Nhân Quả

| 15/03/2012 | 1 Comment

NGUYỄN ĐĂNG TRUNG  | Tạp Chí  Văn  Hoá Phật Giáo 4

nhan-qua

Nguyên lý nhân quả trong đời sống diễn ra trong tiến trình mà phần biết và phần được biết chỉ là sự phân lập từ một tổng thể chung là cái biết, cho nên hiện tượng mà nó tạo ra sẽ được gọi là hiện tượng nội sinh,  một hiện tượng mà danh từ Phật học gọi là nghiệp (kamma). Hiện tượng này không do một đấng quyền năng tối cao hay một thế lực siêu nhiên nào chi phối, nên nhân quả được xem như  một nguyên lý quan trọng nhất của đời sống, khi các vấn đề của đời sống được tìm hiểu từ trong bản chất của nó.

Sẽ rất khó khăn, đến mức không thể thực hiện được, nếu dịch ngắn gọn tựa đề của bài viết này sang tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga hoặc tiếng Đức… Bởi vì nhân quả trong tiếng Việt là một từ đa nghĩa.

Trong nghĩa thứ nhất, nhân quả là một phạm trù dùng để chỉ mối liên hệ nguồn gốc tất yếu của các hiện tượng, trong đó hiện tượng này (được gọi là nguyên nhân) sản sinh ra hiện tượng khác (được gọi là kết quả). Ở đây hiện tượng được hiểu là cái diễn ra mà con người bình thường có thể nhìn nhận, cảm nhận hoặc tự nhận thức được.

Có vô số thứ đang diễn ra, nhưng có thể phân cái diễn ra thành ra hai loại: cái diễn ra khi có tương tác giữa các đối tượng, và cái diễn ra trong bản thân đối tượng khi nó đang vận động. Do đó mối liên hệ nguồn gốc tất yếu trong hai loại hiện tượng này tất nhiên sẽ khác nhau.

Tương tác là tác động qua lại giữa các đối tượng, là quá trình các đối tượng ảnh hưởng lẫn nhau, là một hình thức vận động, phát triển, chung nhất và phổ biến nhất mà người bình thường nhận thấy được. Quá trình tương tác làm thể hiện đặc tính [nhìn thấy được] của các đối tượng tham gia tương tác, và chính quá trình tương tác ấy xác lập mối quan hệ nhân quả. Do đó mối liên hệ nguồn gốc tất yếu trong quan hệ giữa các đối tượng được gọi là quan hệ nhân quả, tức là có nguyên nhân (cause) và có kết quả (effect).

Trong quan hệ nhân quả, người ta có thể phân biệt nguyên nhân đầy đủ, nguyên nhân đặc thù và nguyên nhân cuối cùng. Nguyên nhân đầy đủ là tập hợp tất cả các điều kiện mà khi có chúng thì nhất thiết xuất hiện kết quả. Nguyên nhân đặc thù là nhóm điều kiện chính yếu trong số các điều kiện cần có để làm xuất hiện kết quả. Nguyên nhân cuối cùng là điều kiện cuối cùng của một tập hợp điều kiện mà khi có nó thì kết quả lập tức xuất hiện.

Quan hệ nhân quả trong các tương tác diễn ra tức thời. Nếu một kết quả chỉ do một nguyên nhân thì ngay khi có điều kiện nguyên nhân, lập tức có kết quả. Nếu một kết quả do nhiều nguyên nhân và các nguyên nhân không diễn ra cùng lúc, thì khi nguyên nhân cuối cùng diễn ra, tức là khi có đầy đủ các nguyên nhân, kết quả lập tức xuất hiện.

Ý nghĩa thứ hai của nhân quả được khoa học đề cập trong các nghiên cứu thế giới vi mô. Với việc E. Rutherford khám phá ra nguyên tử vào năm 1911 và với các thí nghiệm của N. Bohr năm 1913, người ta nhận thấy rằng khi một nguyên tử đưa ra một điện tích thì nó có khuynh hướng thu về  một điện tích cùng dấu.

Nội dung của hiện tượng này xác định khuynh hướng của riêng một hệ sau khi đưa ra một vận hành, trong đó việc “đưa ra một điện tích” đóng vai trò là nguyên nhân (cause) còn “khuynh hướng thu về một điện tích cùng dấu” đóng vai trò là kết quả (effect). Đây là diễn biến bên trong một đối tượng chứ không phải là tác động qua lại giữa các đối tượng, do đó nó không được gọi là “quan hệ”, mà được gọi là “nguyên lý” – nguyên lý nhân quả.

Nguyên lý này khẳng định hai nội dung: “đưa ra thì thu về”, và “cùng dấu”. Với điều đó, hình thái của hệ vật chất vi mô sẽ hoàn toàn không có gì thay đổi sau khi đã đưa ra và thu lại một số điện tích như nhau.

Liên quan đến việc “đưa ra” và “thu về”, khoa học nhận thấy rằng khi được cung cấp năng lượng từ bên ngoài, các electron không chuyển động ra xa hạt nhân một cách liên tục mà gián đoạn theo từng bước nhảy, từ quỹ đạo gần hạt nhân sang quỹ đạo xa hạt nhân. Điều này có nghĩa là các electron chỉ chuyển quỹ đạo khi đạt đến một mức năng lượng đủ lớn nào đó.

Ý nghĩa thứ ba của nhân quả thuộc về nhận thức của Phật học, được xem như  một nguyên lý quan trọng nhất của đời sống, khi các vấn đề của đời sống được xem xét từ trong bản chất của nó. Vấn đề nhân quả trong Phật học có liên quan đến một số nội dung nhận thức sau đây:

1. Trong đời sống, con người nhận biết về bản thân mình và thế giới xung quanh mình bằng năm giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và hoạt động tư duy của ý thức, trong đó năm giác quan làm nhiệm vụ tiếp nhận và truyền đạt các thông tin từ bên ngoài còn ý thức làm nhiệm vụ xử lý thông tin và đưa ra một quyết định. Các nghiên cứu khoa học xác nhận rằng các tín hiệu kích thích ở đầu vào của các giác quan bị méo dạng trong quá trình phân cực lan truyền dọc theo các axon thần kinh. Dạng biến đổi mức phân cực trong các axon – tương ứng với cái biết ở các giác quan, hay còn được gọi là sự hưng phấn – hoàn toàn khác với dạng của các kích thích bên ngoài.

Vì bản chất vận động truyền đạt tín hiệu trong các axon thần kinh ở các giác quan không phải là chuyển động cơ học mà là hiện tượng lan truyền cảm ứng phân cực điện nên cái biết ở mắt gắn với trạng thái phân cực điện trên thành axon, khi bị méo dạng so với kích thích, thì sự méo dạng đó không phải là méo dạng hình học hay sai lạc gam màu. Sự méo dạng ở đây cũng không chỉ bao gồm sự hạn hẹp trong phạm vi dải tần mà các giác quan có khả năng cộng hưởng (ví dụ như mắt không cộng hưởng được với các tần số ánh sáng bên ngoài dải đỏ hoặc bên ngoài dải tím). Do vậy, một cách nghiêm túc và thận trọng, không được phép kết luận rằng có một hình ảnh đích thực nào đó, nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà mắt thấy thành ra hình ảnh đang thấy. Và tương tự vậy, không được nói rằng có một âm thanh đích thực nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà tai nghe thành ra âm thanh đang nghe, có mùi đích thực nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà mũi ngửi thành ra mùi đang ngửi, có vị đích thực nào đó nhưng qua sự truyền đạt không trung thực mà lưỡi nếm thành ra vị đang nếm, có các tiểu thể xúc giác đích thực nào đó mà thân cảm nhận thành ra đối tượng xúc giác.

Chỉ có thể nói rằng: Có “những cái gì đó” gây ra kích thích và do sự truyền đạt không trung thực mà các giác quan biến đổi chúng thành cảm nhận hình ảnh ở mắt, cảm nhận âm thanh ở tai, cảm nhận mùi ở mũi, cảm nhận vị ở lưỡi và cảm nhận đối tượng xúc giác trên thân.

Trong Phật học, hiện tượng không truyền đạt các kích thích một cách trung thực trong các giác quan gọi là sự không nhìn nhận được (anidassana – vô kiến); hiện tượng truyền đạt không trung thực gọi là sự đối chiếu theo (sappatigha – hữu đối chiếu).

Ta biết rằng, nếu một người nhìn một vật thể qua một tấm kính lồi lõm thì hình ảnh méo mó mà người đó thấy được là hình ảnh do tấm kính đem lại, vật chất cấu thành hình ảnh méo mó đó là vật chất của tấm kính, chứ không phải là hình ảnh hay vật chất của vật thể.

Khi truyền đạt không trung thực thì các khâu truyền đạt trong các giác quan đóng vai trò như là những tấm kính lồi lõm. Do vậy mọi đối tượng vật chất mà con người cảm nhận như là các đối tượng thuộc khách thể bên ngoài chỉ là các hình thái đối tượng cụ thể hóa (vinnana – thức), và là hình thái vật chất (rupadhamma – sắc pháp) của cái biết ở các giác quan.  (Còn tiếp)

Nhân Quả 2

(Visited 148 times, 1 visits today)

Tags:

Category: Sưu Tầm, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *