Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 21 | THẢO VI --- Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 21 | THẢO VI"/>

Chuyển hóa lỗi lầm

| 03/11/2012 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 21 | THẢO VI

chuyen hoa loi lamLỗi lầm biểu hiện bằng các thái độ, hành vi dẫn đến kết quả tự hại mình, hại người khác, hay làm lợi cho mình nhưng hại cho người khác. Lỗi lầm là sự phản ứng không phù hợp trước một thực tế luôn luôn mới với vô số khía cạnh chưa biết, vì thế các lỗi lầm luôn có tính chất rất đặc biệt: tính hiện hành. Có một thực tế là người thường xuyên phạm phải các hành vi có lỗi thì lại ít thấy được lỗi…

Sauk hi được Thiền sư Vân Cốc chỉ giáo, Viên Liễu Phàm bắt đầu con đường điều chỉnh số mạng của mình, mà trước hết là tự chuyển hóa lỗi lầm của bản thân. Và con đường ấy được ông đúc kết lại trong hai bài chính của quyển sách Bốn bài giáo huấn của người xưa.

Viên Liễu Phàm viết: “Ngày xưa, vào lúc 20 tuổi, Cừ Bá Ngọc đã có thể thường phản tỉnh về những lỗi lầm mình đã phạm để rồi kiểm thảo hối cải cho sạch hết”. Ông ta muốn tiêu diệt sạch các lỗi lầm một lần… cho khỏe. Thế nhưng nó lại không sạch hết: “Đến năm 21 tuổi, ông nhận ra rằng những lỗi lầm mình đã hối cải trước kia chưa hoàn toàn tiêu dứt; đến năm 22 tuổi, nghĩ lại lúc 21 tuổi, ông thấy giống như giấc mộng. Từng năm, từng năm trôi qua ông liên tục hối cải lỗi lầm; cho đến 50 tuổi ông lại thấy trong 49 năm qua, ông luôn mắc phải sai lầm…”!

Hiện nay, một trong các quan điểm phổ biến là xem lỗi lầm như là một cái gì đó phải dứt bỏ. Nó thể hiện qua ba thái độ thường thấy là: (1) chỉ trích lỗi người khác, (2) thanh minh nếu mình không có lỗi và (3) che giấu, không thừa nhận nếu mình phạm lỗi. Các thái độ này hay xảy ra, đặc biệt rõ trong ứng xử của người lớn với trẻ nhỏ. Nếu người lớn phạm lỗi với trẻ con thì thường không xin lỗi mà im lặng. Đối với họ, im lặng đã là nhận lỗi. Nếu đứa trẻ phạm lỗi thì ta sẽ thấy nhiều diễn biến khác hơn. Trẻ con ở nhà quên khóa cửa sẽ nghe những lời đại loại như “Trong nhà chỉ có con là hậu đậu, mẹ (cha) không bao giờ quên khóa cửa”. Ở trường học, những lỗi sai trong các bài làm bị trách mắng lặng nề. Thầy cô giáo cũng bảo: “Không bao giờ được sử dụng ký hiệu này…” mà không giải thích vì sao. “Không bao giờ” chứa hai khẳng định: (1) trước kia người nói (cha, mẹ, thầy, cô…) chưa có lỗi này và (2) mãi mãi về sau cũng sẽ không có lỗi này. Không bao giờ phạm lỗi có nghĩa là hoàn hảo suốt đời. Đứa trẻ bị đưa vào tập hợp những người đã có lỗi, và tự cảm thấy mình sẽ không bao giờ có thể hoàn hảo nữa. Các chữ “không bao giờ” tiêu diệt luôn ý muốn giúp đỡ cha mẹ của các em. Do quan niệm lỗi lầm là thứ “không nên có”, nên ai có lỗi cũng thường che giấu và như vậy tích lũy để nó càng ngày càng nặng. Người phạm lỗi cũng không có cơ hội nào để trình bày vì chỉ có các hành vi không có lỗi mới được xem là đúng đắn. Hậu quả tất nhiên, tự mỗi cá nhân đều bị lọt vào hai trạng thái đối nghịch: lỗi lầm của mình thì che giấu, lỗi lầm của người khác thì kiên quyết lên án.

