức Đảng. Năm 1976 Đại đức Danh Chớp hoàn tục, sau là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam [1].

Tại chùa Phật Lớn (Rạch Giá), lúc 17 giờ ngày 11/8/1948, thực dân Pháp và tay sai đã đưa 32 chiến sĩ cách mạng đang bị giam cầm tại khám lớn Rạch Giá ra chùa hành quyết cạnh ngôi chánh điện. Chúng trả thù cách mạng vì bị quân và dân Kiên Giang cùng lực lượng Quân khu 9 đánh thắng lớn trận Sóc Xoài (đây là trận thắng lớn thứ hai sau trận Tầm Vu ở đồng bằng sông Cửu Long) tiêu diệt 72 tên lính của quân đội Pháp, thu nhiều vũ khí, có cả cối 80 ly. Chứng kiến cảnh này ngay tại ngôi chùa Phật, tăng chúng vô cùng phẫn nộ. Để tri ân các vị liệt sĩ, một bia tưởng niệm được lập tại đây và nhà chùa đã tổ chức dâng hương mỗi khi đến ngày giỗ các liệt vị.

Đại đức Danh Hoi sinh năm 1951 tại Ấp Xà Xiêm (xã Bình An, huyện Châu Thành), học hết lớp 5 tiếng Khmer và lớp 4 tiếng Việt. Năm lên 14 tuổi, Đại đức xuất gia tại chùa Xà Xiêm Mới. Năm 20 tuổi, ông thọ giới Tỳ kheo với Hòa thượng Danh Dện, gia nhập vào Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước huyện Châu Thành. Đứng trước cảnh Ngụy quyền Sài Gòn đẩy mạnh đôn quân bắt lính trong tôn giáo, thực hiện chính sách ngu dân, mưu đồ xóa sổ dân tộc Khmer qua việc không cho học tiếng Khmer, không cho sử dụng tiếng Khmer trong giao tiếp, không cho tu học Phật pháp, làm lễ theo tập quán tín ngưỡng bản địa trái với Phật giáo,… Là người yêu nước ngoan đạo, Đại đức đảm nhận nhiệm vụ trước Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước huyện, tổ chức phát động phong trào thanh niên Sư sãi và thanh niên Phật tử biểu tình đấu tranh.

Rạng sáng ngày 10/6/1974, Đại đức cùng Đoàn thanh niên yêu nước xuống đường biểu tình. Khi đến dinh quận Kiến Thành thì bị quân đội chính quyền Sài Gòn xả súng vào đoàn biểu tình. Đại đức đang dẫn đầu đoàn bị trúng đạn ngã gục bên cạnh hàng rào kẽm gai, sau một lúc lấy lại sức lực, gắng sức bò lết để vượt qua hàng rào kẽm gai và hô to khẩu hiệu: “chư tăng chúng ta tiến lên, hãy tiến lên! Tiêu diệt bọn địch, thà hy sinh chứ không để dân tộc bị hủy diệt!”. Khẩu hiệu vang lên nhiều lần trong lúc bị trúng thêm 7 phát đạn vào mình, Đại đức ngã gục người trên rào kẽm gai, trút hơi thở cuối cùng vào lúc 10 giờ 35 phút. Cùng với Đại đức Danh Hoi, cũng đã có  thêm 03 vị sư khác là Đại đức Lâm Hùng sinh năm 1949 (Phó Trụ trì chùa Cù Là Cũ), Đại đức Danh Hom sinh năm 1950 (chùa Khlang Mương), Đại đức Danh Tấp sinh năm 1941 (Giảng sư chùa Gò Đất) đều là ủy viên Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước huyện Châu Thành, tỉnh Rạch Giá hứng chịu làn đạn của địch hi sinh kiên cường và 16 vị sư bị thương nặng, 12 vị bị thương nhẹ. Nhân dân lập tháp thờ các sư ở chùa Cù Là, thường được gọi là “Tháp Bốn Sư liệt sĩ” [2].

Những hy sinh kể trên dù chỉ là một số ít trong hàng triệu người con đất Kiên Giang đã cống hiến hy sinh cho đến ngày cuộc kháng chiến toàn thắng, nhưng đó là những bông hoa đẹp trong vườn hoa hộ quốc an dân trên khắp cõi Việt Nam trong thời khói lửa.

GÓP PHẦN XÂY DỰNG QUÊ HƯƠNG KIÊN GIANG 

Từ khi du nhập vào vùng đất mà ngày nay là Kiên Giang, Phật giáo đã tồn tại hòa bình cùng đạo Bà La Môn (sau này tại Ấn Độ gọi là Hindu giáo). Các di tích từ văn hóa Phù Nam đã cho thấy sự phát triển nhất định của Phật giáo tại đây. Nhiều tượng Phật, phù điêu, thẻ vàng khắc biểu tượng Phật giáo, triện, dấu, mộ táng, nền chùa đã được tìm thấy ở nhiều nơi, nhất là ở cảng cổ Ô Keo (người Pháp viết liền Aukeo, ta đọc thành Ok Eo – Óc Eo) [3]. Sau nhiều biến thiên lịch sử, vùng đất này trở thành vùng lưu không. Đồng bào Khmer đã hình thành cơ cấu tổ chức thành các phum, sóc sinh sống ở vùng gò cao, giồng cao, triền núi.

Trung tâm TTXH Phật Quang (huyện Hòn Đất) – nơi nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn tại Kiên Giang

Ở làng Vĩnh Lạc, người Khmer đã quần tụ với nhau để làm ăn sinh sống, bắt ong lấy mật, đóng thuyền bè, đánh bắt cá, săn bắt thú rừng và lập nên một xóm. Hòa thượng Rich-Thi-Chi (Riddhī Jaya đọc là Rit-Thi-Chy) quy tụ đồng bào Phật tử Khmer lập ngôi chùa Ang Kor Chum (Aṅgara Jum, Phật lịch năm 1956 – dương lịch năm 1412) trên một nền đất cát khô. Đầu tiên nền chùa chỉ được đắp đơn sơ, được dựng bằng gỗ và lá. Sau đó, chùa bị cháy và thú dữ phá hoại nên Hòa thượng cùng các Phật tử Khmer di dời đến địa điểm chùa ngày nay. Đến thời Đại đức Danh Hao trụ trì (năm 1950 – 1960), Ngài cho xây lại chánh điện, đúc tượng Phật và đổi tên chùa thành Ang Kor Chum Woong Xa (Aṅgara Jum Vaṅsā). Ngày nay chùa mang tên Ratanaraṅsī (Láng Cát). Tính từ thuở ban đầu đến nay, chùa đã qua 31 đời các vị Hòa thượng, Đại đức trụ trì. Người dân Kiên Giang tuổi từ trung niên ai cũng rõ bề dày lịch sử và sự độ thế của hàng tăng chúng và Phật tử ở ngôi chùa này [4].

Với tinh thần hộ quốc an dân, vào tháng 3/1937, dưới ngọn cờ cách mạng kêu gọi chống Pháp của Đảng, Đảng viên Cộng sản Trần Văn Thâu pháp danh Thiện Ân đã tranh thủ sự ủng hộ của quan tỉnh người Việt gồm: đốc phủ sứ, thông phán, trưởng tòa, chủ sự, cai tổng, thành lập Hội Phật học Kiêm tế. Hội do Hòa thượng Thích Trí Thiền (tục gọi Ông Đạo Đồng) trụ trì chùa Tam Bảo là Chánh Tổng lý của Hội, trụ sở đặt tại chùa Sắc tứ Tam Bảo (nay thuộc thành phố Rạch Giá). Tôn chỉ Hội thực hiện theo điều lệ do thống đốc Nam Kỳ phê chuẩn ngày 23/3/1937, trong đó nêu rõ mục đích:

“Lập Phật học để giáo hóa cho kẻ Tăng người tục. Có trường dạy giáo lý, y học, công nghệ và nông nghiệp.

Lập cô nhi viện, nuôi cơm, dạy học cho trẻ mồ côi.

Lập bệnh viện, coi mạch thí cho bệnh nhân nghèo.

Xuất bản Phật học tạp chí để truyền bá tinh thần cứu thế của Đạo Phật cho mọi chúng sanh.”

Các em nhỏ tham dự khóa tu mùa hè tại chùa Phật Quang – TP.Rạch Giá

Tiếp sau đó tháng 1/1938, Hội xuất bản Tạp chí Tiến Hóa phổ biến giáo lý Đạo Phật, về thế giới quan, nhân sinh quan, phê phán quan điểm duy tâm phản khoa học trong tôn giáo và trong đời sống xã hội. Tạp chí thu hút bạn đọc ở trong tỉnh cho đến các tỉnh thành trong cả nước như: Sài Gòn, Gia Định, Huế,… đồng thời còn vươn ra các nước lân cận như Thái Lan, Campuchia… Tạp chí góp phần giúp nhân dân nhận thức đúng cái mới, giữ gìn truyền thống dân tộc và thực hiện đời sống mới. Vì những hoạt động tiến bộ đó, đến giữa năm 1939 tạp chí bị chính quyền thực dân Pháp đình chỉ hoạt động.

Một tấm gương khác là Hoà thượng Nam Huân, Ngài vừa vận động tu bổ chùa, vừa chấn chỉnh nề  nếp và đào tạo hàng trăm Tăng chúng, khuyến khích nhiều người tích cực tham gia cách mạng. Với những công lao và thành tích trên, các vị Hoà thượng Nam Huân, Danh Song, Danh Tôn vinh dự được Chủ tịch nước tặng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhất, chùa Tổng Quản được cấp Bằng công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia.

Ngoài chùa Tổng Quản, trong tỉnh còn có chùa  Sóc Xoài, chùa  Sắc tứ Tam Bảo, chùa Phật Lớn và chùa Láng Cát đã được Nhà nước công nhận Di tích lịch sử cấp Quốc gia. Mỗi ngôi chùa là một câu chuyện về đấu tranh chống giặc, giữ gìn Phật pháp.

Từ khi thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam năm 1981 đến nay, nhiệm kỳ HĐND nào ở tỉnh Kiên Giang cũng đều có đại diện Phật giáo các cấp trong tỉnh tham gia làm đại biểu dân cử. Trong ngôi nhà chung Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh, Phật giáo Kiên Giang đã đồng hành cùng 10 tôn giáo khác trong tỉnh vượt qua nhiều thách thức, hướng đến tương lai bền vững, thường xuyên tham vấn lẫn nhau, cùng đồng hành tu tập tinh tấn, cùng thực hiện, hoàn thành các phong trào quần chúng theo chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước và chương trình do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khởi xướng.

Ngày nay, các chùa chuyên tâm ổn định tổ chức, nhân sự, và tu tập. Công tác từ thiện xã hội nổi bật hơn so với các đơn vị trong khu vực với các công trình nhà nuôi dạy trẻ, quỹ đền ơn đáp nghĩa, hỗ trợ học sinh và người khó khăn, xây nhà đại đoàn kết, đề cử và trực tiếp mở lớp đào tạo Tăng Ni, tổ chức các lớp dạy Pāli – kinh luận giới Phật học – chữ Khmer dịp hè tại các chùa trong tỉnh, giải quyết các bất đồng, cùng tiến tới “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa Xã hội”. Ban Trị sự  Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh xây dựng và thực hiện đầy đủ nội quy, quy chế hoạt động. Tổ chức họp Tăng sự  định kỳ hàng tháng vào ngày mùng 2 âm lịch dành cho trụ trì các tự viện, giúp các chùa kịp thời nắm bắt thông tin cần thiết, nhanh chóng phổ biến thông tin đến tín đồ chủ trương mới của Đảng, Nhà nước và Giáo hội. Tham gia xử lý các trường hợp “sư giả” khất thực làm ảnh hưởng hình ảnh Phật giáo và những trường hợp làm trái chủ trương Phật giáo.

Thông qua Ban Từ thiện xã hội, Phật giáo Kiên Giang đã hưởng ứng tham gia đóng góp Quỹ Vì người nghèo, tặng quà hàng năm cho các gia đình chính sách và người có công với cách mạng, phát quà trung thu cho thiếu nhi, tiếp sức mùa thi, bếp ăn từ thiện, khám chữa bệnh miễn phí. Chỉ tính riêng trong Khóa IX, Phật giáo Kiên Giang đã vận động từ thiện xã hội trong và ngoài tỉnh được con số ấn tượng 334.719.949.000 đồng. Trung tâm Từ thiện xã hội Phật Quang qua 19 năm hoạt động đã nuôi dạy hơn 1.000 trẻ, đã có gần 100 em được lo ăn học tại các trường đại học, cao đẳng và trung cấp trong và ngoài tỉnh (hơn 50 em đã bước chân vào đời một cách vững chắc) [5].

Nhiều ngôi chùa đã thường xuyên tổ chức “Lễ Hằng thuận” cho các lứa đôi có sự chứng kiến của các vị Tăng Ni  đạo cao đức trọng. Hàng Tăng Ni các chùa đã phát huy giáo lý Phật giáo, giáo dục mọi người làm kinh tế chân chính, không vi phạm pháp luật, tuân theo chuẩn mực đạo đức xã hội, hướng đến cuộc sống viên mãn với “chân – thiện – mỹ”, góp phần vào phát triển kinh tế bền vững trong tỉnh. Những hoạt động văn hóa du lịch tâm linh nở rộ gần đây hứa hẹn nhiều tiềm năng kinh tế khi người dân có cuộc sống đầy đủ, kinh tế ổn định.

Có thể nói, nhìn lại quá trình hộ quốc an dân của Phật giáo Kiên Giang, chúng ta thấy ngay từ đầu Phật giáo đã có những vị cao Tăng xông pha đến những vùng đất xa lạ để giáo hóa chúng sinh, các tầng lớp Tăng Ni, Phật tử sẵn sàng cứu dân độ thế không phân biệt  sơn môn, hệ phái; sự phù trợ phân bố rộng khắp và rải đều trong toàn tỉnh; những cống hiến và hy sinh đều xuất phát từ lợi ích chính đáng của mọi người. Có nhiều hình thức đấu tranh đa dạng và sáng tạo, từ đấu tranh trực diện chính trị cho đến lĩnh vực văn hóa, có quyết tâm cao và cống hiến bền bỉ lâu dài để đi đến thắng lợi cuối cùng. Xã hội ngày càng hội nhập và phát triển, bên cạnh một số vấn đề xã hội cần được tiếp tục nghiên cứu giải quyết thì nhiều truyền thống tốt đẹp vẫn còn đó và tiếp tục được thế hệ ngày nay và mai sau duy trì. Phật giáo đã, đang và sẽ đóng góp ngày một nhiều hơn cho công cuộc hộ quốc an dân của  quê hương Kiên Giang nói riêng và Việt Nam nói chung, bằng cách tham gia điều chỉnh hành vi xã hội con người, theo hướng hoàn thiện bản thân, hoàn thiện gia đình và xã hội./.

 

Chú thích:

*Thạc sĩ Tôn giáo học.

 

[1] Sở Văn hóa – Thông tin Kiên Giang (1999), Kiên Giang di tích và danh thắng, NXB.Chính trị Quốc gia, tr.38.
[2] Sở Văn hóa – Thông tin Kiên Giang (1999), Sđd, tr.38-42.
[3] Lương Ninh (2006), Nước Phù Nam, Nxb. ĐHQG TP HCM.[4] Sở Văn hóa – Thông tin Kiên Giang (1999), Sđd, tr.36-37.
[5] Văn kiện đại hội đại biểu Phật giáo tỉnh Kiên Giang lần thứ IX
(nhiệm kỳ 2017 – 2022), Báo cáo tổng kết hoạt động Phật sự khóa VIII
nhiệm kỳ 2012 – 2017, tr.22.
Tư liệu lịch sử chùa Ratanaransī Láng Cát, 1994 Tư liệu lịch sử Đấu tranh cách mạng của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước tỉnh Kiên Giang, 1980

Trả lời