Các giai đoạn phát triển tâm lý và một số ứng xử của bố mẹ với trẻ vị thành niên (TS. Tạ Hoàng Giang)

[voice]

Erik Erikson (1959) cho rằng hoàn cảnh xung quanh ảnh hưởng rất mãnh liệt đến việc phát triển tính cách con người. Ông phân chia cuộc sống con người theo 8 giai đoạn tâm lý căn bản và nhấn mạnh người ta chỉ có thể phát triển đầy đủ ở một giai đoạn nào đó về phương diện tình cảm, tâm lý, xã hội, nếu giai đoạn trước đó không bị gián đoạn. Con người sinh ra trong những điều kiện khác nhau sẽ phát triển khác nhau. Sự phát triển chịu ảnh hưởng bởi cả hai yếu tố di truyền và môi trường. Nền tảng giáo dục ban đầu rất quan trọng với mỗi người. Tính cách mỗi người có sự tác động của văn hóa và môi trường ở từng quốc gia.

Các giai đoạn phát triển của con người có thể được chia như sau:

GIAI ĐOẠN 1: TRƯỚC KHI SINH 

Đứa trẻ được phát triển thể chất bắt đầu từ lúc thụ thai. Môi trường trước khi sinh có thể ảnh hưởng suốt đời đến sức khỏe và khả năng trí tuệ của con người. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển trước khi sinh của người mẹ bao gồm:

– Dinh dưỡng: Dinh dưỡng tốt người mẹ sẽ khỏe và thai nhi sẽ khỏe. Tuy nhiên, sự tăng cân quá mức của người mẹ cũng sẽ ảnh hưởng đến thai nhi.

– Lo lắng: Tâm lý của người mẹ ảnh hưởng lớn đến thai nhi, đảm bảo cho tinh thần luôn vui vẻ. Những trạng thái tâm lý tiêu cực như: lo lắng, buồn tủi, đau thương… không những ảnh hưởng đến chức năng của hệ thống hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá,… của thai phụ mà còn ảnh hưởng đến sự phát triển thai nhi. Nếu thai phụ thường xuyên căng thẳng, lo lắng, trầm cảm… có thể sinh ra những đứa trẻ bị tự kỷ, không khoẻ mạnh về tinh thần…

– Sức khỏe tổng quát của người mẹ.

– Tuổi tác của người mẹ: Tuổi sinh con hợp lý từ 25-32 tuổi.

– Các chất gây dị tật bẩm sinh, quái thai cho thai nhi, đề phòng nguy cơ sảy thai: Thời kỳ thai nhi mới hình thành, phôi thai vẫn chưa phát triển hoàn thiện, dễ bị ảnh hưởng bởi những kích thích bên ngoài như: nhiễm virut từ thức ăn thiếu vệ sinh… và có thể dẫn đến sảy thai (Rommel & Chiêu, 2013). Vì vậy, thai phụ cần đảm bảo chế độ ăn uống hợp vệ sinh; nghỉ ngơi hợp lý; tránh lây nhiễm bệnh từ người khác… Không uống rượu, không sử dụng thuốc bừa bãi và nhất là không hút thuốc lá. Vì các chất này có thể gây ra các dị tật bẩm sinh cho thai nhi, bé có nguy cơ mắc phải hội chứng thai nhi bị nghiện rượu, các vấn đề về hô hấp, bé sinh ra sẽ bị nhẹ cân và nhiều rắc rối nghiêm trọng khác về sức khỏe.

GIAI ĐOẠN 2: GIAI ĐOẠN ẴM NGỬA, TỪ LÚC MỚI SINH ĐẾN CUỐI TUẦN THỨ 2  

Trