Ngôn ngữ ẩn dụ trong một số kinh Pali và A-hàm (SC. Thích Nữ Nhuận Mỹ) 


Trong các bản Kinh tạng Pali và A-Hàm hoặc Đại thừa chúng ta nhận thấy ngôn ngữ của Đức Phật luôn dồi dào các ngụ ngôn và ẩn dụ. Nghiên cứu về hệ thống ngôn ngữ ẩn dụ của Đức Phật rất đa dạng, phong phú và rất đặc sắc. Những ẩn dụ tiêu biểu dưới đây được trích trong kinh tạng A-hàm là điển hình của phép ẩn dụ được Đức Phật thường sử dụng làm phương tiện để giảng dạy cho hội chúng và mọi người nghe ngay từ thời Đức Phật còn tại thế. Ngôn ngữ ẩn dụ thường được Đức Phật sử dụng, tuy ngắn gọn, súc tích nhưng lại ẩn chứa nhiều triết lý sâu sắc. 

PHÉP ẨN DỤ TRONG KINH ĐIỂN PHẬT GIÁO 

Ẩn dụ là thuật ngữ chỉ một hiện tượng ngôn ngữ, đồng thời là một hiện tượng tư duy với cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng. Trong nghĩa hẹp, ẩn dụ là biện pháp tu từ (có trong mọi ngôn ngữ) chuyển đặc tính của đối tượng (sự vật hiện tượng) này cho đối tượng khác theo nguyên tắc có sự tương đồng hoặc tương phản về một mặt nào đó giữa chúng. Ẩn dụ nổi bật ở tính biểu cảm, mở ra những khả năng vô tận cho việc nhìn ra nét gần nhau của những sự vật hiện tượng khác xa về nhau. Trong một số trường hợp ngôn ngữ ẩn dụ còn là biện pháp so sánh ngầm [1]. Đức Phật dùng ngôn ngữ ẩn dụ một cách khéo léo để chỉ rõ về sự thật của các pháp, về luật nhân-quả, về vô thường, khổ và vô ngã, tất cả những  tính chất thiện, ác, trong tâm thức của chúng sanh… Hơn thế nữa, ngôn ngữ ẩn dụ cũng được Đức Phật dùng để trình bày rõ về sự đối lập của tâm thức: Thiện và ác, sanh tử và giải thoát, vô minh phiền não và cảnh giới giác ngộ Niết bàn an vui, hay thế giới Tịnh độ giải thoát không đâu xa mà sẵn có ở trong tâm của mỗi chúng sanh… Như trong Đại Tạng kinh Việt Nam, Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikaya), tập 3, III. Phẩm Gánh Nặng, Đức Phật dùng ẩn dụ về năm thủ uẩn của con người là hình ảnh “gánh nặng” để nói lên cái thân là hợp thể năm uẩn chất chứa sự khổ đau, nặng nề và vô thường: “Này các Tỳ kheo, thế nào là gánh nặng? Năm thủ uẩn là câu trả lời. Thế nào là năm? Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này các Tỳ kheo, đây gọi là gánh nặng” [2].

ẨN DỤ “GÁNH NẶNG”

Gánh là một khúc cây treo vật nặng hai đầu, người ta đưa vai vào nâng lên và mang vật đó từ nơi này sang nơi khác. Cả vai và toàn cơ thể của người đó phải chịu sự khổ nhọc, nặng nề từ vật nặng hai đầu đòn gánh. Từ “gánh nặng” được Đức Phật dùng ẩn dụ chỉ cho thân năm uẩn của chúng ta. Con người là một hợp thể năm thủ uẩn gồm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Năm thủ uẩn vốn là duyên sinh, không có thực thể nhất định, không tồn tại độc lập mà nương vào nhau để tồn tại. Thân năm uẩn vốn dĩ vô thường, vô ngã, nó thường xuyên biến đổi. Vì vậy, người ngu chấp thủ vào năm thủ uẩn làm ngã, cho nó là ta là của ta nên sinh ra tham ái và khổ đau khi thân năm thủ uẩn thay đổi và biến hoại. Qua hình ảnh ẩn dụ của Đức Phật về “gánh nặng”, chúng ta nhận diện được rõ về năm thủ uẩn, luôn quán chiếu thấy rõ sự giả hợp của thân năm thủ uẩn nên không còn tham ái và chấp thủ. Khi không còn tham ái, chấp trước vào năm thủ uẩn nữa, đoạn tận các lậu hoặc thì đạt đến cảnh giới Niết bàn như trong kinh Bát nhã đề cập: “…Ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách… viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn…”. Trong Đại Tạng kinh Việt Nam, Trường Bộ Kinh (Digha Nikaya), tập 3, kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt, Đức Phật dùng ngôn ngữ ẩn dụ: 

… “Chơi xúc xắc, uống rượu

Theo đuổi đàn bà người,

Lẽ sống của người khác,

Thân cận kẻ hạ tiện,

Không thân cận bậc trí,

Người ấy tự héo mòn,

Như trăng trong mùa khuyết…” [3].

Ẩn dụ “trăng mùa khuyết”

Đức Phật dùng ngôn ngữ ẩn dụ về sự “héo mòn”, “trăng mùa khuyết” là những hình ảnh sự vật méo mó, không đẹp, con người thì không thể héo chỉ có cái cây mới héo, cách nói ẩn dụ, so sánh con người cũng giống như loài vô tình đó trở thành nghệ thuật trong văn chương. Điều này cho thấy Đức Phật dùng ngôn ngữ ẩn dụ như là một phương tiện thiện xảo để hóa độ chúng sanh. Đó cũng thể hiện năng lực “biện tài vô ngại” trong việc hóa độ chúng sanh của Đức Phật.

Trong đoạn kinh trên qua cách nói ẩn dụ, Đức Phật đã nói đến hạng người ngu si, lười biếng chỉ ham hưởng thụ, chơi bời thân cận ác tri thức, chạy theo các thứ dục lạc ở đời, rồi gây tạo nhiều nghiệp ác. Kết quả kẻ ngu như vậy luôn phải gặt hái khổ đau, phiền não. Chúng ta thông qua những lời ẩn dụ của Đức Phật, ý thức để không rơi vào những việc sai trái. Từ đó, dần dần hướng đến kiện toàn nhân cách, đạo đức ngày một trở nên tốt hơn, sống đẹp, sống có ý nghĩa sẽ gặt hái kết quả an vui hơn; hoặc trong Đại Tạng kinh Việt Nam, Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikaya), tập 2, Các Uế Nhiễm, Đức Phật dùng ngôn ngữ ẩn dụ như:

… “Các Sa-môn, Phạm chí,

Sinh sống theo tà mạng.

Phật, bà con mặt trời

Nói đến uế nhiễm ấy,

Bị ô nhiễm bởi chúng,

Các Sa-môn, Phạm chí,

Không cháy sáng, chói sáng…” [4].

 

Đức Phật là bậc đại trí sáng suốt như mặt trời sáng soi; còn ngọn lửa, ánh đèn “không cháy sáng, chói sáng”, ẩn dụ so sánh ngầm chỉ cho sự việc các Sa-môn, Phạm chí ngu si bị nhiễm ô bởi các dục lạc thế gian. Đoạn kinh trên Đức Phật chỉ cho chúng ta thấy các Sa-môn, Phạm chí sinh sống bằng tà mạng, là những nghề nghiệp của thế tục và bị ô nhiễm bởi chúng, không phát huy được vai trò là bậc thầy của trời người, không chói sáng như vậy rất là đáng tiếc. Đức Phật, bậc từ bi và trí tuệ sáng soi, đã dạy các Sa-môn, Phạm chí không nên theo những cách sống tà mạng, không chân chánh làm chướng ngại của sự tu tập, chứng quả giải thoát. Ngôn ngữ ẩn dụ vốn dĩ rất phong phú, đặc sắc và là phương tiện ngôn ngữ chủ đạo mà Đức Thế Tôn thường dùng để thuyết giảng ngay vào thời bấy giờ. Do đó, cách nói ẩn dụ đóng vai trò quan trọng trong kinh văn và nền văn học Phật giáo. 

ẨN DỤ MÀU SẮC CỦA NGHIỆP

Trong kinh Tăng Chi Bộ – Anguttara Nikaya, Chương IV – Bốn Pháp Phẩm Nghiệp, Đức Phật dùng ngôn ngữ ẩn dụ để minh họa về bốn nghiệp như sau: … “Này các Tỳ kheo, có nghiệp đen quả đen; này các Tỳ kheo, có nghiệp trắng quả trắng; này các Tỳ kheo, có nghiệp đen trắng, quả đen trắng, này các Tỳ kheo, cónghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt. Có bốn nghiệp này, này các Tỳ kheo, đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng…” [5].

“Nghiệp” (Karma) Hán phiên âm là Yết-ma chỉ những cái sở tác thiện, ác, vô ký của thân, khẩu, ý. Từ tính thiện tính ác đó mà cảm thụ được sướng hay khổ, nên gọi là nghiệp nhân. Nếu xảy ra trong quá khứ thì gọi là Túc nghiệp, đang diễn ra ở hiện tại thì gọi là Hiện nghiệp. Nghiệp có 3 loại tiêu biểu: 1. Thân nghiệp có ba loại nghiệp: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm; Khẩu nghiệp có bốn loại nghiệp: Nói dối, nói lưỡi đôi chiều, nói lời hoa mỹ, ác khẩu; Ý nghiệp có ba loại nghiệp: Tham lam, sân hận, si mê.

Định luật nhân quả trong lĩnh vực tinh thần đạo đức là Nghiệp báo. Tái sanh là hệ luật tự nhiên của nghiệp. Nghiệp báo và Tái sanh là hai giáo lý căn bản trong Đạo Phật có liên quan mật thiết với nhau. Từ trước thời Đức Phật, hai học thuyết Nghiệp báo và Tái sanh đã được truyền bá sâu rộng tại Ấn Độ. Tuy nhiên, chính Đức Phật đã giải thích tường tận và trình bày đầy đủ giáo pháp cao siêu ấy, đến nay vẫn còn lưu truyền [6]. Trong đoạn kinh trên, Đức Phật dùng từ ẩn dụ là những từ chỉ màu sắc, “nghiệp đen quả đen”, “nghiệp trắng quả trắng”, “nghiệp đen trắng quả đen trắng”, “nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng”. Đó là những cách ẩn dụ trình bày rõ về luật nhân-quả rất ấn tượng dễ dàng khai thị và giác ngộ tâm thức của chúng sanh. Qua đó, còn chứa đựng cả triết lý Phật giáo quan trọng của về nghiệp và nghiệp đoạn diệt giải thoát.  

“Nghiệp đen quả đen”: Nghiệp đen chỉ cho ác nghiệp do thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp đã gây tạo trong quá khứ và hiện tại gây nên quả đen tức là quả khổ trong hiện tại. Như vậy, do cái nhân xấu ác tức nghiệp đen tạo nên kết quả khổ đau như trong địa ngục là quả đen. Tất cả gì tốt xấu của chúng ta hôm nay đều do việc làm mà chúng ta đã tự tạo trong đời quá khứ và tất cả gì ta làm trong hiện tại sẽ tập thành cái tương lai của chúng ta. Quá khứ và tương lai ai cũng có nhưng không tách rời hiện tại [7]. “Nghiệp trắng quả trắng”: Người có trí tuệ, nhận thức rõ về nhân quả của nghiệp, từ đó ba nghiệp thân, khẩu, ý của người đó tạo tác toàn thiện nghiệp (nghiệp trắng), đúng chánh pháp, tức là người đó luôn sống trong chánh niệm chân chánh để tạo những thiện nghiệp, lợi ích cho tự thân và cho tha nhân. Do cái nhân từ hành động, việc làm, ý nghĩ chân chánh, người đó dần xa lìa con đường ác đạo mà có kết quả được sống trong cõi an lạc thù thắng, thân cận những bậc thiện tri thức. “Nghiệp đen trắng”, “quả đen trắng” là ngụ ý của Đức Phật nói đến người tạo tác nghiệp vừa thiện, vừa ác thì phải gặt hái kết quả cũng vừa thiện tốt vừa xấu ác, không hoàn toàn. “Nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, nghiệp đưa đến đoạn diệt”.  Người giác ngộ, thấy rõ được thực tính của các pháp, thấy rõ được quy luật nhân-quả luân hồi và thấy được con đường Chánh đạo, phương thức chứng đắc bốn Thánh quả (Sơ quả Tu-đà-hoàn, Nhị quả Tư-đà-hàm, Tam quả A-na-hàm và Tứ quả A-la-hán). Người đó tiến tu diệt trừ tâm tham, sân, si đạt được vô lậu không còn phiền não, chứng đắc Niết bàn là sự đoạn diệt như đoạn kinh trên Đức Phật đã dạy. Thánh quả A-la-hán là mục tiêu tối hậu của hành giả: “Sanh đã tận, lậu đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”. Dựa trên nền tảng căn bản Giới – Định – Tuệ, hành giả tu tập hành trì Giới luật nghiêm mật để phòng hộ các căn, đó cũng là cách để thực hành thiền định. Do Giới sanh Định, an trú vào Định để thanh lọc phiền não để tâm được thanh tịnh, nhân Định phát sanh Trí huệ. Hành giả sẽ tiến tu để đạt được kinh nghiệm các cấp độ Thiền (Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền). Đó là nghiệp không đen trắng quả không đen trắng, là nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt. Cho nên chư Tổ thường có câu: “Chẳng tạo nghiệp tự nhiên đắc đạo, nếu người không tạo nghiệp thì nghiệp với người cùng diệt” [8]. 

“Này các Tỳ kheo, có nghiệp đen quả đen; này các Tỳ kheo,
có nghiệp trắng quả trắng; này các Tỳ kheo, có nghiệp đen trắng, quả đen trắng, này các Tỳ kheo, có nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt. Có bốn nghiệp này, này các Tỳ kheo, đã được Ta chứng ngộ với thắng trí và thuyết giảng…”

Thông qua ngôn ngữ ẩn dụ trong bài kinh mà Đức Phật dạy răn về bốn nghiệp. Chúng ta thấy được chỉ do nơi hành động tạo tác qua thân, khẩu, ý của con người mà có bốn nghiệp: “Nghiệp đen quả đen, nghiệp trắng quả trắng, nghiệp đen trắng quả đen trắng, nghiệp không đen trắng quả không đen trắng, nghiệp đưa đến nghiệp đoạn diệt”. Sự sai biệt về bốn nghiệp là do cái nhân tốt hay xấu, thiện hay ác đã gây tạo trong hiện tại, trong kinh cũng có đoạn: “Bạch Thế Tôn, vì lý do nào và nguyên nhân nào trong đời có người yểu (appayuka) và có người thọ (dighayuka), người bệnh hoạn (bavhaba-dha) và người khỏe mạnh (appabadha), người xấu xa (dubbanna) và người đẹp đẽ (vannavanta),… có người nghèo khổ (appabhopga) và người giàu sang (mahadhoga) [9]… Đức Phật trả lời vắn tắt như thế này: “Tất cả chúng sanh đều mang theo cái nghiệp (karma) của chính mình như một di sản, như vật di truyền, như người chí thân, như chỗ nương tựa. Chính vì cái nghiệp riêng của mỗi người mỗi khác nên mới có cảnh dị đồng giữa chúng sanh” [10].

Nhân tố chủ yếu của sự tạo nghiệp là ý thức, vì vậy với ý nghĩ, lời nói và hành động có trí tuệ thì an lạc hạnh phúc theo sau, với ý nghĩ, lời nói hành động do vô minh thì liền phải chịu quả khổ đau, nên chúng ta phải luôn có chánh kiến, trí tuệ. Chúng ta đều có thể thay đổi, chuyển hóa nghiệp lực của mình bằng sự phát tâm tu tập, tạo nghiệp tốt lành, lợi ích cho tự thân và tha nhân. Như vậy, hiểu rõ được lời dạy của Đức Thế Tôn trong kinh tạng, qua những ngôn ngữ ẩn dụ, thì mọi người nhận thức được tầm quan trọng sự tu tập nghiêm túc ngay trong thực tế cuộc sống. Những câu kinh trên cho thấy rằng, Đức Phật đã ẩn dụ cái nhân chủ yếu là do tâm thiện hay ác con người gậy tạo nên chuỗi nhân-quả nghiệp báo luân hồi bất tận. Chính cách ẩn dụ sâu sắc và độc đáo của Đức Phật đã đình hình trong tâm thức người nghe chuỗi nghiệp khác nhau, đối nghịch rõ rệt “nghiệp đen, nghiệp trắng”. 

Y cứ vào vào đó chúng ta có thể liên hệ với thực tế, chỉ có nghiệp nhân thọ Giới trì Giới mới đưa đến quả giải thoát luân hồi khổ đau. Đức Phật chế Giới cho chúng đệ tử xuất gia và tại gia gồm: Trong đó 5 giới của Phật tử tại gia (Ưu bà tắc, Ưu bà di) là căn bản, chuẩn mực đạo đức, đó cũng là căn bản đạo đức của mọi người trong xã hội. Năm giới cấm của Phật tử (gồm: 1. Không sát sanh, 2. Không nói dối, 3. Không trộm cắp, 4. Không tà dâm, 5. Không uống rượu). Giới điều này đưa vào áp dụng cho đời sống của con người nhằm ngăn chặn các hành vi ác, bất thiện và để tạo ra an lạc, hạnh phúc thật sự cho chính con người và xã hội [11].

Giới – Định – Tuệ là nền tảng căn bản của sự tu tập, đó cũng là nền tảng thiết lập nên đạo đức trong xã hội. Mỗi cá nhân, mỗi con người trong xã hội thì cần phải có những chuẩn tắc về hành vi để con người có thể y cứ vào đó mà đánh giá các hành vi thiện hay bất thiện. Một hành vi đem đến hạnh phúc cho mình, cho người, cho xã hội là chuẩn tắc để đánh giá [12]. Khi mọi người đã ý thức tu tập thì đạo đức xã hội ngày một lan rộng hơn. Từ đó tự thân mỗi người góp phần đem lại sự an lạc hạnh phúc cho cộng đồng, cho xã hội nên mỗi quốc gia, mỗi đất nước ngày một văn minh hơn, tốt đẹp hơn, ngày một phát triển hơn. Người xuất gia giữ giới điều theo lời dạy của Đức Phật thì Tỳ kheo có 250 giới điều, Tỳ kheo ni có 348 giới điều. Nên Giới điều tu sĩ xuất gia có tính chất tuyệt đối, triệt để, rốt ráo hơn so với cư sĩ tại gia. Thân, ngữ, ý ba nghiệp đều thanh tịnh là nhân tu tập đưa đến sự đoạn tận mầm mống khổ đau luân hồi làm chuẩn mực đạo đức cao nhất. Khi đạo đức Giới được thực hiện một cách rốt ráo đó là cái nhân đưa con người từ địa vị phàm phu tiến lên địa vị Thánh hiền. Nhưng việc tu tập hành trì Giới – Định – Tuệ của người xuất gia cần phải trải qua thời gian lâu dài và theo sự thọ Giới, theo từng cấp bậc từ thấp lên cao theo đúng phương pháp mà Đức Phật đã dạy trong Giới kinh. Song song với việc giữ gìn các Giới điều thì tu sĩ xuất gia luôn nỗ lực phương tiện thực hiện những việc thiện, lành, giúp đỡ cho mọi người, cứu giúp, chia sẻ đối với những chúng sanh đau khổ. Nên hình bóng của người tu sĩ trong Phật giáo là tiêu biểu về đạo hạnh, đạo đức luôn đem lại niềm tin về tâm linh, chỗ nương tựa về tinh thần trong bối cảnh xã hội luôn bất an, đầy vô thường khổ đau, đem lại sự  ảnh hưởng rất tích cực cần thiết trong xã hội thực tại.

