Kỳ 6: Giai đoạn 1 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (HT. Thích Huệ Thông)

 

Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Văn hóa Phật Giáo trân trọng trích đăng các bài viết thuộc tác phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam: 40 năm hình thành và phát triển của Hòa thượng Thích Huệ Thông. Các bài viết được sắp xếp và biên tập để cung cấp cho độc giả gần xa biết về những khó khăn, thách thức và nỗ lực không ngừng nghỉ của bao thế hệ chư Tôn đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong suốt nhiều năm, nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Cách nay 40 năm, Đại hội Thống nhất Phật giáo toàn quốc thành công mỹ mãn và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trở thành sự kiện lịch sử trọng đại của Phật giáo Việt Nam, ghi đậm nét son vàng trên trang sử Phật giáo nước nhà thời hiện đại, điều này thể hiện trọn vẹn sứ mạng thống nhất các tổ chức hệ phái Phật giáo trong cả nước quy về một mối, trở thành một tổ chức Giáo hội Phật giáo duy nhất tại Việt Nam sau hơn một ngàn năm phân tán và hoạt động rời rạc. Sự kiện này đánh dấu bước khởi đầu công cuộc xây dựng và củng cố cơ sở Giáo hội, kể từ đây Giáo hội Phật giáo Việt Nam dưới sự lãnh đạo của chư Tôn túc Trưởng lão Hội đồng Chứng minh và được sự điều hành của chư Tôn giáo phẩm Hội đồng Trị sự, thực sự trở thành chiếc la bàn dẫn đường đưa Phật giáo Việt Nam từng bước vượt qua những gập ghềnh trắc trở, là kim chỉ nam giúp cho toàn thề Phật giáo đồ vững bước trên con đường đạo pháp, đóng góp công sức vì lợi ích dân tộc.

Nhìn lại quá trình hình thành, ổn định và phát triển của Phật giáo Việt Nam trong suốt 40 năm qua, trên tinh thần hòa hợp, đoàn kết, vận dụng trí tuệ tập thể, phát huy tính sáng tạo, chúng ta dễ dàng nhận thấy Phật giáo Việt Nam thật sự lớn mạnh trên nhiều phương diện, đạt được kết quả khả quan trong hầu hết các lĩnh vực Tăng sự, giáo dục, hoằng pháp, văn hóa, từ thiện xã hội, thông tin truyền thông, quan hệ quốc tế…; đời sống sinh hoạt tu học của Tăng, Ni, Phật tử ngày càng được nâng cao; cơ sở thờ tự và hệ thống giáo dục Phật giáo ngày càng được xây dựng khang trang, hiện đại; Tăng, Ni, Phật tử được tạo điều kiện ra nước ngoài học tập hay thuyết giảng; các đạo tràng tu học Phật pháp được tổ chức quy củ, phát triển rộng khắp mọi miền đất nước; chất lượng tu học của Tăng, Ni, Phật tử và hoằng pháp lợi sanh ngày càng được nâng cao; công tác từ thiện đóng góp thiết thực vào đời sống an sinh xã, hội nhất là trên mặt hoạt động đối ngoại, thông qua các hội nghị, hội thảo quốc tế đã không ngừng nâng cao vị thế Phật giáo trong lòng dân tộc, trên trường quốc tế. Những thành tựu vượt bậc này là nền móng cho sự phát triển bền vững của Giáo hội, đồng thời là cơ sở vững chắc để tăng cường niềm tin đạo pháp của Tăng, Ni và Phật giáo đồ trong và ngoài nước. Tính từ ngày thành lập đến nay, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã trải qua 8 nhiệm kỳ, với ba giai đoạn lịch sử gánh vác trọng trách lãnh đạo điều hành của Hội đồng Trị sự. Theo dòng thời gian, sự ổn định và phát triển của Giáo hội ngày càng vững chắc, thể hiện qua những thành tựu Phật sự trong mỗi nhiệm kỳ. Điều này minh chứng cho chủ trương đúng đắn của Giáo hội, tinh thần hòa hợp đoàn kết của chư Tôn đức Tăng, Ni và tinh thần phát huy sáng tạo, sâu sát thực tiễn và đổi mới phù hợp trong điều hành Phật sự của chư Tôn đức lãnh đạo Hội đồng Trị sự qua từng nhiệm kỳ và qua từng giai đoạn lịch sử.

CÁC HOẠT ĐỘNG TIÊU BIỂU TRONG GIAI ĐOẠN I (1981-1987)

Giai đoạn thứ nhất trên chặng đường 40 năm hình thành, ổn định và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam gói gọn trong nhiệm kỳ I ((1981-1987).

Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981 đã chính thức quy tụ tất cả Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo trong cả nước về một mối thống nhất, hoạt động dưới sự lãnh đạo tối cao của chư Tôn đức Trưởng lão trong Hội đồng Chứng minh và dưới sự điều hành của chư Tôn đức trong Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, trên cơ sở phương châm hành động từ bản Hiến chương đầu tiên của Giáo hội.

Lời nói đầu của Hiến chương đã khẳng định: “Sự thống nhất này xây dựng trên nguyên tắc: Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức. Tuy nhiên, các truyền thống hệ phái cũng như các pháp môn và phương tiện tu hành đúng chánh pháp đều được tôn trọng, duy trì… Lý tưởng giác ngộ chân lý hòa hợp chúng, hòa bình và công bằng xã hội của giáo lý Đức Phật, nhằm phục vụ dân tộc, Tổ quốc và nhân loại chúng sinh là lập trường và mục đích của Giáo hội Phật giáo Việt Nam… Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức Phật giáo duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam về mọi mặt quan hệ ở trong nước và ngoài nước… Giáo hội Phật giáo Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Có thể nói rằng, từ nền tảng ban đầu này, Hiến chương Giáo hội đã vạch ra đường lối, phương châm hành động một cách nhất quán xuyên suốt quá trình 40 năm hình thành, ổn định và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Dù qua mỗi nhiệm kỳ, Hiến chương có những bổ sung cần thiết nhằm phù hợp với yêu cầu thời đại, nhưng bản chất của Hiến chương vẫn không hề thay đổi. Tại Đại hội Đại biểu thống nhất Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất (1981), chư Tôn đức lãnh đạo các tổ chức hệ phái cùng toàn thể Đại biểu đã cung nghinh, suy tôn Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp chủ đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam và cung thỉnh, suy cử Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đức Pháp chủ Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận là bậc cao Tăng uy đức, khả kính của toàn thể Phật giáo đồ Việt Nam. Khi Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam được thành lập tại miền Bắc (3/1958), Ngài được chư Tôn đức giáo phẩm cung thỉnh, suy tôn làm Phó Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam và đảm nhiệm ngôi vị này liên tục qua bốn kỳ đại hội, cho tới năm 1979. Cũng trong năm 1979, khi Hòa thượng Thích Trí Độ – Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam viên tịch, Ngài được chư Tôn đức giáo phẩm cung nghinh, suy tôn làm Quyền Hội trưởng Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam cho đến năm 1981, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập. Đặc biệt vào năm 1980, khi Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam ra đời, chư Tôn đức các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái tín nhiệm cung thỉnh Ngài làm Chứng minh Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam, trong thời gian này, Ngài đã vào lưu trú tại chùa Vĩnh Nghiêm (TP.HCM) trong suốt một năm để cùng Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam đi thăm hỏi, trao đổi, bàn bạc với lãnh đạo các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo tại các tỉnh phía Nam để thực hiện việc thống nhất Phật giáo. Cho đến tháng 11 năm 1981, tại Hội nghị Đại biểu thống nhất Phật giáo Việt Nam diễn ra tại chùa Quán sứ, Hà Nội để thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Ngài được toàn thể Đại hội cung nghinh, suy tôn vào ngôi vị Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Đức Pháp chủ Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận là bậc chân tu phạm hạnh, giới đức uy nghiêm, Ngài thuộc đời pháp thứ 44 Tông Tào Động, bình sinh Ngài thường dạy đệ từ: “…Con đường tiến đến giải thoát chỉ có giới – định – tuệ; đầu tiên, giới đã không đầy đủ thì định, tuệ không phát được. Giới có bốn khoa: Giới pháp, giới thể, giới hành và giới tướng. Giới pháp là Phật xem căn cơ của chúng sinh có lỗi lầm gì thì chế ra giới ấy để trị. Giới thể là thầy trò theo giới pháp ấy mà truyền thụ cho nhau, giới hành là thụ giới xong y theo đó mà tu hành, giới tướng là những tướng riêng biệt, như ngũ giới thì sát, đạo, dâm, vọng, và ẩm tửu, mỗi thứ có tướng riêng. Bây giờ, các Hòa thượng trong các đàn truyền giới nên để ý nghiên cứu kỹ, không khéo thành ra giáo lý cao siêu như thế, hay như thế mà kết quả không được mấy vì mình làm không đúng, vì mình không nhận được chân tâm” [1]. Ngài một đời chuyên tâm dụng công theo pháp thiền “Phản văn, văn tự tính” [2] của Bồ tát Quán Thế Âm, từ thọ dụng công phu khai ngộ Phật tính, đến cuối đời Ngài có làm bài kệ: “Một niềm xoay lại đối tính nghe/ Muôn sự buông xuôi chỉ lắng nghe/ Nghe lắng cho sâu không nghe cảnh/ Cảnh rời, văn tính chính Tính nghe” [3].

Chúng tôi trình bày về công hạnh của Ngài để tất cả Phật giáo đồ Việt Nam chúng ta cùng cảm nhận niềm vinh dự, phấn khởi và tự hào vì chúng ta có được một Đức Pháp chủ chân tu, trang nghiêm vẹn toàn giới đức và trí tuệ trong thời kỳ đầu hình thành ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận giữ ngôi vị Pháp chủ từ khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam được thành lập cho đến khi Ngài viên tịch (thọ 84 tuổi) vào năm 1993… Qua đây, chúng tôi mạo muội cho rằng, Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận trên cương vị Pháp chủ, Ngài chính là linh hồn của Giáo hội trong thời kỳ đầu Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa mới thành lập.

Trong nhiệm kỳ I (1981-1987), Đại hội đã suy tôn Hội đồng Chứng minh và suy cử Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong thành phần nhân sự lãnh đạo Trung ương Giáo hội tại nhiệm kỳ I (1981-1987) tóm lược như sau: Về Hội đồng Chứng Minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 50 vị Hòa thượng, Trưởng lão tiêu biểu của các Giáo hội và hệ phái, trong đó đứng đầu Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hòa thượng Thích Đức Nhuận làm Pháp chủ và các vị Phó Pháp chủ, trong đó Trưởng lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu làm Phó Pháp chủ kiêm Giám luật…

Về Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 49 vị Hòa thượng, Trưởng lão tiêu biểu của các Giáo hội và hệ phái, trong đó đứng đầu Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Chủ tịch; cùng với 9 vị Phó Chủ tịch; trong đó nhị vị Hòa thượng Thích Thế Long và Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Phó Chủ tịch Thường trực… Về cơ cấu tổ chức, Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong nhiệm kỳ I (1981-1987), trong giai đoạn đầu, Giáo hội Phật giáo Việt Nam chỉ có 6 Ban chuyên ngành gồm có Ban Tăng sự Trung ương; Ban Giáo dục Tăng Ni; Ban Hướng dẫn Nam nữ cư sĩ Phật tử; Ban Hoằng pháp; Ban Nghi lễ và Ban Văn hóa; cùng với 2 bộ phận trực thuộc là bộ phận Tài Chính (Thủ quỹ) và bộ phận Kiểm soát.

Trụ sở Giáo hội đặt tại chùa Quán Sứ, số 73 phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Thủ đô Hà Nội. Về cơ cấu tổ chức hành chánh văn phòng, Giáo hội có hai văn phòng: Văn phòng 1 đặt tại chùa Quán Sứ, số 73, phố Quán Sứ, quận Hoàn Kiếm, Thủ đô Hà Nội; Văn phòng 2 đặt tại chùa Xá Lợi, đường Bà Huyện Thanh Quan, thành phố Hồ Chí Minh, đến năm 1992 dời về Thiền viện Quảng Đức, số 294 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong nhiệm kỳ I (1981-1987) Hòa thượng Thích Minh Châu là Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Thượng toạ Thích Thanh Tứ làm Phó Tổng Thư ký, Chánh Văn phòng 1; Thượng toạ Thích Từ Hạnh làm Phó Tổng Thư ký, Chánh Văn phòng 2 [4]. Nói về vị Chủ tịch Hội đồng Trị sự đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam chúng ta, Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ (1909-1984) là bậc cao Tăng của Phật giáo Việt Nam, Ngài có công lớn trong công cuộc chấn hưng Phật giáo, thống nhất Phật giáo Việt Nam, giáo dục đào tạo Tăng tài, hoằng dương chánh pháp, sinh thời Hòa thượng từng nói: “Những gì tôi làm cho đạo pháp tức là làm cho dân tộc, những gì tôi làm cho dân tộc, tức làm làm cho đạo pháp”.

Lịch sử Phật giáo Việt Nam ghi nhận, khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ra đời, Ngài được cử vào Ban dự thảo Hiến chương (của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất) và Tổng Vụ trưởng Tổng vụ Hoằng pháp, kiêm Tổng vụ Tài chánh; năm 1964, Ngài làm Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học (tiền thân của Viện Đại học Vạn Hạnh). Trong Đại hội Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất kỳ 5 và kỳ 6, Ngài đảm trách nhiệm vụ Viện trưởng Viện Hóa Đạo để thay thế Hòa thượng Thích Thiện Hoa vừa viên tịch, đây là giai đoạn khó khăn nhất của đất nước cũng như Giáo hội, nhưng bằng nghị lực kiên cường và sáng suốt, Ngài đã lãnh đạo lèo lái con thuyền Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất vượt qua bao thử thách trong những giai đoạn khó khăn; đến năm 1975, Ngài đảm nhận một trọng trách nặng nề nữa, đó là xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống. Cho đến khi đất nước hòa bình, thống nhất, Nam Bắc một nhà, nhận thức trước yêu cầu thời đại, việc thống nhất Phật giáo hai miền là cần thiết, với tư cách là Viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, Ngài đã đưa ra thông bạch nêu lên nguyện vọng thống nhất Phật giáo cả nước quy về một mối và yêu cầu Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất tiếp tục vận động thống nhất Phật giáo cả nước trong tinh thần đạo pháp và truyền thống dân tộc.

Ngược dòng lịch sử, bối cảnh Phật giáo miền Nam sau ngày đất nước vừa mới giải phóng thời bấy giờ còn tồn tại những khó khăn nhất định. Trong giai đoạn này, nội bộ sinh hoạt của Phật giáo miền Nam vẫn còn nhiều vấn đề nan giải bởi tâm lý e dè, tư tưởng thiếu nhất quán của một bộ phận chư Tăng của các Giáo hội, tổ chức Hội; nhất là về sự đa dạng bởi sự hiện hữu của nhiều Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo còn sinh hoạt độc lập, rời rạc. Đặc biệt là Sư thiếu một tổ chức có tiếng nói để vận động, liên thông, liên kết lại nhằm thực hiện ước mơ hoài bão bao đời của Tăng Ni tín đồ Phật giáo Việt Nam, đó là thống nhất Phật giáo cả nước thành một tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện chung cho các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo tại Việt Nam.

Với tư cách Viện trưởng Viện Hóa Đạo, đồng thời là xử lý Thường vụ Viện Tăng Thống, Ngài có uy tín lớn lao đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất và Tăng Ni, Phật tử tại miền Nam thời bấy giờ. Chính vì vậy, khi được chư Tôn đức giáo phẩm các Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo trong cả nước công cử Ngài làm Trưởng ban Ban Vận động thống nhất Phật giáo Việt Nam vào ngày 12 tháng 2 năm 1980, cùng với sự quan tâm hỗ trợ nhiệt thành của Đảng và Nhà nước về một tương lai tươi sáng của Phật giáo Việt Nam, Ngài đã đem hết tâm huyết, trí tuệ đóng góp công sức to lớn vào công cuộc vận động trong suốt hai năm liền, mang đến những thành tựu viên mãn, làm tiền đề quan trọng tiến tới Hội nghị thống nhất Phật giáo toàn quốc. Có thể nói rằng, Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ là bậc cao Tăng quan trọng trong hàng giáo phẩm đã đặt viên đá đầu tiên xây dựng nên ngôi nhà Phật giáo Việt Nam. Thế nhưng, thật đáng tiếc, vào giữa nhiệm kỳ I (tháng 4 năm 1984), Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ viên tịch, sự ra đi của Ngài là một mất mát to lớn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong giai đoạn đầu Phật giáo nước nhà vừa thống nhất. Dù đảm nhận trọng trách lãnh đạo điều hành Giáo hội Phật giáo Việt Nam trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Trị sự chưa hết nhiệm kỳ I (1981-1984), trong giai đoạn đất nước tồn tại nhiều khó khăn, Ngài đã uyển chuyển vận dụng từ bi, trí tuệ một cách linh hoạt, diệu dụng để ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam từng bước đi vào hoạt động hanh thông trôi chảy. Đây được xem là giai đoạn khởi đầu thành công nhất trong công cuộc xây dựng hình thành ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là bước đầu hình thành bộ máy hành chánh của Trung ương Giáo hội và Ban Trị sự các tỉnh thành diễn ra suôn sẻ, êm đẹp.

Trong bối cảnh Phật giáo thời bấy giờ thì sự hợp nhất của các tổ chức, hệ phái Phật giáo trên tinh thần nhất quán vì lợi ích đạo pháp và dân tộc, và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực sự là nguyện vọng, là nhu cầu cấp thiết của toàn thể Phật giáo đồ hướng đến một tương lai tươi sáng sau bao biến cố thăng trầm thịnh suy cùng dân tộc. Thành tựu lớn lao nhất trong giai đoạn này là Phật giáo Việt Nam tập trung được tiếng nói chung của Phật giáo cả nước, hình thành bộ máy hành chánh Giáo hội với cơ cấu nhân sự đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Có thể nói, Trưởng lão Hòa thượng Thích Trí Thủ là bậc giáo phẩm vẹn toàn uy tín và trí đức, đã có công rất lớn trong việc đặt một nền móng rất vững chắc cho ngôi nhà Phật giáo Việt Nam thời hiện đại, trên cơ sở này, đã làm tiền đề cho các thế hệ kế thừa sau này ổn định và phát triển. Xuyên suốt chiều dài lịch sử và hành trạng của Ngài, nói đến Đại lão Hòa thượng Thích Trí Thủ là nói đến sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam giữa các hệ phái, từng giai đoạn lịch sử từ trước 1954 cho đến sau 1975 và cho đến khi hoàn thành bản nguyện. Ngài chính là thuyền Bát Nhã đưa Phật giáo Việt Nam bước qua lịch sử và làm nên lịch sử, ngày nay Ngài đã đi về miền đất Phật, nhưng lịch sử Phật giáo Việt Nam vẫn mãi mãi lưu lại công hạnh và hình bóng Ngài trong lòng bao thế hệ kế thừa.

ĐÔI LỜI NHẬN XÉT

Trong giai đoạn thứ nhất, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã ra đời trên tinh thần hợp nhất 9 Giáo hội, tổ chức Hội và hệ phái Phật giáo trong cả nước thành một Giáo hội Phật giáo duy nhất, trong điều kiện thuận lợi được sự quan tâm hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, đồng thời cũng đã vượt qua những khó khăn nhất định để Đại hội thống nhất Phật giáo toàn quốc thành tựu viên mãn, đáp ứng nguyện vọng của Tăng Ni tín đồ Phật giáo Việt Nam. Giai đoạn này được xem là giai đoạn đoàn kết hòa hợp của Phật giáo Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Phật giáo vẫn còn rời rạc hoạt động riêng lẻ cùng với những tồn tại sau ngày đất nước hòa bình thống nhất. Sự hình thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã làm nền tảng cho Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh thành trong cả nước lần lượt tiến hành thành công các Đại hội Đại biểu Phật giáo tại các địa phương, từ đó hoạt động của Giáo hội từ Trung ương đến từng địa phương nhanh chóng đi vào nề nếp, tạo sự ổn định vững chắc trong giai đoạn đầu hình thành của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Điều rất ấn tượng là ngay trong giai đoạn đầu, ngay sau khi Giáo hội Phật giáo Việt Nam vừa ra đời, công tác giáo dục đào tạo Tăng tài đã được chư Tôn đức lãnh đạo tối cao của Giáo hội đặt lên hàng đầu, trong ba nguyện vọng của Phật giáo, có nguyện vọng Giáo hội Phật giáo Việt Nam được mở mang Trường Đại học Phật giáo ở 3 thành phố lớn: Hà Nội, Huế và TP.HCM, cũng như các tỉnh thành được mở lớp gia giáo và trường Phật học để đào tạo Tăng tài, được Đức Pháp chủ – Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận nêu lên trong buổi tiếp xúc với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng, ngay trong giai đoạn đầu đã trở thành hiện thực. Cụ thể, chỉ sau một năm ra đời, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã hình thành một hệ thống Đại học Phật giáo (trường Cao cấp Phật học), năm 1982 Trường Cao cấp Phật học tại Hà Nội được thành lập và tuyển sinh khóa đầu; đến năm 1983, Trường Cao cấp Phật học tại TP.HCM được thành lập và năm 1984 tuyển sinh khóa đầu… Có thể nói rằng, đây chính là một trong những dấu ấn sinh động của sự nghiệp giáo dục đào tạo của Phật giáo nước nhà trong thời kỳ đầu hình thành Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

 

(Còn tiếp kỳ 7: Giai đoạn thứ II của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (1987-2017))

 

Chú thích:

* HT. Thích Huệ Thông – Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

[1] Kỷ yếu tưởng niệm Đức Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam: Đại lão Hòa thượng Thích Đức Nhuận.
[2] Chương Quán Thế Âm Bồ tát Nhĩ Căn Viên Thông, Kinh Đại Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm.
[3] Đại lão Hòa Thượng Thích Đức Nhuận, vị Pháp chủ đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
[4] Về thành phần lãnh đạo tối cao của Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự, về cơ cấu tổ chức hành chánh văn phòng, cũng như danh sách các Ban và bộ phận trực thuộc Hội đồng Trị sự, chúng tôi đã nêu cụ thể trong bài “Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam và sự ra đời của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981” nên trong nội dung này chúng tôi tóm lược chứ không lặp lại một cách chi tiết.

Trả lời