Kỳ 8: Các hoạt động Phật sự tiêu biểu trong Giai đoạn 2 của GHPGVN (1987-2017) (HT. Thích Huệ Thông)

Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thừa Thiên Huế.
(Ảnh: tư liệu)

Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo trân trọng trích đăng các bài viết thuộc tác phẩm Giáo hội Phật giáo Việt Nam: 40 năm hình thành và phát triển của Hòa Thượng Thích Huệ Thông. Các bài viết được sắp xếp và biên tập để cung cấp cho độc giả gần xa biết về những khó khăn, thách thức và nỗ lực không ngừng nghỉ của bao thế hệ chư Tôn đức Tăng, Ni, Phật tử Việt Nam trong suốt nhiều năm, nhằm xây dựng, bảo vệ và phát triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC

Về hoạt động giáo dục, cả nước có 4 Học viện Phật giáo của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Trường Cao cấp Phật học). Ngoài Trường Cao cấp Phật học ra đời tại Hà Nội (1982) và tại TP. HCM (hình thành 1983, khai giảng 1984), đến năm 1997, Trường Cao cấp Phật học tại Huế được thành lập và tuyển sinh khóa đầu, cũng trong năm 1997 được sự chấp thuận của Thủ tướng Chính phủ, Ban Tôn giáo Chính phủ đồng ý để Giáo hội Phật giáo Việt Nam đổi tên Trường Cao cấp Phật học thành Học viện Phật giáo Việt Nam; đến năm 2006, Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer tiếp tục được thành lập. Như vậy, Giáo hội có 4 Học viện Phật giáo phân bố theo khu vực là Hà Nội, Huế, TP.HCM và Cần Thơ. Riêng Học viện Phật giáo Nam Tông Khmer là trường đào tạo chuyên biệt cho hệ phái Phật giáo Nam Tông Khmer, 3 Học viện còn lại đào tạo Tăng, Ni sinh của Phật giáo Bắc tông.

Để phát triển, nâng cao hệ thống giáo dục đào tạo của Giáo hội, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đã đề nghị và được Thủ tướng Chính phủ cho phép Trung ương Giáo hội mở thí điểm đào tạo Thạc sĩ (MA) chuyên ngành Phật học tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM vào năm 2012, sau đó Chính phủ chấp nhận chủ trương cho Giáo hội chính thức đào tạo Thạc sĩ và Tiến sĩ Phật học tại 4 Học viện Phật giáo Việt Nam. Tính đến giai đoạn này, cả nước đã đào tạo 6.881 Tăng, Ni có trình độ Cử nhân Phật học và đang đào tạo 1.818 Tăng, Ni; có 60 Tăng, Ni hoàn tất chương trình Cao học Phật học và gần 100 Tăng, Ni tốt nghiệp Tiến sĩ tại các Trường Đại học các nước; có 8 lớp Cao đẳng Phật học đã đào tạo 2.125 Tăng, Ni và đang đào tạo 1.111 Tăng, Ni; có 31 Trường  Trung cấp Phật học đã đào tạo 9.484 Tăng, Ni tốt nghiệp và đang đào tạo 4.811 Tăng, Ni.

Trong giai đoạn hai, Giáo hội đã cho phép và giới thiệu 300 Tăng, Ni du học tại Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Myanmar, Thái Lan, Srilanka, Úc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đài Loan… và đã có 200 Tăng, Ni tốt nghiệp Tiến sĩ, Thạc sĩ chuyên ngành Phật học và các ngành khác đã về nước công tác tại các cấp Giáo hội, Ban, Viện Trung ương, Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh, thành, tham gia giảng dạy tại các Học viện Phật giáo Việt Nam, các lớp Cao đẳng, Trung và Sơ cấp Phật học…

Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM. (Ảnh: tư liệu)

Một trong những điểm nổi bật trong công tác giáo dục của Giáo hội trong giai đoạn thứ hai, đó là Giáo hội đã hình thành bộ giáo trình, giáo án một cách khoa học, tương đương với hệ thống giáo dục xã hội, trong đó ngành giáo dục Phật giáo Việt Nam đã thực hiện chương trình cải cách giáo dục hệ Trung cấp Phật học 3 năm, biên soạn hoàn chỉnh bộ sách Giáo khoa Trung cấp Phật học và đã phân phối đến các Trường Trung cấp Phật học một số đầu sách như Phật học cơ bản, Anh văn Phật pháp, Di giáo, Luật Sa Di, Oai nghi, Đại Bát Nhân Giác, Tứ Thập Nhị Chương, Lịch sử Phật giáo Ấn Độ, Văn điển Phật giáo…

CÔNG TÁC HOẰNG PHÁP

Về công tác hoằng pháp, nét nổi bật trong giai đoạn này, đó là Ban Hoằng pháp Trung ương đã tổ chức thành công các lớp đào tạo Cao – Trung cấp Giảng sư, đào tạo được 890 Tăng, Ni có trình độ Cao cấp và Trung cấp Giảng sư. Từ đó các hoạt động của đoàn Giảng sư Trung ương và các tỉnh, thành mang lại nhiều hiệu quả trong công tác Phật sự. Bên cạnh đó, Ban Hoằng pháp Trung ương đã phối hợp với Ban Trị sự, Ban Hoằng pháp các tỉnh, thành tổ chức thành công nhiều khóa bồi dưỡng, hội thảo và tập huấn Hoằng pháp viên tại một số địa điểm như: Chùa Hội An trung tâm thành phố mới Bình Dương vào 2014 có trên 3.000 Phật tử tham dự; tại Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng vào năm 2014 có 300 Tăng, Ni và 3.000 Phật tử tham dự; tại khu du lịch Hồ Núi Cốc tỉnh Thái Nguyên vào năm 2014 có 300 Tăng, Ni và 5.000 Phật tử tham dự (cũng tại địa phương này vào năm 2017 có gần 1.000 Phật tử tham dự).

Cũng trong giai đoạn này, Ban Hoằng pháp Trung ương đã tổ chức 4 khóa bồi dưỡng, hội thảo và tập huấn Hoằng pháp viên tại chùa Bằng (TP.Hà Nội) cho Tăng, Ni và Giảng sư các Tỉnh, Thành hội Phật giáo phía Bắc; tại Trụ sở văn phòng Ban Trị sự Thành hội Phật giáo Đà Nẵng cho 430 Tăng, Ni thuộc Ban Hoằng pháp Trung ương, Ban Hoằng pháp các tỉnh, thành và hơn 620 cư sĩ Phật tử tại TP.Đà Nẵng và TP.Hà Nội tham gia tập huấn Hoằng pháp viên; tại Cung Văn hóa Hữu nghị Việt – Tiệp (TP.Hải Phòng) cho 400 Tăng, Ni các tỉnh, thành phía Bắc và đại diện 8 tỉnh, thành phía Nam tham dự, có hơn 1.000 Phật tử cùng tham gia khóa tập huấn Hoằng pháp viên; tại Nhà Thi đấu tỉnh Vĩnh Phúc cho các Giảng sư Ban Hoằng pháp, Tăng, Ni và Phật tử của 22 Ban Hoằng pháp các Tỉnh, Thành hội Phật giáo phía Bắc, với chủ đề “Phật giáo với tuổi trẻ, tuổi trẻ với Phật giáo” và nhiều chương trình hoằng pháp được tổ chức tại các tỉnh, thành.

Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội. (Ảnh: tư liệu)

Đặc biệt, các Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc đã được Ban Hoằng pháp Trung ương phối hợp với Ban Trị sự Phật giáo một số địa phương lần lượt tổ chức thành công, như Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2010 tại Công viên Văn hóa An Hòa và chùa Phật Quang (tỉnh Kiên Giang) với chủ đề “Hoằng pháp với truyền thống hộ quốc an dân” có trên 1.000 vị Giảng sư và gần 20.000 Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài tỉnh Kiên Giang tham dự; Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2011 tại sân vận động tỉnh Bình Dương và 7 địa điểm Hội thảo nhóm trong tỉnh Bình Dương: Nhà hát Thành Lễ, chùa Hội Khánh, chùa Tây Tạng, chùa Phước An, chùa Bửu Nghiêm, chùa Phật Học, chùa Phổ Thiện Hòa với chủ đề “Phật giáo với dân tộc” có trên 1.500 vị Tăng, Ni là giảng sư và gần 40.000 Tăng, Ni, Phật tử trong và ngoài tỉnh Bình Dương tham dự; Hội thảo Hoằng pháp toàn quốc năm 2015 tổ chức tại chùa Vạn Phật Quang (Đại Tòng Lâm – Bà Rịa Vũng Tàu) với chủ đề “Sứ mệnh hoằng pháp – Hội nhập và phát triển” có hơn 1.200 đại biểu Tăng, Ni thuộc Ban Hoằng pháp các Tỉnh, Thành hội Phật giáo trong cả nước, cùng với trên 1.000 Hoằng pháp viên và Phật tử về tham dự…

Việc hình thành các khóa tu chính là một trong những mục tiêu quan trọng của ngành hoằng pháp, do đó trên cả nước đã hình thành 3.617 đạo tràng với sự tham gia thường xuyên của 592.983 Phật tử sinh hoạt, tu học. Trong đó có 1.242 Đạo tràng Bát Quan Trai với khoảng 81.265 Phật tử tham dự, 35 Đạo tràng tu Thiền có 7.750 Phật tử tham dự; 698 Đạo tràng Niệm Phật và Phật thất có 131.165 Phật tử tham dự; 80 Đạo tràng Pháp Hoa có 13.280 Phật tử tham dự; 40 Đạo tràng Dược Sư có 6.080 Phật tử tham dự; 81 Đạo tràng Đại Bi có 4.602 Phật tử tham dự; 232 Khóa tu Một ngày An lạc có 41.000 Phật tử tham dự; các Hội Quy Y [1] và các mô hình tu tập khác như Mật Tông, Địa Tạng, Lương Hoàng Sám có 103 đơn vị với khoảng 9.370 Phật tử tham dự. Bên cạnh đó, cả nước có 169 lớp giáo lý với sự tham gia của 17.250 Phật tử theo học; về sinh hoạt giảng đường có 53 đơn vị với khoảng 7.,950 Phật tử tham dự. Có thể nói rằng, đây là những con số biết nói, đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ trong sinh hoạt tu học của tín đồ Phật giáo trong giai đoạn Phật giáo nước nhà thật sự ổn định và đang từng bước phát triển bền vững.

CÔNG TÁC PHIÊN DỊCH, VĂN HÓA VÀ TỪ THIỆN XÃ HỘI

Về công tác phiên dịch, trước tác và tổ chức hội thảo khoa học quốc tế của Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã phiên dịch, ấn hành Đại Tạng Kinh gồm 37 tập, cùng hàng trăm đầu sách khác thuộc 10 trung tâm nghiên cứu chuyên môn của Viện. Đồng thời Viện cũng đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo quốc tế và trong nước, giao lưu tiếp cận với các tổ chức quốc tế mang lại những kết quả nhất định về văn hóa, ngoại giao và thu thập kinh nghiệm cũng như mặt tri thức. Vào tháng 9 năm 2020, Ban Thường trực HĐTS đã thống nhất với Viện Nghiên cứu Phật học về việc biên soạn ấn hành bộ Tam Tạng Thánh điển Phật giáo Việt Nam, nhằm đúc kết nền minh triết Phật giáo nước nhà trong suốt 2000 năm lịch sử làm Pháp bảo lưu truyền hậu thế.

Ngành Văn hóa đến giai đoạn này đã thành lập được các Nhà Văn hóa Phật giáo; Viện Bảo tàng Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; Trung tâm Văn hóa Liễu Quán tại Huế; Nhà Truyền thống Văn hóa Phật giáo TP.HCM; Bảo tàng Văn hóa Phật giáo chùa Quán Thế Âm – TP. Đà Nẵng; Bảo tàng Văn hóa Phật giáo Nam Tông Khmer – Trà Vinh và 756 cơ sở là Di sản Văn hóa cấp Quốc gia và nhiều cơ sở tự viện được công nhận di tích cấp tỉnh; cùng với sự hình thành và phát triển các Nội san, Báo chí, Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo, Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Khuông Việt, Phật giáo Nguyên Thủy; Đặc san Ni giới, Báo Giác Ngộ… tại Ban Trị sự các tỉnh, thành cũng xuất bản nhiều tập san, Tạp chí, bản tin… tất cả hệ thống báo chí Phật giáo đã làm phong phú thêm không gian văn hóa Phật giáo nước nhà. Trong giai đoạn này, công tác từ thiện xã hội đã để lại những con số ấn tượng trên 2000 tỷ đồng/năm, điều này nói lên tấm lòng của Tăng, Ni, tín đồ Phật tử trước nỗi đau nhân thế, góp phần tích cực vào đời sống an sinh xã hội.

HOẠT ĐỘNG CỦA BAN HƯỚNG DẪN PHẬT TỬ

Về những hoạt động của Ban Hướng dẫn Phật tử, khởi đầu đã có 650 đơn vị Gia đình Phật tử đăng ký với Tỉnh, Thành hội Phật giáo, với gần 44.407 đoàn sinh và 5.409 huynh trưởng sinh hoạt trong Giáo hội. Tiếp theo, một số chương trình sinh hoạt Gia đình Phật tử cũng đã được Giáo hội triển khai, chẳng hạn như việc Giáo hội ra quyết định tạm thời và sau đó chính thức công nhận sinh hoạt Gia đình Phật tử, từ đó mở các khóa huấn luyện Huynh trưởng, Đoàn trưởng, bên cạnh đó là tổ chức các trại sinh hoạt truyền thống, trại sinh hoạt hè tại các Tỉnh, Thành hội Phật giáo miền Trung và phía Nam, thu hút hàng chục ngàn đoàn sinh tham dự. Được sự quan tâm của Giáo hội, sinh hoạt Gia đình Phật tử từng bước đi vào nề nếp, ngày càng phát triển mạnh mẽ, mở rộng sinh hoạt của Gia đình Phật tử đến các địa phương vùng sâu vùng xa.

Điều đáng hân hoan đó là tổ chức Gia đình Phật tử (một thành phần trực thuộc của Ban Hướng dẫn Phật tử) từng được xem là một bộ phận quan trọng của Phật giáo trước năm 1975, cho đến giai đoạn này đã thật sự hòa nhập và trở thành một thành phần quan trọng trong cơ cấu tổ chức của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Cho đến thời điểm này, trên cả nước hiện có 35 tỉnh, thành phố đã có Gia đình Phật tử sinh hoạt theo Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Song chỉ mới có 26 tỉnh, thành đã thành lập được Phân ban Ban hướng dẫn Gia đình Phật tử, còn 09 tỉnh, thành phố vẫn chưa có Phân ban Gia đình Phật tử như Đồng Tháp, Vĩnh Long, Hậu Giang, Trà Vinh, Bạc Liêu, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh và Hải Dương.

Trong giai đoạn này, Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương tổ chức Hội thảo, Hội nghị và nhiều sinh hoạt cho Phân ban Cư sĩ Phật tử… cùng với Phân ban Gia đình Phật tử Trung ương tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm danh xưng Gia đình Phật tử Việt Nam tại chùa Trúc Lâm – TP. Huế vào ngày 31 tháng 7 năm 2011 với sự tham dự của hơn 6.000 huynh trưởng, đoàn sinh, trong đó có nhiều bậc huynh trưởng kỳ cựu từng sinh hoạt trong Gia đình Phật tử thuộc tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trước năm 1975, điều này cho thấy đã có một sự đoàn kết, hòa hợp thật sự của những người con Phật trên đất nước Việt Nam thân yêu, cũng cho thấy chủ trương, chính sách đúng đắn của Nhà nước trong mọi hoạt động tự do tín ngưỡng nói chung và đối với Phật giáo nói riêng. Cũng trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm 60 năm danh xưng Gia đình Phật tử Việt Nam, Hội nghị Huynh trưởng Gia đình Phật tử Việt Nam lần thứ 11 đã diễn ra từ ngày 1 đến ngày 4/8/2011 tại chùa Từ Đàm (Huế) có gần 500 đại biểu Huynh trưởng Gia đình Phật tử của cả ba thế hệ cùng về tham dự, có thể nói đây là Hội nghị mang tính kế thừa lịch sử, đồng thời mở ra một thời kỳ mới của Gia đình Phật tử Việt Nam, đó là thời kỳ Kế thừa – Khế hợp – Hội nhập – Năng động – Đổi mới và Phát triển Gia đình Phật tử Việt Nam. Ngoài ra, Ban Hướng dẫn Phật tử tại một số địa phương như Quảng Trị, Đà Nẵng, Đăk Nông, Bình Phước, Lâm Đồng, Quảng Nam cũng đã tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm danh xưng Gia đình Phật tử Việt Nam có hàng trăm huynh trưởng, đoàn sinh tham dự trên tinh thần đoàn kết, hòa hợp, tỉnh thức và chánh niệm hướng về suối nguồn tuệ giác.

CÔNG TÁC QUAN HỆ QUỐC TẾ

Về công tác quan hệ quốc tế, đến giai đoạn hai, Giáo hội đã tích cực thể hiện tư cách là thành viên sáng lập và thành viên của các tổ chức Phật giáo quốc tế, như Hội Liên hữu Phật giáo Thế giới tại Thủ đô Colombo, Sri Lanka; Hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP); thành viên sáng lập Hội Phật giáo Thế giới Truyền bá Chánh pháp; thành viên Hội Đệ tử Như Lai tối thượng (Sri Lanka); thành viên Ủy ban Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc (IOC – Thái Lan); thành viên Ủy ban Đại học và Cao đẳng Phật giáo Thế giới tại Thái Lan; thành viên Hội Nữ giới Phật giáo Thế giới (Sakyadhita): thành viên tổ chức Liên minh Phật giáo Toàn cầu tại Ấn Độ… Đặc biệt, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thành lập và lãnh đạo Hội Phật tử Việt Nam tại một số quốc gia như Nhật Bản, Đức, Bỉ, Pháp, Cộng hòa Séc (Czech), Hungary, Ba Lan và Ukraina. Bên cạnh đó, Ban Phật giáo Quốc tế Trung ương đã phối hợp với Trung ương Giáo hội và các Ban, Viện đón tiếp nhiều phái đoàn quốc tế, nhiều phái đoàn Phật giáo tại nhiều quốc gia trên thế giới đến thăm và làm việc tại Việt Nam, trong đó nổi bật là sự kiện đón tiếp phái đoàn lãnh đạo cao cấp Hoa Kỳ do Tổng thống Obama dẫn đầu cùng các thành viên trong phái đoàn đến tham quan và lễ Phật tại chùa Ngọc Hoàng (quận 1, TP.HCM) vào tháng 5 năm 2016. Đặc biệt, chư Tôn đức lãnh đạo Giáo hội tham gia cùng đoàn Thủ tướng Chính phủ thăm và làm việc tại nhiều quốc gia khác.

Đặc biệt, Phật giáo đã xác lập được nhiều kỷ lục, trong đó Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo tình Bình Dương đón nhận xác lập kỷ lục Tượng Phật nhập Niết bàn bằng đá Sapphire chùa Hội An đạt kỷ lục lớn nhất Việt Nam, do Hội đồng xác lập kỷ lục Việt Nam công nhận; Tượng Phật nhập Niết bàn nằm trên mái chùa dài nhất Châu Á, do tổ chức xác lập kỷ lục Châu Á tại Ấn Độ công nhận; Ban Tổ chức Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2014 (ICDV) diễn ra tại chùa Bái Đính (Ninh Bình) đón nhận 6 kỷ lục do Trung tâm xác lập kỷ lục Việt Nam công nhận: Đại lễ cầu hòa bình cho thế giới – cầu quốc thái dân an lớn nhất, Bức tranh về chủ đề Phật giáo lớn nhất Việt Nam; Hội diễn văn nghệ Phật giáo quy mô lớn nhất; Lô đèn hoa đăng dâng cúng chư Phật nhiều nhất Việt Nam; Liên hoan phim Phật giáo đầu tiên, chiếu và giao lưu phim Phật giáo có quy mô lớn nhất Việt Nam; Câu đối chào mừng các đoàn đại biểu, Phật tử trong nước và quốc tế về dự Đại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc 2014 lớn nhất Việt Nam. Phật giáo tỉnh Nam Định cũng đã đón nhận 3 kỷ lục do Hội đồng kỷ lục quốc gia trao tặng chùa Phúc Lộc, huyện Nghĩa Hưng có Tháp tôn trí tượng Phật, Bồ tát bằng đồng nhiều nhất Việt Nam; chùa có Bảo Ấn ngọc Phật lớn nhất Việt Nam; và chùa có Tháp tôn trí tượng Phật hóa thân Bồ tát làm bằng đồng nhiều nhất Việt Nam và nhiều kỷ lục khác trong hệ thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam…

Ban Thông tin Truyền thông chỉ mới được thành lập tại Đại hội Phật giáo toàn quốc vào năm 2012, nhưng bước đầu thể hiện sự tích cực năng động của ngành Thông tin Truyền thông Phật giáo. Hoạt động đáng kể của Ban Thông Tin Truyền thông Trung ương trong thời kỳ đầu là tổ chức được 2 khóa Bồi dưỡng nghiệp vụ Thông tin Truyền thông toàn quốc tại Quảng Ninh và TP.HCM mục đích nhằm nâng cao nghiệp vụ cho các thành viên của Ban và trong ngành. Thành quả ban đầu đáng ghi nhận, đó là tổ chức chương trình nghệ thuật “Đạo hiếu” tại Nhà hát lớn Hà Nội và phát trực tiếp trên sóng truyền hình VTC và An Viên, có thể nói đây là hoạt động nổi bật của Ban Thông tin Truyền thông trong thời kỳ đầu hình thành. Thành công này cũng là tiền đề để Ban Thông tin Truyền thông Phật giáo ngày càng phát triển và khẳng định vị thế của mình trong giai đoạn tiếp theo trên chặng đường 40 năm hình thành, ổn định và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam đã phiên dịch, ấn hành Đại Tạng Kinh gồm 37 tập, cùng hàng trăm đầu sách khác thuộc 10 trung tâm nghiên cứu chuyên môn của Viện.

Nhận xét

Trên tinh thần đoàn kết, hòa hợp, trưởng dưỡng đạo tâm trang nghiêm Giáo hội, trong giai đoạn thứ hai, các cấp Giáo hội từ Trung ương đến địa phương đã tuân thủ Hiến chương, pháp luật Nhà nước và thực hiện hiệu quả các chủ trương, chương trình hoạt động của Trung ương Giáo hội, nhờ đó đã triển khai và thực hiện có hiệu quả các mặt hoạt động của Giáo hội từ các Ban, Viện Trung ương Giáo hội đến Ban Trị sự các tỉnh, thành hội trong cả nước. Trong đó, đáng nói là Văn phòng Trung ương Giáo hội đã được củng cố và tăng cường nhân sự hợp lý, quan hệ chặt chẽ, thông tin và giải quyết rất kịp thời nhiều Phật sự cấp thiết, như phổ biến các Thông tri, Thông bạch, ý kiến chỉ đạo của Trung ương Giáo hội đến các cấp Giáo hội địa phương; nhất là thực hiện tốt công tác tổ chức các Hội nghị thường niên của Trung ương Giáo hội đúng thời gian hoạch định. Đặc biệt, nhờ sự quan tâm sâu sắc của Nhà nước, Giáo hội có được thuận duyên nhất định để ổn định và phát triển trong bối cảnh hội nhập, dù đây là giai đoạn mà tình hình thế giới có nhiều biến động, cũng như vẫn tồn tại nhiều âm mưu gây chia rẽ, phá hoại sự nghiệp thống nhất và phát triển của Phật giáo, chính nhờ những thuận lợi căn cơ này mà Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã vượt qua những khó khăn thử thách, hoàn thành sứ mệnh thiêng liêng của Giáo hội với đạo pháp và dân tộc.

Nhìn lại chặng đường 40 năm hình thành, ổn định và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nếu nói giai đoạn đầu là giai đoạn hình thành, xây dựng và củng cố cơ sở Giáo hội, cùng với sự ra đời của 28 Ban Trị sự Phật giáo tỉnh, thành và sự hình thành 6 Ban trong hệ thống tổ chức của Giáo hội, thì giai đoạn thứ hai do Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Chủ tịch Hội đồng Trị sự là giai đoạn Giáo hội kiện toàn, đổi mới cơ chế tổ chức và nội dung hoạt động; tăng cường sự ổn định, từng bước phát triển vững chắc theo định hướng mục tiêu “Kế thừa – Ổn định – Phát triển” với sự hình thành của 13 Ban, Viện Trung ương, cùng với những thành quả Phật sự đã đạt được trên nhiều lĩnh vực. Sự phát triển đó đã được lịch sử chứng minh qua từng bước cải cách guồng máy tổ chức, qua việc tu chỉnh, bổ sung các vấn đề trọng yếu trong bản Hiến chương, sự ra đời các văn kiện quan trọng của Giáo hội, nhất là qua sự tăng cường từ 6 Ban, Viện lên đến 13 Ban, Viện Trung ương nhằm phục vụ hiệu quả công tác Phật sự trước yêu cầu thực tiễn, ban hành quy chế các cấp Giáo hội, nội quy các Ban, Viện và cơ chế tổ chức hành chính của Giáo hội.

Nhìn lại quá trình trong suốt 40 năm hình thành, ổn định và phát triển của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, từ ngày đầu mới thành lập Giáo hội cho đến giữa nhiệm kỳ VII (2012-2017), trải qua 7 nhiệm kỳ, dù ở trên cương vị nào, Hòa thượng Thích Trí Tịnh cũng tận tâm tận lực cống hiến cho sự nghiệp xương minh Giáo hội, nhất là trên cương vị Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà Ngài đảm nhận từ giữa nhiệm kỳ I (1981-1987) cho đến giữa nhiệm kỳ VII (2012-2017), Ngài đã kế thừa và phát huy nền móng vững chắc từ thời kỳ đầu, tạo thế ổn định vững chãi và từng bước phát triển ngôi nhà Giáo hội trong điều kiện Phật giáo Việt Nam đang trên đà hội nhập quốc tế, trong giai đoạn này, Ngài đã trí tuệ, bản lĩnh, lèo lái con thuyền Phật giáo Việt Nam vượt qua bao khó khăn thử thách, hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử giao phó.

 

Chú thích:

* HT. Thích Huệ Thông – Phó Tổng Thư ký kiêm Chánh Văn phòng 2 Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

[1] Đây là mô hình Hội của những Phật tử đã Quy y Tam bảo tại các tỉnh, thành phía Bắc.

Trả lời