Tùng, Trúc, Mai Yên tử (Vũ Xuân Hồng)


Mùa xuân về Yên Tử, chiêm bái lễ Phật, đi dưới bóng tùng đại thụ hàng trăm năm tuổi, ngắm hoa mai vàng khoe sắc, nghe tiếng trúc reo trong gió đại ngàn, trong tiết trời mờ sương, du khách có cảm giác như đang đi giữa chốn bồng lai tiên cảnh…

TÙNG YÊN TỬ

Tùng là loại thực vật lá kim, thân gỗ hạt trần, rễ bám sâu vào lòng đất, dáng vươn thẳng lên trời xanh. Tùng có sức sống dẻo dai trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, địa hình núi cao, vách đá cheo leo, cây quanh năm xanh tốt, có tuổi thọ lên tới ngàn năm. Trong văn hóa Á Đông, cây tùng là hình ảnh của bậc đại trượng phu, thể hiện ý chí vươn lên và sự hiên ngang chính trực. Những bậc tu hành rất yêu quý cây tùng nên thường trồng ở nơi cửa thiền để gửi thông điệp chính đại, quang minh đầy ắp vũ trụ cùng sự tôn nghiêm linh thiêng cho ngôi chùa! 

 

Trong Phật giáo, trúc thể hiện sự an nhiên tự tại, không mê đắm địa vị, vật chất. Bởi tất cả những ưu thế trên của cây trúc, nên đạo hiệu của vua Trần Nhân Tông mang tên “Trúc Lâm Đại sĩ” và rừng trúc Yên Tử Sơn cũng là nơi Ngài tu thiền. (Ảnh bức họa Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn đồ – Sưu tầm)

Những “lão tùng” Yên Tử có tuổi đời hàng trăm năm trầm mặc giữa núi rừng hùng vĩ. Những cây tùng được trồng công phu thành hàng lối. Ngày xưa, khoảng trống giữa các cây tùng thường đặt những phiến đá hoặc dựng các thảo am tu thiền. Cảm thọ an lạc khi tọa thiền giữa những gốc tùng giúp Thiền sư thư thái. Theo sử sách, dưới thời Nhị tổ Pháp Loa, giai đoạn cực thịnh của Thiền phái Trúc Lâm có tới hàng vạn Tăng chúng tu tập trên danh sơn Yên Tử. Những cây tùng đã trở thành bầu bạn của các Tăng sĩ trong tu thiền và cũng là những dấu mốc giúp việc quan sát đi lại giữa chốn thâm sơn cùng cốc ban ngày cũng như trong đêm tối. Đường xích tùng từ chùa Hoa Yên nối xuống chùa Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên, chùa Ngọa Vân. Những cây tùng cổ thụ có tán xanh, từng cơn gió thổi làm cho tán lá rì rào giống như tiếng đàn cho nên được người dân gọi là thông đàn. Dưới bóng thông đàn là những bậc đá tạo thành con đường kết nối giữa chốn rừng già, in dấu chân Sơ tổ Trần Nhân Tông, Nhị tổ Pháp Loa cùng Tam tổ Huyền Quang kinh đàn nơi Thiền viện Quỳnh Lâm.

Trải qua sự khắc nghiệt của thời gian, nhiều cây tùng đã bị gãy đổ, ngày nay còn lại những cây tùng cổ tập trung ở các khu vực: chùa Hoa Yên, Vân Tiêu, Bảo Sái, tháp Tổ, thác Vàng, thác Bạc, am Dược với số lượng khoảng gần 300 cây. Điểm ấn tượng nhất là đường tùng dài hơn 100m nằm trên trục đường chính hành hương lên chùa Đồng. Những gốc tùng già, rễ trồi lên mặt đất và bò lan sang cả hai bên đường đi tạo nên những bậc thang nâng bước chân du khách. Hiện nay, núi rừng Yên Tử có ba loại tùng: thủy tùng là loại gỗ màu trắng, thanh tùng là loại gỗ màu xanh, xích tùng là loại gỗ màu đỏ. Xích tùng là loại quý hiếm, ruột cây sống lâu năm có vân gỗ rất đẹp giống như hình hoa mẫu đơn. Tương truyền, xích tùng là loại cây di thực theo chân các bậc cao tăng Hòa thượng truyền đạo vào nước ta, thủy tùng và thanh tùng là loại cây hoang dã bản địa… Sau hàng trăm năm, những cây tùng Yên Tử trầm mặc trong bóng dáng của các tu sĩ, hoan hỷ dẫn đường chỉ lối cho du khách về nơi cửa Thiền.

TRÚC YÊN TỬ

Trúc Yên Tử thuộc họ tre, có rất nhiều loại, nhưng đều có nét đặc trưng: thân cây dáng thẳng, chia nhiều đốt, sống quần tụ thành khóm, nhiều khóm kết nối với nhau tạo nên rừng. Trúc là loài cây có sức sống dẻo dai trong điều kiện đất đai khô cằn, thiên nhiên khắc nghiệt. Trong quan niệm văn hóa Á Đông, trúc cùng với tùng, cúc, mai là bốn loại cây cao quý đại diện bốn mùa trong năm. Trúc tượng trưng cho phẩm chất người quân tử. Trúc cứng cáp hiên ngang, nhưng rất uyển chuyển mềm mại trước gió bão, thể hiện sự linh hoạt thích ứng với biến động của cuộc sống. Ngọn cây trúc uốn cong tựa chiếc đầu rồng bay bổng linh thiêng. Cây trúc dẫu bị cháy thành than thì tro vẫn giữ được hình dáng thẳng không bị uốn cong, biểu hiện cho sự chuẩn mực khí tiết. Với văn nhân mặc khách, trúc là nơi gửi gắm tâm hồn, biểu trưng cho sự thanh tao, tư tưởng nhàn dật. Trong Phật giáo, trúc thể hiện sự an nhiên tự tại, không mê đắm địa vị, vật chất. Bởi tất cả những ưu thế trên của cây trúc, nên đạo hiệu của vua Trần Nhân Tông mang tên “Trúc Lâm Đại sĩ” và rừng trúc Yên Tử Sơn cũng là nơi Ngài tu thiền…

Trong giai đoạn tu thiền tại Yên Tử, Trúc Lâm Đại sĩ luôn xem những cây trúc như người bạn. Trong núi cao, rừng sâu, không có lâu đài cung điện, Ngài chỉ có chiếc thảo am dựng bằng những khóm trúc, đan ngọn vào nhau làm cốt, kết cỏ xung quanh. Chiếc giường Ngài nằm được tạo bởi những thân cây trúc thẳng ghép lại. Tiếng trúc reo hòa cùng tiếng suối ngàn tạo nên khúc thiền ca giữa núi rừng. Chiếc gậy trúc đã giúp Trúc Lâm Đại sĩ vững vàng vượt dốc núi, băng qua suối đi giáo hóa khắp nơi. Măng trúc cùng rau rừng là thức ăn chay tịnh quanh năm của Ngài và các thiền sư. Vị thuốc trúc diệp (lá trúc tươi) dân dã thay cho những thần dược do thái y thường dâng khi Ngài còn ở trong cung vàng, điện ngọc, góp phần giải cảm giữa chốn rừng thiêng nước độc. Trong đêm đông lạnh giá, ngọn lửa từ bó đuốc kết bằng thân trúc khô đã giúp Ngài vượt qua những mùa đông nơi núi rừng Yên Tử. Hình ảnh những cây trúc sát cánh bên nhau là hình ảnh thần dân trăm họ, luôn mong chờ Ngài tìm con đường giải thoát khỏi lầm than, giúp đất nước thái bình muôn thuở. Ngài đã đặt tên cho dòng thiền thuần Việt: “Thiền phái Trúc Lâm”. Thật kỳ lạ trong lịch sử Phật giáo, tên gọi “Trúc Lâm” đã xuất hiện rất sớm, tịnh xá Trúc Lâm là nơi Đức Phật Thích Ca từng đến thuyết pháp. Sau khi hoàn thiện giáo lý Thiền phái Trúc Lâm, Ngài đã trao y bát cho người kế nhiệm Pháp Loa, rời Yên Tử xuống núi Ngọa Vân tiếp tục những tháng ngày tu thiền. Giữa ngọn núi cao quanh năm mây trắng bao phủ, Ngài đã tu thiền trong một chiếc am được kết bằng những khóm trúc cùng cỏ tranh. Trước giờ viên tịch, Trúc Lâm Đại sĩ nằm nghiêng tựa dáng sư tử, vẻ mặt thanh thản, thân cây trúc nâng đỡ và ôm trọn cơ thể Ngài. Hình ảnh đẹp về một vị vua oai hùng đã từng khiến quân Nguyên khiếp đảm, bình thản sống những giây phút cuối cùng giữa rừng trúc thanh cao…

Du khách về đây chiêm bái lễ Phật, đi giữa tiếng trúc reo, ngỡ như đang nghe câu chuyện về những năm tháng tu thiền của Trúc Lâm Đại sĩ tại danh sơn Yên Tử. Đường lên chùa Đồng, thỉnh thoảng du khách bắt gặp những cây trúc với hình dáng kỳ thú “trúc hóa rồng”, thân cây màu vàng đậm, các đốt sát gốc hơi nhăn nheo, rễ trồi lên uốn cong tựa chiếc râu con rồng tạo lên nét kỳ thú, huyền bí nơi vườn thiền Trúc Lâm…

MAI VÀNG YÊN TỬ

Tương truyền, những ngày đầu vào Yên Tử tu thiền, vua Trần Nhân Tông cùng đệ tử trồng cây mai vàng đầu tiên trên đỉnh non thiêng. Theo quan niệm người xưa, hoa mai đứng đầu “tuế hàn tam hữu” (ba người bạn trong tiết lạnh) là mai, tùng và trúc. Hoa mai được người xưa ưu ái tôn là chúa muôn loài hoa. Cây mai có sức sống mãnh liệt, bộ rễ bám sâu vào lòng đất, vách đá núi cao, kiêu hãnh vươn mình trước gió táp mưa sa, vượt qua những ngày đông khắc nghiệt để nở hoa đúng vào dịp xuân. Mùa hoa đầu tiên, giữa chốn núi rừng hoang vắng, vua Trần Nhân Tông bâng khuâng trước vẻ đẹp thoát tục hiển hiện trong tiết xuân của mai vàng. Ngắm hoa mai nở, Ngài nhận ra trong mỗi cánh hoa chứa đựng tâm thiền: Hoa mai vàng rụng cánh khi đang còn hương sắc rực rỡ, thể hiện tính thiền và sự buông bỏ tất cả. Ngài luôn tâm niệm hạnh phúc thật sự của đời người chính là sống với tâm chân thật, không vướng bận bởi những cám dỗ, danh lợi cuộc đời. Đứng trước mai vàng, tâm hồn Trúc Lâm Đại sĩ lắng đọng trong niềm cô tịch. Ngài ngồi lặng lẽ trên nệm cỏ trong thảo am, nhìn hoa mai nở, cánh hoa rơi rụng trong sự an nhiên tự tại. Ngài hiểu vạn vật được tạo bởi nhân duyên và đều có chung quy luật: “thành, trụ, hoại, không”. Tâm hồn Ngài hòa cùng tiếng suối reo, tiếng gió đùa trên thông đàn ngàn cội. Nơi núi cao, rừng sâu, hoa mai vàng cùng với trúc, tùng trở thành tri kỷ trong suốt thời gian Ngài tu thiền tại Yên Tử. Hoa mai vàng có 5 cánh tượng trưng cho ngũ phúc (Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh). Đối diện trước hoa mai vàng là Trúc Lâm Đại sĩ đang đối diện với “bản lai diện mục” của chính mình…

Hiểu được thầm ý của Trần Nhân Tông, Tăng chúng cùng nhau trồng thêm nhiều cây mai vàng khắp chốn Yên Sơn, thông qua cốt cách hoa mai để cùng gửi gắm thông điệp “Tâm Thiền”. Noi gương sáng của Ngài, Nhị tổ Pháp Loa và Tam tổ Huyền Quang cùng các vị Tăng đã chung tay góp sức trồng thêm nhiều cây mai vàng từ đỉnh Yên Sơn xuống tới khu vực chùa Hồ Thiên, chùa Ngọa Vân, chùa Quỳnh Lâm. Vượt qua sự khắc nghiệt của thời gian, những “đại lão” mai vàng ở khu vực thác Vàng, thác Bạc, chùa Một Mái, chùa Vân Tiêu vẫn sừng sững tỏa bóng nơi non cao và nở hoa rực rỡ đúng vào mùa lễ hội xuân Yên Tử. 

Những hoa mai vàng đua nhau khoe sắc bên những búp lộc, lá xanh non căng tràn nhựa sống. Trời càng lạnh, hoa càng tỏa hương thơm. Hoa nở phủ trên cây, tạo nên vẻ đẹp muôn hình vạn trạng. Những cây mai trong dáng nghiêng từ vách núi tỏa xuống tựa như dòng thác vàng. Thế cây đứng thẳng được phủ lên lớp hoa vàng tựa chiếc lọng vàng sang trọng. Triệu triệu hoa mai vàng thành kính kết thành tấm hoàng bào phủ lên non thiêng Yên Tử, góp phần tạo nên vẻ đẹp thuần khiết cùng sự linh thiêng huyền bí chốn phù vân.

Trả lời