Phật giáo thời Trần đồng hành cùng dân tộc (ĐĐ. Thích Thiện Mãn)

Vang vọng Hào khí Đông A – Lễ dâng hương báo công Đức Thánh Trần” năm Kỷ Hợi 2019. (Nguồn: thegioidisan.vn)

Trong suốt chiều dài lịch sử Phật giáo Việt Nam, Phật giáo thời Trần đã phát triển cực thịnh với sự ra đời Phật giáo Nhất tông (Thiền phái Trúc Lâm) mang đậm bản sắc Việt. Thiền phái đã góp phần vào việc phát triển đạo pháp và kiến thiết quốc gia Đại Việt hùng cường mang tính vững bền, phù hợp với xu hướng phát triển của dân tộc. Phật giáo thời Trần vừa giúp thức tỉnh con người tu tập sống đạo đức, vừa hun đúc nên nền văn hiến Đại Việt sáng ngời lịch sử dân tộc

SỰ HÌNH THÀNH THIỀN PHÁI TRÚC LÂM THỜI TRẦN

Sau khi giành độc lập năm 938, trải qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý đất nước Đại Việt ngày một phát triển. Kế thừa sự nghiệp triều đại nhà Lý, Trần Cảnh lên ngôi tức vua Trần Thái Tông, khai sáng triều đại nhà Trần kéo dài 175 năm (1225-1400) tiếp tục phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực từ nông nghiệp, giáo dục, quân sự cho đến cả văn hóa tâm linh tín ngưỡng. Thăng Long – kinh đô của đất nước, trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, tôn giáo, phồn thịnh với 61 phố phường. Cả dân tộc sống trong hào khí Đông A hào hùng, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân trong đời sống sinh hoạt hằng ngày cũng như trong kháng chiến chống Nguyên – Mông xâm lược “vua tôi đồng lòng, anh em hòa thuận, cả nước góp sức” [1]. Lúc bấy giờ, sự ra đời Thiền phái Trúc Lâm – một thiền phái mang đậm bản sắc dân tộc qua việc hợp nhất các thiền phái như Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, và Thảo Đường tạo nên một Phật giáo Nhất tông: “Phật giáo Trúc Lâm – một nền Phật giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hóa Việt Nam độc lập. Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình” [2]. Phật giáo Đại Việt thời Trần là Phật giáo nhập thế với tinh thần “tùy duyên bất biến”, đồng hành cùng dân tộc vượt qua bao khó khăn thử thách. Ba vị thiền gia đặt nền tảng (Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng sĩ và Trần Thánh Tông) và ba vị Tổ sư (Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang) đã góp phần trong việc giáo dục nhân sinh, bảo vệ bờ cõi và phát triển đạo pháp mang đậm bản sắc dân tộc Đại Việt.

TỔ CHỨC PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

Về phương diện xã hội, một số chính sách của nhà Trần chịu ảnh hưởng của Phật giáo và có tác động tích cực đến công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Vua Trần Nhân Tông có ý muốn xây dựng một nền đạo đức Phật giáo làm nền tảng cho xã hội Đại Việt, hình thành những mẫu người Phật tử lý tưởng bảo vệ đất nước. Trong đó, mỗi người đều nhận thức rằng yêu nước chính là yêu đạo, yêu gia đình, yêu cha mẹ vợ con. Khi đạo đức con người hoàn thiện thì đất nước hưng thịnh bền vững. Trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn nhận xét rằng: “Nhà Trần đãi kẻ sĩ một cách khoan dung, không hẹp hòi, hòa vị mà có lễ phép, cho nên nhân sĩ thời ấy ai cũng biết tự lập, anh hào tuấn vĩ, vượt ra ngoài lưu tục, làm cho quang vinh cả sử sách, không thẹn với trời đất” [3]. Những năm mất mùa, nhiều người bệnh tật, triều đình khuyến cáo những nhà giàu góp thóc gạo để cấp tế, phát thuốc cho người bệnh. Năm 1262, vua Nhân Tông ngự ở phủ Thiên Trường, nhân dân ai đói hay bệnh có thể đến đấy xin hai viên thuốc Hồng Ngọc Sương, hai tiền và hai thăng gạo [4]. Hẳn đây là trường hợp hiếm hoi vị quân vương của một nước thể hiện tinh thần khoan dung, thương người như thể thương thân rất mực chan hòa.

Tổ chức Phật giáo thời Trần thống nhất từ Trung ương đến các địa phương. Mọi công tác Phật sự do các Tổ Trúc Lâm điều hành, đặt trụ sở tại chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang). Các Ttăng sĩ nhà Trần được vua Anh Tông cấp điệp vào năm 1308, thông qua các công tác kiểm tăng, cấp điệp, thi sát hạch Tăng Ni nhằm trang nghiêm Giáo hội, đạo pháp trường tồn và đất nước hưng thịnh. Công tác quản lý Tăng Ni, tự viện hàng năm được kiểm tra thống kê, cấp thẻ theo một quy định cụ thể.

Thông qua bài Phổ thuyết sắc thân, Trần Thái Tông khuyến cáo con người nhận thức về sự thật vô thường để bước ra thế giới khổ đau do tự thân chiêu cảm: “Hỡi các người, thân là gốc khổ, chất ấy là nghiệp nhân; nếu tự coi thân đó quả là chân, tức là đã nhận kẻ thù làm ruột thịt” [5], tổ chức các khóa tu, hành thiền, sám hối,…Tinh thần tùy duyên nhập thế được vận dụng tích cực khi Trần Nhân Tông chủ trương xây dựng hệ thống Thiền – Giáo song hành. Cụ thể trong buổi lễ truyền y bát và ấn chứng cho Pháp Loa làm đệ nhị Tổ, Trần Nhân Tông đã trao 20 hộp kinh điển Phật giáo, cùng 100 hộp kinh điển ngoại thư và dặn dò phải mở rộng việc học nội điển cũng như ngoại điển.

Nhị Tổ Pháp Loa thực hiện các Phật sự do Sơ Tổ giao phó, trong 22 năm hoạt động, đã tổ chức 13 giới đàn, đệ tử xuất gia khoảng 15.000 người và đệ tử đắc pháp khoảng 3000 người [6]. Tổ Pháp Loa đã có công trong việc xây dựng Giáo hội Trúc Lâm và kêu gọi mọi người chích máu in Đại tạng kinh Việt Nam (ấn bản đầu tiên là 5000 bản). Để đáp ứng nhu cầu tu học của Tăng Ni và Phật tử, Tổ Pháp Loa đã khai sơn các ngôi chùa, xây bảo tháp, kiến tạo 200 tăng xá. Pháp Loa cũng chú trọng việc thuyết giảng kinh điển Đại thừa, mở được 18 khóa giảng, tạo nên phong trào học và thực hành giáo lý nhà Phật. Các  khóa niệm cầu an, cầu siêu chẩn tế cũng được tổ chức. Năm 1320, sư Pháp Loa tổ chức trai đàn chẩn tế ở chùa Phổ Minh trong cung để cầu cho thượng hoàng Anh Tông sống trường thọ. Các bài thơ văn thiền học đời Trần (Khóa hư lục, Phật tâm ca, Cư trần lạc đạo phú, Vịnh vân yên tự phú, …) mang chất thiền vị góp phần vào việc giáo dục con người, phụng sự lý tưởng hòa bình của dân tộc và nhân loại, chứa đựng những ý tưởng thân thiện, hòa ái [7]. Rất tiếc nhiều sáng tác này đã bị nhà Minh thiêu hủy.

Theo Tam Tổ thực lục, Sơ Tổ Trần Nhân Tông đã “đi khắp các chốn thôn quê, trừ bỏ dâm từ và dạy dân thực hành thập thiện” [8]. Với chủ trương “hòa quang đồng trần” của Tuệ Trung Thượng sĩ: “Ở trong trần tục mới thấy có bậc Thánh giác ngộ ở đời” [9] giúp mọi người thay đổi cách tư duy về đức Phật, qua đó tác động thay đổi sinh hoạt Phật giáo. Tinh thần nhập thế được thể hiện rất cao qua bài phú Cư trần lạc đạo của Trần Nhân Tông: “Cư trần lạc đạo hãy tùy duyên. Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền. Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm. Vô tâm trước cảnh, hỏi gì thiền” [10].

MỘT SỐ TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU TRONG VIỆC GIÁO DỤC PHẬT GIÁO THỜI TRẦN

Vâng theo lời khuyên của Quốc sư Viên Chứng: “Phàm làm đấng quân vương thì phải lấy ý muốn thiên hạ làm ý muốn của mình, lấy tấm lòng thiên hạ làm tấm lòng của mình” [11], vua Trần Thái Tông (1218-1277) đã quay về kinh thành Thăng Long vừa làm vua, vừa dành thời gian tu tập. Ông cũng bảo rằng: “Nhà chính trị phải thực hiện Đạo Phật trong xã hội” [12]. Quan điểm của vua Trần Thái Tông là Phật tại tâm, đã tạo niềm tin cho mọi người tu học Phật giáo, không phân biệt tăng hay tục, nam hay nữ, bất cứ thành phần nào trong xã hội, ai cũng có thể là thành viên của Thiền phái. Chùa không chỉ là nơi thờ tự, mà trở thành nơi học tập, trau dồi đạo đức văn hóa toàn dân. Trong Khóa hư lục, vua Trần Thái Tông đã nêu lên quan điểm tu đạo “thiền – tịnh song hành” trên lộ trình tu tập trở về với chân tâm [13].

Tuệ Trung (1230-1291) là một võ tướng, thiền gia và thi sĩ của lịch sử Việt Nam. Bài Phật tâm ca đã toát lên tư tưởng của Thượng sĩ: “Phật, Phật, Phật, bất khả kiến! Tâm, tâm, tâm, bất khả thuyết! Nhược tâm sinh thời thị Phật sinh. Nhược Phật diệt thời thị tâm diệt. Diệt tâm tồn Phật thị xứ vô. Diệt Phật tồn tâm hà thời yết” [14]. Tư tưởng hòa quang đồng trần của Tuệ Trung nhắc nhở cho giới tu sĩ cũng như Phật tử sống hòa mình vào cuộc đời.

Vua Trần Thánh Tông (1240-1290) giáo dục con người là thức tỉnh con người vạn pháp giai không, Phật Thánh và chúng sanh đều không có sự phân biệt: “Phật cũng không, chừ người cũng không” [15]. Vua cũng cảnh tỉnh mọi người đối với việc sanh tử: “Sống như mặc áo. Chết tựa trút ra. Xưa nay chẳng qua. Một con đường ấy” [16].

Sơ tổ Trần Nhân Tông (1278-1293) đi khắp thôn quê, khuyên dân thực hành thập thiện, sống tự tại giữa trần thế, thanh nhàn với đạo: “Bụt ở trong nhà. Chẳng phải tìm xa. Nhân khuấy bổn nên ta tìm Bụt. Đến mới hay chính Bụt là ta” [17]. Sơ Tổ đã khích lệ mọi người từ tu sĩ đến cư sĩ hãy sống hòa mình vào cuộc đời, vui với đạo qua bài Cư trần lạc đạo phú. Nhị tổ Pháp Loa (1284-1330) có công trong việc xây dựng Giáo hội Trúc Lâm thống nhất hoạt động từ Trung ương đến địa phương, kêu gọi việc in ấn Đại tạng kinh Việt Nam, soạn thảo giáo lý, xây chùa tháp,… tạo tiền đề cho việc hoằng pháp cũng như giáo dục Phật Giáo thời bấy giờ. Khi lui về ở ẩn nơi chùa Hoa Yên (núi Yên Tử), Tổ Pháp Loa về thăm quê hương, xây chùa làng, mở pháp hội bố thí cho người nghèo [18],…