Viên Liễu Phàm đã có một quan điểm hết sức thực tiễn: “Chúng ta đều là những người bình thường, tội lỗi giống như gai trên thân con nhím, tụ tập đầy thân”. Ông nghĩ ngược lại nhiều người: “Mỗi người mỗi ngày cần phải biết mình đã có sai trái gì thì mới có thể ngày ngày hối cải lỗi lầm. Nếu một ngày mà không biết cái sai trái của mình là một ngày an nhàn cho rằng mình chẳng có gì sai trái”. Đối với ông, tình trạng đó dẫn tới cái hại: “Nếu như mỗi ngày đều không có sai lầm nào được sửa đổi thì mỗi ngày chẳng có gì tiến bộ”. Như vậy, lỗi lầm theo ông là một cơ hội, nó báo động cho ta biết sự khiếm khuyết về khả năng tự điều chỉnh. Phát hiện được lỗi là bước căn bản để làm chủ số mạng. Không phát hiện được lỗi hiện hành là một trong những khiếm khuyết dẫn tới mọi sai lầm. Nó chính là thái độ “vô tàm” được nhắc tới trong Phật học. Viên Liễu Phàm viết: “Nghĩ lại những sự việc xảy ra trong quá khứ thường có vẻ như chúng ta không nhìn thấy được mình đã có những lỗi lầm nào. Sự việc này là do bởi cái tâm thô tháo của chúng ta (không biết tự phản tỉnh), lại giống con mắt bị màng che, không thấy được hàng ngày mình phạm lỗi lầm ở đâu”. Như vậy, không phải chúng ta “sống làm sao để không có lỗi” mà chúng ta “sống làm sao để thấy lỗi và điều chỉnh lỗi”.

Đối với Viên Liễu Phàm, việc đầu tiên trong quá trình cải sửa số mạng là nhận chân hiện trạng và chuyển hóa lỗi lầm. Ông đưa ra một lộ trình cho việc chuyển hóa lỗi lầm gồm ba phần: (1) phát triển “tâm hổ thẹn”, (2) “tâm lo sợ về hậu quả của lỗi” và (3) “tâm dũng mãnh tiến về phía trước”. Thực tế, tâm hổ thẹn là kết quả  tất nhiên của khả năng phát hiện được các lỗi. Khi một người thấy lỗi thì sẽ có tâm hổ thẹn (tàm). Ông viết: “Hãy nghĩ đấn các vị thánh hiền ngày xưa, chư vị cũng như ta, đều là những trang nam tử, những bậc đại trượng phu, thế mà tại sao họ có thể để lại tiếng thơm trăm đời, mọi người đều xem họ là các bậc sư biểu, còn chúng ta thì cớ sao đời này lại thân bại danh liệt?”. Tâm lo sợ về hậu quả của lỗi là kết quả của khả năng phát hiện được nguy hại (quý). Những điều nguy hại được kể ra: “Lỗi nặng thì sẽ có bao nhiêu tai họa giáng xuống thân ta; còn như lỗi nhẹ thì ta cũng sẽ bị giảm tổn phước báu trong hiện tại… nếu bị người khác phát hiện thì ta chẳng đáng một xu”. Trong Phật giáo, khả năng phát hiện được lỗi và khả năng phát hiện được nguy hại được kể là hai trong bảy tài sản quý giá bên trong. Các loại tài sản này không chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh, không sợ sự chiếm đoạt của năm yếu tố phá hủy tài sản. Hai khả năng này nằm trong các yếu tố cấu thành người có lòng tự trọng hay người biết xấu hổ, người có liêm sỉ. Phương pháp hối cải thứ ba là “phát tâm dũng mãnh”. Ông mô tả: “Lỗi nhỏ thì giống như gai cắm vào thịt, cần phải gấp tìm cách gỡ nó ra. Lỗi lớn thì như rắn độc cắn vào ngón tay, cần phải gấp rút cắt ngón tay đi, không được có chút ý nghĩ do dự nào cả”.

Tiếp đó, Viên Liễu Phàm nêu ra cách áp dụng các tâm trên vào trong thực tế. Ông viết: “Một là từ thực tế mà hối cải, hai là từ đạo lý mà hối cải, ba là từ tâm niệm mà hối cải”. Cách thứ nhất là kìm giữ để tránh tái phạm sai lầm: “Tỷ như hôm qua ta giết một sinh vật nào đó, hôm nay ta quyết không sát sinh. Hôm qua ta nóng giận lăng mạ người khác, hôm nay ta quyết không nóng giận nữa”. Rõ ràng, ông nói đến việc “sống làm sao để thấy lỗi (cụ thể) và điều chỉnh lỗi”. Phương pháp này khác với cách “sống làm sao để không có lỗi”. Ông bình luận: “Đây chính là loại phương pháp từ chính sự việc thực tế mà hối cải lỗi lầm, quyết không tái phạm. Chứ còn cứ miễn cưỡng mà kìm giữ, quyết không phạm lỗi thì so với việc tự nhiên mà hối cải (nghĩa là thấy lỗi rồi sửa), thật khó gấp trăm lần. Đồng thời cái gốc bệnh này của sự sai phạm vẫn ở trong tâm. Tuy nhất thời ta kìm giữ được, nó cũng sẽ lộ xuất mà thôi. Bên Đông ta diệt nó đi thì bên Tây nó lại lộ xuất ra, đó không phải là phương pháp hối cải triệt để rốt ráo”.

Kế đến, ông trình bày phương pháp từ đạo lý mà hối cải lỗi lầm. Ông ví dụ: “Tỷ như hôm qua ta muốn nổi giận thì nên nghĩ rằng:… nếu ta gặp sai sót của người khác, chiếu tình lý thì nên thương tiếc cho sự khổ não của người ấy mà tha thứ cho chỗ sai sót của anh ta…”, vì “trong thiên hạ tuyệt đối không có bậc hào kiệt nào tự cho rằng mình không có sai lầm nào cả”. Ông cho rằng, không có nền học vấn nào lại khiến oán hận người khác, bởi vì: “nếu người ta quả có học vấn thì lại càng khiêm cung, cứ nghiêm khắc trách mình mà độ lượng với người”. Cho nên “người oán hận kẻ khác nhất định là không có học vấn”. Vì quan niệm lỗi lầm là chuyện ai cũng có phạm phải, ông có một quan điểm tích cực khi có người chỉ trích, phỉ báng: “đấy lại là cơ hội giáo dục, tôi luyện cho ta, thành tựu cho ta”. Ta phải vui mừng chấp nhận sự giáo huấn, phê bình mà người khác dành cho ta chứ còn oán hận gì nữa”. Khả năng phát hiện được lỗi là một trong các tài sản bên trong, nay lại có người làm cho nó phong phú thêm thì phải cám ơn họ chứ! Với những suy nghĩ xung quanh vấn đề nổi giận khi thấy lỗi của người khác hay khi bị phỉ báng như vậy, ông viết: “cứ hiểu rõ cái ý nghĩa như đã nói trên đây thì tự nhiên sẽ không phạm sai lầm nữa”.

Phương pháp áp dụng thứ ba là từ tâm mà hối cải lỗi lầm. Viên Liễu Phàm viết: “Lỗi lầm của người ta gồm hàng ngàn loại, đều do tâm mà tạo ra… Phàm là người có học, hoặc ưa nữ sắc, hoặc ưa thích thanh danh, hoặc ưa thích tài vật, hoặc ưa thích nổi giận”. Nếu phải tìm kiếm phương pháp xử lý từng trường hợp thì sẽ không bao giờ thành công, vì có những lỗi lầm mới lại xuất hiện. Do đó ông chỉ rõ: “Đối với những lỗi lầm như vậy, không cần phải tìm kiếm phương pháp diệt trừ từng loại mà chỉ cần một lòng một ý phát khởi cái tâm thiện lành, làm việc thện lành. Ngay khi ý nghĩ chân chính xuất hiện thì ý nghĩ tà vạy không thể gây ô nhiễm. Vì như khi mặt trời rực sáng đang chiếu trên không trung thì yêu quái (trong tâm) tự nhiên chạy trốn mất tiêu”.

Ba phương pháp áp dụng này được Viên Liễu Phàm xếp theo thứ tự từ trong ra ngoài, từ tế tới thô. Trước tiên , “tu tâm được thì khi một ý niệm tà vạy khởi động tự mình cảm nhận được ngay. Tự mình cảm nhận được ngay thì lập tức khiến tâm dừng lại không dao động; tâm không dao động thì ý niệm tà vạy nào cũng tiêu tan”. Kế đến, “nếu không được như vậy thì nhất định phải hiểu rõ lý do của việc phạm lỗi lầm mà loại bỏ nó đi”. Cuối cùng, “nếu như vậy mà vẫn không được thì chỉ còn cách là lúc sắp phạm lỗi, hãy dùng phương pháp miễn cưỡng kìm giữ mà quyết không để phạm lỗi”.

Kết thúc chương, ông chỉ rõ một số dấu hiệu cho biết việc hối cải lỗi lầm có hiệu nghiệm. Các dấu hiệu trong cuộc sống thường ngày là: “tinh thần thư thái, trong lòng thanh thản; hoặc cảm thấy trước kia ta ngu tối, nay bỗng nhiên trí tuệ rộng mở; hoặc tuy ta ở trong cảnh phiền não rối ren mà lòng vẫn thanh thản sáng suốt…”. Như vậy, ngay cả trong giấc mộng ta cũng thấy bỏ đi được những điều hắc ám.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 21 | THẢO VI

(Visited 205 times, 1 visits today)

Tags:

Category: Giáo Dục, Thảo Vy

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *