đẹp riêng

| 04/03/2014 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 48

Lê Thiết Cương

dep-rieng

Dưới góc nhìn địa-văn hóa thì Việt Nam quả là có một vị trí đặc biệt. Song hào đắc- địa theo trục Tây-Đông. Các dòng sông đều chảy về phía Đông. Có thể gọi Việt Nam là vùng đất của những cửa sông. Dù là với mục đích gì, làm ăn buôn bán, giao lưu văn hóa, truyền bá tín ngưỡng… thì cũng xuôi theo sông mà đến hoặc vào bằng đường biển rồi ngược sông mà lên. Vào thế kỷ thứ II, những nhà sư Ấn Độ đầu tiên đến Việt Nam truyền giáo chắc cũng bằng con đường này. Yếu tố địa văn hóa cực Đông, giáp biển của Việt Nam như một lợi thế của ngõ cụt của nước chảy chỗ trũng. Không phải dân tộc nào cũng được hưởng một cuộc đất độc đáo và quý giá như vậy. Văn minh Ấn Độ, văn minh Trung Hoa thảy đều theo cách chúng thủy triều Đông mà đến Việt Nam. Những tinh hoa của hai nền văn hóa ấy đều theo sông Hồng và sông Mekong chảy về miền đất này mà hội tụ, thủy tụ, giao thoa với nhau rồi sau đó hoặc đồng thời giao lưu với nền văn hóa bản địa, trước khi tạo thành “minh đường” Biển Đông.

Việt Nam nằm giữa những nền văn minh lớn. Dưới góc nhìn của một nghệ sĩ, điều đó vừa là một may mắn, một lợi thế, nhưng cũng là bất lợi vì chúng ta sẽ dễ đánh mất mình, dễ bị lấn át mà không tìm được con đường riêng cho mình. Cái cách giao lưu của người Việt là vừa cho, vừa nhận, vừa mở, vừa khép. Mở nhưng không mở toang, đóng thì đóng không chặt. Người Việt giao lưu theo kiểu mở hé, khép hờ. Những cuộc giao lưu lớn trong lịch sử Việt Nam đều như vậy. Tất cả những gì tạo thành bản sắc văn hóa của người Việt hôm nay cũng chính là kết quả của quá trình bồi đắp theo cung cách đó. Cho nên, văn hóa của người Việt vừa có cái gốc gác Nam Đảo xa xưa, vừa có dấu vét Hoa Ấn, vừa có một chút Pháp, Nga, Mỹ…

Tuyệt chiêu trong cách giao lưu văn hóa của người Việt như một cái van tự động đóng mở tùy thời, tùy việc. Nó vừa gìn giữ được truyền thống mà vẫn tạo điều kiện để tiếp nhận những yếu tố mới. Cho nên điều tưởng như bất lợi khi nằm giữa những nền văn minh lớn nhưng bằng cách giao lưu độc đáo của người Việt thì thực ra là ngược lại. Phật giáo khởi từ Ấn Độ, sang phía Đông tới Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Miến Điện, Campuchia, Lào, Việt Nam…Nhưng nghệ thuật điêu khắc của Phật giáo Việt Nam vẫn có phong cách riêng, không lẩn với bất kể một dân tộc nào.

Chuyện đất cũng là chuyện người, những ai đang theo đuổi con đường nghệ thuật đều thấm cái khổ ải của đoạn trường đi tìm phong cách. Nói riêng là cũng để thấy cái chung. Để thấy sự đặc sắc của phong cách nghệ thuật Việt quý giá đến chừng nào!

Phong cách chính là cách kể, cách hát,cách múa, cách vẽ, cách đẽo,cách tạc…Đề tài thì chung. Tượng Phật ở Việt Nam khác hẳn với tượng Phật của Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lao v.v…cũng là do cách tiếp nhận rất riêng của người Việt Nam trong quá trình giao lưu với bên ngoài như đã nêu trên. Phong cách, suy cho cùng chính là con người. Người nào nghệ thuật đó, phong cách của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo Việt Nam chính là bản tính người Việt. Là sự thô mộc, hồn nhiên, chất phác. Là cái sự lỏng, sự cởi mở. là buông, là hỷ xả. Là có – không, không – có. Tượng thờ nhưng vẫn rất đời. Chải chuốt nhưng không bóng bẩy, Kỹ mà lại không, buông chùng nhưng khối vẫn căng mọng v. v.. Cách làm thì tự nhiên không bị chuyên nghiệp, tỉ mẩn cầu kỳ đến khô khan, lạnh lẽo. Làm đến đâu hay đến đó. Có những pho tượng chỉ kỹ ở đôi chỗ, chỗ nào cần thì kỹ còn thì bỏ ngõ, phần nào cần làm to thì làm to, không thì làm nhỏ, bất chấp nguyên lý giải phẩu cơ thể. Có khả năng thì thếp vàng trần toàn bộ, nếu không thì bạc dát phủ hoàn kim cũng không sao. Gương mặt của các pho tượng thờ không bị thần thánh hóa, không cao siêu mà gần gũi, quen thuộc. Điều đó cũng phù hợp với triết lý Phật giáo. Dù các pho tượng đó là Thích Ca sơ sinh, Quan Âm tọa sơn, Quan Âm chuẩn Đề hoặc Văn Thù, Phổ Hiền hay bộ Tam Thế cũng vậy. Phật giáo không chủ trương thần tượng hóa . Kiến tính thành Phật, tùy nhân duyên, ai cũng có thể thành Phật dù là nông dân hay trí thức v.v…Có cảm giác như những nghệ nhân thời xưa phỏng theo khuôn mặt của bà con làng xóm hoặc người trong họ mạc nhà mình mà đẽo, mà tạc, mà tô vẽ. Khác hẳn với tượng Phật của Lào, của Thái Lan được thần thánh hóa, tượng Phật của Nhật cao lớn uy nghi, tượng Phật của Trung Hoa kỹ lưỡng đến mức khô khan không còn đời sống..dep-rieng- Le Thiet Cuong

Không biết có phải do cái tính không thích trật tự, không thích niêm luật khuôn phép cùng với cách nhìn hiện thực bằng con mắt ngây thơ, mộc mạc nên các pho tượng trong chùa Việt lại đẹp đến vậy, riêng đến vậy? Kỹ lưỡng quá, chính xác quá, phẳng phiu quá, nhẵn bóng quá, nuột nà gọn ghẽ quá thì không phải là bản tính của người Việt, không phải nghệ thuật Việt. Người Việt duy cảm hơn duy lý, trực giác hơn lý trí.

Vậy là cái đẹp, cái hay, cái độc đáo lại chính là do không quá cầu kỳ, nỗ lực,tỉ mẩn, chăm chút, tinh xảo, khéo léo tạo nên. Tính cách thế nào thì làm ra sản phẩm như vậy. Mình làm cho mình dùng thì phải hợp cho mình trước tiên. Thật thà, đôn hậu. Làm như không làm, tự nhiên như không, có có, không không. Phật giáo vào Việt Nam cũng tùy thời, tùy nơi mà thay đỗi để hòa hợp với tín ngưỡng bản địa, để phát triển thì nghệ thuật Phật giáo Việt Nam cũng không nhất thiết phải giữ nguyên cái tỷ lệ, chuẩn mực ban đầu để còn nhập gia tùy tục cũng là lẽ đương nhiên.!

Lê Thiết Cương | Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 48

(Visited 109 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *