Kiến trúc chùa tháp Ðại Việt thời Lý qua một số công trình tiêu biểu (SC. Thích Nữ Huệ Lộc)


Thời nhà Lý, Phật giáo rất được xem trọng và phát triển mạnh mẽ. Nhiều công trình Phật giáo ra đời, đặc biệt là chùa, tháp. Đó là những di sản văn hóa giá trị cho hậu thế, góp phần làm giàu nền văn hiến nước ta. Tìm hiểu về kiến trúc chùa tháp Đại Việt thời nhà Lý cũng soi sáng thêm giá trị vượt thời gian của Phật giáo trong lòng dân tộc.

ĐÔI NÉT VỀ TRIỀU LÝ

Triều Lý tồn tại gần 216 năm (1009-1225), trải qua chín đời vua. Sau khi lên ngôi hoàng đế, năm 1010, vua Lý Công Uẩn thực hiện việc dời đô từ Hoa Lư ra thành Đại La và đổi tên nơi đây thành Thăng Long. Các vua kế tục triều đại như: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông,… đều là những bậc minh quân, ngoài ổn định bờ cõi, trong chăm lo cho nhân dân được bình yên, sung túc. Nhắc tới triều Lý, người ta thường nhắc đến một triều đại thuần từ, vua đã miễn thuế cho dân trong ba năm, đặc biệt những người mồ côi, góa bụa, già yếu, thiếu thuế lâu năm đều được miễn thuế [1]. Vua Lý Thánh Tông từng bảo các quan tả hữu: “Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày hai bữa” [2].

Triều Lý cũng hết lòng ủng hộ Phật giáo. Vua Lý Thái Tổ cho dân được phép xuất gia làm Sư, lại cho xuất 1.680 lạng bạc để đúc chuông chùa Đại Giáo [3], xuất 310 lạng vàng để đúc chuông chùa Hưng Thiên [4] phát trăm lạng bạc để đúc hai quả chuông ở chùa Thắng Nghiêm và tinh lâu Ngũ Phượng [5]. Vua lại cho dựng Thái Miếu, cho làm chùa Chân Giáo ở trong thành để thuận tiện giá ngự xem kinh. Vua còn phát sáu nghìn cân đồng để đúc chuông chùa Trùng Quang, cho mở hội ở Long Trì, khánh thành pho tượng Phật Đại Nguyện, đại xá thiên hạ, chép Đại Tạng Kinh [6]. Sau đó, vua lại cho dựng chùa Diên Hựu, Sùng Khánh, xây bảo tháp Đại Thắng Tư Thiên… Có thể nói, dưới triều Lý, Phật giáo đã có những bước phát triển rực rỡ thể hiện qua nhiều phương diện, đặc biệt là các công trình kiến trúc chùa tháp.

Chùa Một Cột
(Chùa Diên Hựu) còn gọi là Liên Hoa đài: “Mùa đông tháng 10 năm 1049, vua Lý Thái Tông (1028-1054) nhân vì nằm mộng thấy Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt tay vua lên tòa… nhân đó vua cho xây chùa giống hình một bông sen”.
(Ảnh: phatgiao.org.vn)

KIẾN TRÚC CHÙA PHÁP

Đây là nét đặc trưng để nhận biết các thời kỳ lịch sử. Vì vậy, mỗi ngôi chùa đều nói lên nền văn hóa của các triều đại, thể hiện qua đôi tay khéo léo cũng như khối óc của các nghệ nhân lúc bấy giờ, đồng thời thể hiện khát vọng về tâm linh của nhân dân. Tất cả đều mang đậm bản sắc phong vị đặc trưng thời đại, dưới đây là một số ngôi chùa, tháp danh tiếng có kiến trúc đặc biệt ấy.

Chùa và tháp Báo Thiên

Có ý kiến cho rằng: chùa Sùng Khánh được kiến thiết từ đời nhà Trần. Chùa cũ vốn là một công trình thờ Phật từ thời Trần, quý hiếm trên miền thượng du, được làm bằng gỗ, lợp lá, dựng vào năm 1356, nhưng đã bị đổ nát từ lâu. Ngôi chùa hiện nay được nhân dân xây dựng vào năm 1989 trên nền ngôi chùa cũ nhưng nhỏ và thấp hơn [7]. Một ý kiến khác lại khẳng định: năm 1057, vua Lý Thánh Tông cho dựng chùa Thiên Phúc, Thiên Thọ và tháp Đại Thắng Tư Thiên [8] hay còn gọi là tháp Báo Thiên.

Kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng qua nghiên cứu các tư liệu cho rằng: “Năm thứ ba niên hiệu Long Thụy Thái Bình (1056), bầy tôi La Hán ở điện Thiên An, mùa xuân tháng ba, vua cho khởi công xây dựng chùa Sùng Khánh (chùa Báo Thiên), lại xuất 12.000 cân đồng trong kho ra để đúc một quả chuông treo ở đó. Vua ngự chế bài minh văn. Năm sau (1057), mùa xuân thứ ba, xây ở trước chùa một ngọn tháp lớn 12 tầng, cao 20 trượng đặt tên là Đại Thắng Tư Thiên” [9]. Như vậy về niên đại của ngôi chùa, chúng ta đã rõ ràng.

Về kiến trúc, chùa được thiết kế theo hình chữ “Nhất” (-), chỉ có một gian, gồm một cửa chính và hai cửa phụ hai bên, diện tích 26m2, cao 4,3m. Đây là ngôi chùa thiết kế đơn giản, có phần giống với nhà dân ở. Tháp Báo Thiên được xây trong chùa, cao 20 trượng, 12 tầng, ngọn (đỉnh) tháp bằng đồng và ngôi tháp này là một trong “tứ đại khí” của An Nam, nhưng tiếc thay nay đã không còn nữa [10], chỉ còn nền tháp. Hiện nay, Nhà thờ Lớn Hà Nội xây trên nền tháp Báo Thiên cũ này. Vậy nên để tìm được hình ảnh của ngôi Báo Thiên “tráng lệ, đồ sộ bậc nhất nước ta” thì rất hiếm, có chăng chỉ là thông qua tháp chùa Long Đọi để phỏng dựng lại thôi. Tháp Long Đọi xây vuông, ảnh hưởng kiến trúc tháp nhiều tầng của Trung Hoa [11], có lẽ tháp Báo Thiên cũng có dáng dấp của kiến trúc Trung Hoa ấy.

Chùa Diên Hựu (chùa Một Cột)

Chùa xây dựng vào năm 1049 [12], tuy nhiên theo giáo sư Hà Văn Tấn, chùa được xây năm 1105. Đại Việt Sử ký Toàn thư chép rằng: “Mùa đông tháng 10 năm 1049, vua Lý Thái Tông (1028-1054) nhân vì nằm mộng thấy Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen, dắt tay vua lên tòa… nhân đó vua cho xây chùa giống hình một bông sen” [13], đặt tên là Diên Hựu với ý nghĩa muốn kéo dài tuổi thọ (cầu trường thọ). Mùa thu năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho làm hai ngọn tháp chỏm trắng ở chùa Diên Hựu, sửa lại đẹp hơn [14] chùa Một Cột còn gọi là Liên Hoa đài. Chùa được dựng trên cột đá, gồm hai cấu kiện tròn chồng khớp lên nhau đường kính 1m2 [15] đội tòa chùa bên trên như thể một cái cuống đưa đóa hoa sen nổi trên mặt hồ nước. Hồ vuông nhỏ có tên Linh Chiểu, mỗi bề rộng khoảng 16m [16], trụ cao 4m tính từ mặt nước lên đến sàn điện. Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu từ các triều đại Lý-Trần-hậu Lê. Năm 1945, chùa đã bị thực dân Pháp phá hủy, toàn bộ kiến trúc bị mất, chỉ còn cột đá. Mãi đến năm 1955, chùa mới được Chính phủ phục dựng lại với bản vẽ của kiến trúc sư Nguyễn Bá Chí ở trường Viễn Đông Bác Cổ và nhà nghiên cứu nghệ thuật Louis Bezacier [17].

Theo Đại Nam nhất thống chí, cột tháp chùa Một Cột cao một trượng (tương đương 3,30m) chu vi cột 9 thước (tương đương 2,80m) […] Đầu trụ có các lỗ đặt 8 con sơn, đỡ 8 đoạn xà cùng cắm vào thân trụ, hình thành một cấu trúc như đấu. Hệ thống con sơn và xà cụt này đỡ lấy một điện thờ như kiểu một nhà sàn, điện thờ cao 3m, mỗi cạnh rộng 4,60m, tòa điện có một hành lang vây quanh rộng 1m, lòng điện mỗi cánh rộng 2,60m. Mái điện lợp ngói, đắp hai con rồng chầu mặt trời trên bờ nóc, các góc mái cong lên [18]. Ở chùa Dạm cũng có cột đá cao 5m, cột đá liền một khối, chu vi 15m “có thể đó là một tháp hoa sen trên cạn” được thái hậu Linh Nhân nhà Lý xây trong khoảng năm 1086-1094 [19].

Cũng có ý kiến cho rằng, chùa Diên Hựu là sự phát triển kiến trúc cổ truyền, với khởi thủy là những cái am thờ giữa trời mà người dân thường thờ cúng. Các nhà nghiên cứu dân tộc học và khảo cổ học đã xác nhận truyền thống am thờ ấy. Có thể nói, chùa Một Cột sở hữu kiến trúc đặc thù, tiếp thu cái cũ và chuyển hóa cái mới, cái mới ở đây là biểu tượng bông sen, “lầu chuông một cột, sáu cạnh, hình hoa sen” [20], vừa mang tính thẩm mỹ vừa dung chứa tinh thần Phật giáo. Tháp Một Cột là mô hình tháp hoa sen, có tính biểu tượng và hiện thực, kết hợp hoàn hảo nhất, đủ những yếu tố của một chùa tháp cổ điển. Có thể nói, chùa Một Cột là kiến trúc độc đáo của đất nước, là niềm tự hào của dân tộc, chùa đã trở thành biểu tượng trên tờ tiền Việt Nam.

Tháp Bình Sơn

Tháp còn có tên khác là tháp Then, được xây trong chùa Vĩnh Khánh, làng Bình Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên. Tháp xây vuông, toàn bằng gạch nung già, màu đỏ xẫm, cao 15m, chân tháp rộng hơn 4m, càng lên cao càng nhỏ dần đến đỉnh tháp chỉ rộng còn 2m, được thiết kế theo dạng tháp rỗng từ chân tháp đến ngọn, nhưng mặt ngoài chia làm 11 tầng. Tầng dưới cùng đơn giản có một hàng gạch cao 12 phân được chạm khắc đường diềm hình lá cúc mềm mại, trên bệ là tòa sen ba tầng cánh sen, tầng dưới úp súp, hai tầng trên lật ngửa, để nâng đỡ các tầng tháp trên, tầng thứ nhất cao 3m càng lên cao khoảng cách giữa các tầng càng ngắn lại và đến tầng thứ 11 thì chỉ cao 1m2 [21]. Mỗi tầng tháp có khuôn cửa ở ba mặt, mặt còn lại được bít kín, trong đó mỗi khuôn cửa được thiết kế hình chữ nhật, chém cạnh hai góc ở phía trên, riêng cửa phía Tây thì bỏ ngỏ. Thực chất tháp có tổng thể tới 13 tầng, nhưng do trải qua thời gian tồn tại quá dài, phần trên đã bị sụp đổ, bằng chứng là khi trùng tu lại tháp người ta đã phát hiện một viên gạch ở tầng thứ 9 có khắc dòng chữ “thập tam tầng” [22].

Tháp Bình Sơn. Tháp còn có tên khác là tháp Then, được xây trong chùa Vĩnh Khánh, làng Bình Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên. (Ảnh: phatgiao.org.vn)

Mái tháp được lợp ngói âm dương kiểu ống trúc, phần diềm ngói có hình lá đề. Một đặc trưng nữa của kiến trúc tháp là sự hòa điệu giữa các viên gạch không đồng nhau, có khổ lớn xây ở thân tháp và mỏng nhỏ ở chỗ các vành đai, gờ và diềm. Tất cả viên gạch liên kết với nhau bằng các móc chì mà không dùng bất kỳ chất kết dính nào như hồ vữa, giống với kỹ thuật kiến trúc văn hóa Chăm [23]. Một nghiên cứu khác cho thấy, các viên gạch nối với nhau bằng chân gạch “xây bằng loại gạch vuông 22x22cm hay gạch chữ nhật 45x22cm. Lớp gạch ốp ngoài 46x46cm, dàn thành hàng bọc kín tháp. Loại gạch này có chân gấp cài vào lớp gạch của trụ tháp” [24].

Về niên đại của tháp Bình Sơn vẫn còn nhiều tranh cãi, có người cho rằng tháp thuộc đời nhà Trần. Nhưng theo Nguyễn Bá Lăng, đây là kiến trúc từ đời Lý. Ông đã đưa ra bằng chứng là đầu ngói phát hiện tại Hình Nhân, gần Bình Sơn mang phong cách nghệ thuật Đại La (thế kỷ XI, triều Lý). Tháp Bình Sơn hiện nay đã trải qua mấy lần trùng tu, lần cuối cùng vào năm 1974, tháp được tháo dỡ hoàn toàn, rồi lắp ráp lại.

Tháp chùa Phật Tích

Chùa Phật Tích còn có tên gọi khác là Vạn Phúc tự, nằm ở sườn núi Tiên Du, thôn Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Chùa đã được trùng tu mấy lần trong lịch sử. Lần đại tu lớn nhất vào thế kỷ XVII nhưng đến năm 1947, do chiến tranh nên chùa bị hủy hoại. Sau này, chùa lại được trùng tu và Thượng tọa Thích Đức Thiện làm lễ khánh thành năm 2010. Nền chùa cũ vẫn còn và được nhận ra. Ngày nay, dấu vết mặt bằng của kiến trúc ngôi chùa thời Lý còn có thể nhận ra qua ba bậc nền bạt vào sườn núi. Các nền hình chữ nhật dài khoảng 60m, rộng khoảng 33m, mặt ngoài bó bằng các tảng đá khối hộp chữ nhật [25]. Nền thứ nhất là nền chùa, nền thứ hai là nền tháp, nền thứ ba là nền của một cái ao. Theo nhận định của giáo sư Hà Văn Tấn: chùa Phật Tích này giữ được nhiều tác phẩm điêu khắc thời Lý như tượng mười con linh thú bằng đá đúc, pho tượng Phật ngồi trên tòa sen, hình rồng hoa lá đặc trưng của thời Lý…đặc sắc nhất của chùa này chính là có một vườn tháp cổ.

Dựa vào tấm bia đá Vạn Phúc đại Thiên tự bi, chúng ta biết được: “Vào năm Long Thụy Thái Bình thứ 4 (1057), vua cho dựng cây tháp báu cao nghìn trượng, lại cho dựng pho tượng mình vàng cao 6 thước” [26]. Những năm 1940, trường Viễn Đông Bác Cổ đào nền chùa Phật Tích tìm thấy “một nền tháp vuông mỗi chiều rộng 8m50, nhiều vật điêu khắc trên sa thạch và nhiều gạch nung lớn nhỏ khác nhau, đều một màu đỏ tươi in khắc hàng chữ Lý triều đệ tam đế, Long Thụy Thái Bình đệ tứ niên” [27]. Tháp Phật Tích có 14 tầng, rỗng bên trong. Móng tháp có hai tầng xây giật cấp, chồng lên nhau. Gạch xây tháp đều được xếp theo hàng ngang, phần đầu gạch đâm ra ngoài, mỗi hàng trung bình xếp 6 viên gạch với nhiều kích thước khác nhau. Chất kết dính để xây dựng tháp hoàn toàn là đất sét nhuyễn, không hề có bất kỳ một chút vôi vữa hay chất kết dính nào khác. Các mạch vữa mỏng đến nỗi nhìn bề ngoài chẳng khác gì các viên gạch được xếp chồng lên nhau. [28]

NHẬN ĐỊNH CHUNG

Thông qua kiến trúc chùa tháp Đại Việt thời lý, ta thấy mỗi chùa, tháp đều có bố cục cân đối theo nhiều kiểu phong phú nhưng đều tuân theo một quy tắc nhất định. Đặc biệt, chùa Việt Nam không chỉ là một công trình mà là một quần thể kiến trúc được thiết kế theo lối “Nội Công Ngoại Quốc” và một số chùa khác còn được thiết kế theo kiểu chữa công (工), chữ Đinh (丁), chữ Tam ( 三). Có một số ngôi chùa hoặc tháp, được các sử gia liệt kê vào triều Lý như ngôi chùa, tháp Bình Sơn “nhà Lý dựng nhiều bảo tháp, hầu hết bị rỡ phá, nay rất may mắn mà còn lại một cây tương đối toàn vẹn gọi là tháp Then tại chùa Vĩnh Khánh, làng Bình Sơn, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Yên” [29]. Lại có ý kiến cho rằng, tháp Bình Sơn là kiến trúc của đời Trần “May mắn là cho đến nay vẫn còn hai cây tháp thời Trần khá nguyên vẹn. Đó là tháp Phổ Minh và tháp Bình Sơn” [30]. Qua đó người viết nhận thấy, các chùa ở Việt Nam có truyền thống kế tục nhau, phát triển cái mới dựa trên nền tảng cái cũ. Chắc chắn rằng, các ngôi chùa tháp bị bào mòn bởi gió bụi thời gian và được trùng tu lại qua mỗi triều đại, mỗi lần trùng tu lại tiếp nhận thêm một kiểu thức mới, kiểu thức đặc thù của một triều đại, đó là điều hiển nhiên. Chùa thời Lý-Trần nói riêng và chùa Việt Nam nói chung thường không phải là một công trình mà là một quần thể kiến trúc, được thiết kế nhiều dãy nhà liên kết với nhau bởi các dãy hành lang, phân loại theo cấu trúc nhất định từ ngoài vào trong, từ trước ra sau, đầu tiên là cổng Tam Quan, vào một khoảng sân chùa rồi đến tháp ở trước chùa, sau đến các công trình như: nhà bái đường, chánh điện, hành lang hai bên, hậu đường ở cuối. Nhìn chung, chùa tháp Việt Nam thời Lý-Trần được xem như đỉnh cao về văn hóa, kiến trúc của Đại Việt thời trung đại, thể hiện thời huy hoàng của Phật giáo, để hậu thế mãi tôn vinh, học tập giá trị vật chất lẫn tinh thần mà người xưa để lại.

Tháp chùa Phật Tích. Chùa Phật Tích còn có tên gọi khác là Vạn Phúc tự, nằm ở sườn núi Tiên Du, thôn Phật Tích, xã Phật Tích, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. (Ảnh: phatgiao.org.vn)

KẾT LUẬN

Nhìn chung, công trình kiến trúc chùa tháp thời bấy giờ đã phản ánh một giai đoạn hưng thịnh của đất nước. Đất nước hưng thịnh mới có nhiều công trình to lớn, mỹ lệ. Văn hóa, nghệ thuật có phát triển mạnh mới đào tạo nên đội ngũ tay nghề điêu luyện. Phải có những vị vua ủng hộ Phật pháp mới có nhiều chùa tháp ra đời. Vì vậy, kiến trúc chùa tháp thời này không chỉ đại diện cho di sản văn hóa vật thể của một giai đoạn lịch sử mà còn hàm chứa giá trị tinh thần về tôn giáo của một đất nước. Đồng thời cũng nói lên sứ mạng “Phật giáo luôn đồng hành cùng dân tộc”, hòa nhập vào đời sống nhân nhân, những kiến trúc chùa tháp chịu ảnh hưởng của phong tục dân gian và ngược lại kiến trúc dân gian cũng chịu ảnh hưởng của chùa tháp. Nên hàng hậu bối chúng ta ngày này phải chung tay gìn giữ và bảo vệ giá trị văn hóa đó, coi đó như bài học lịch sử mà ông cha đã gây dựng, đồng thời nhắc nhở con cháu tương lai kế tục phát huy truyền thống văn hóa Phật giáo.

SC. Thích Nữ Huệ Lộc

 

Chú thích:

[1] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô sĩ Liên, Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1993, tr.82.

[2] Sđd, tr.105.

[3] Sđd, tr.82.

[4] Sđd, tr.83.

[5] Sđd, tr.84.

[6] Sđd, tr.95.

[7] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, Chùa Việt Nam (in lần thứ năm), Nxb. Thế Giới, Hà Nội, 2013, tr.202.

[8] Sđd, tr.18.

[9] Nguyễn Bá Lăng, Kiến trúc Phật giáo Việt Nam tập 1, Viện Đại học Vạn Hạnh 2516-1972, TP. HCM, 2016, tr.62.

[10] Sđd, tr.80.

[11] Trần Lâm Biền, Chùa Việt, Nxb. Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1996, tr.30.

[12] Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb. Phương Đông, TP. HCM, 2012, tr.154.

[13] Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên, Đại việt sử ký toàn thư, Nxb. Khoa học Xã Hội, Hà Nội, 1993, tr.102.

[14] Sđd, tr.115.

[15] Theo tác phẩm Tháp cổ Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 14: “đường kính cột trụ là 1,25m.”

[16] Theo tác phẩm Tháp cổ Việt Nam của Nguyễn Duy Hinh, tr.14, hồ rộng 17,5m.

[17] Sđd, tr.14.

[18] Sđd, tr.14.

[19] Sđd, tr 18.

[20] Chu Quang Trứ, Mỹ Thuật Lý-Trần, Nxb. Mỹ thuật, Hà Nội, 2012, tr.125.

[21] Nguyễn Bá Lăng, sđd, tr.83-84.

[22] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, tr.138.

[23] Nguyễn Bá Lăng, Sđd, tr.84.

[24] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, tr.138.

[25] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, Sđd, tr.89.

[26] Sđd, tr.88.

[27] Nguyễn Bá Lăng, Sđd, tr.76

[28] Hà Tùng Long (10/2009), “Phát lộ tháp cổ dưới nền chùa Phật tích”, truy cập ngày 03/01/2021, từ  https://www.phattue.org/node/92 (tham khảo nguồn: Giadinh.net)

[29] Nguyễn Bá Lăng, Sđd, tr.82.

[30] Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, Sđd, tr.31.

Kiến trúc chùa tháp Ðại Việt thời Lý qua một số công trình tiêu biểu (SC. Thích Nữ Huệ Lộc)

Trả lời