Thông qua các từ ngữ ẩn dụ trong các đoạn kinh trên như: “Nghiệp đen quả đen”, “nghiệp trắng quả trắng”, “nghiệp đen trắng quả đen trắng”, “nghiệp không đen không trắng, quả không đen không trắng”; “gánh nặng”; “héo mòn”, “trăng mùa khuyết”; “Phật, bà con mặt trời”; “không cháy sáng, chói sáng”… Cho thấy ngôn ngữ ẩn dụ là một đặc trưng tiêu biểu, quan trọng, rất đặc sắc và rất thường gặp trong hệ thống ngôn ngữ kinh tạng Phật giáo. Ngôn ngữ ẩn dụ được Đức Phật sử dụng trong các bài kinh không những thể hiện về sự thật, chân lý, triết lý Phật giáo rất sâu sắc, thiết yếu mà còn rất giàu hình ảnh nghệ thuật, âm thanh, sự vật, sự việc… Thông qua nghệ thuật dùng ngôn ngữ ẩn dụ trong những câu kinh, bài kinh ngắn gọn súc tích, phù hợp với mọi đối tượng, mọi trình độ và căn cơ của chúng sanh. Từ đó, người nghe dễ dàng tiếp thu các triết lý Phật pháp và tu tập, hành trì theo đúng lời dạy của Đức Phật. Nên giáo lý Phật giáo là chính là con đường giúp cho con người đạt được hạnh phúc tối hậu, đó là Niết bàn, sự giải thoát toàn vẹn, vì Đức Phật dạy “Ta chỉ dạy khổ và con đường diệt khổ” [13].

 

 

Chú thích và tài liệu tham khảo:

[1]  Thích Hạnh Tuệ, Văn học Phật giáo Việt Nam một hướng tiếp cận, Nxb. Khoa học Xã hội, 2019, tr.185.

[2] Đại Tạng kinh Việt Nam, Tương Ưng Bộ kinh (Samyutta Nikaya), tập 3, Phẩm Gánh Nặng, HT. Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2018, tr.35

[3] Đại Tạng kinh Việt Nam, Trường Bộ kinh (Digha Nikaya), tập 3, Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt, HT Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2018, tr.185.

[4] Đại Tạng kinh Việt Nam, Tăng Chi Bộ kinh (Anguttara Nikaya), tập 2, (X) (50) Các Uế Nhiễm, HT. Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2018, tr.79.

[5] Đại Tạng kinh Việt Nam, kinh Tăng Chi Bộ, tập 2, XXIV, Phẩm Nghiệp, HT Thích Minh Châu dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2018, tr.309-310.

[6] Đức Phật và Phật Pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Nxb. Tôn Giáo, 2009, tr.324.

[7] HT. Thích Trí Quảng, Hai mươi mùa An cư, quyển 1B, Nxb. Hồng Đức, 2015, tr.558.

[8] HT. Thích Trí Tịnh, Ngộ Tánh Luận, Nxb. Thanh Hiền, Sài Gòn, 1973, tr.60.

[9] [10] Phạm Kim Khánh dịch, Đức Phật và Phật Pháp, Nxb. Tôn Giáo, 2009, tr.329-330.

 [11] [12] [13] Thích Viên Trí, Phật giáo qua lăng kính xã hội, Nxb. Hồng Đức, 2018.

Trả lời