Tác phẩm của tam Tổ Huyền Quang (1254-1334) như Chư phẩm kinh, Công văn tập,… đóng góp cho việc giáo dục con người thời Trần bấy giờ. Tam Tổ cũng chủ trương Phật giáo không gắn quyền lợi triều đình mà gắn liền với dân chúng trong sự bình an với tinh thần vô trụ, vô ngã.

Tóm lại, Giáo hội Trúc Lâm thời Trần đã xây dựng một tổ chức Phật giáo vững mạnh trên mọi phương diện, làm cơ sở vững chắc cho văn hóa tinh thần của dân tộc nói chung và của Phật giáo nói riêng cho đến ngày nay. Tinh thần giáo dục của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần đã góp phần vào việc xây dựng đạo pháp và phát triển dân tộc. Hòa thượng Thanh Từ đã tiếp biến sự phát triển Thiền phái Trúc Lâm đó bằng việc hình thành và phát triển các thiền viện tu học từ Bắc vào Nam, mở các khóa tu thiền, các lớp giáo lý cũng như hoằng pháp các nơi trong và ngoài nước, đem ánh sáng Phật pháp đến mọi người, góp phần vào việc xây dựng văn hóa đạo đức con người cũng như phát triển nước nhà trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay.

 

Chú thích:

[1] Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (1995), Các triều đại Việt Nam, Nxb. Thanh niên, tr.94.
[2] Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Nxb. Văn học, tr.376.
[3] Nguyễn Lang (2000), Việt Nam Phật giáo sử luận, tập 1, Nxb. Văn học, tr.391.
[4] Thích Đồng Bổn (2006), Vai trò chính trị của các Tăng sĩ Phật giáo ở thời đại Lý – Trần, Nxb. Tôn giáo, tr.74.
[5] Viện văn học (1989), Thơ văn Lý – Trần, tập 2, Nxb. KHXH, tr.54.
[6] Thích Phước Đạt (2013), Giá Trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm, Nxb. Hồng Đức, tr.84.
[7] Thích Giác Toàn (2010), Những sáng tác văn học của các thiền sư thời Lý – Trần, Nxb. Tổng hợp TP.HCM, tr.199.
[8] Thích Phước Sơn (1995), Tam Tổ thực lục, Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam, tr.20.
[9] Nhiều tác giả (2010), Phật giáo đời Trần, Nxb. Tôn giáo, HN, tr.345.
[10] Viện Văn học (1989), Thơ văn Lý – Trần, tập 2 (quyển thượng), Nxb. KHXH, tr.510.
[11] Lê Mạnh Thát (1999), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3, Nxb. Tổng hợp TP.HCM, tr.478.
[12] Thích Đồng Bổn (2006), Vai trò chính trị của các Tăng sĩ Phật giáo ở thời đại Lý – Trần, Nxb. Tôn giáo, tr.66.
[13] Nhiều tác giả (2010), Phật giáo đời Trần, Nxb. Tôn giáo, tr.442.
[14] https://www.thivien.net
[15] Thích Phước Đạt (2013), Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm, Nxb. Hồng Đức, tr.59.
[16] Thích Phước Đạt (2013), Giá trị văn học trong tác phẩm của Thiền phái Trúc Lâm, Nxb. Hồng Đức, tr.59.
[17] Nhiều tác giả (2010), Phật giáo đời Trần, Nxb. Tôn giáo, tr.304.
[18] Bồ Đề Tân Thanh – Nguyễn Đại Đồng (2012), PGVN từ khởi nguyên đến 1981, Nxb. Văn học, tr.138.

 

Trả lời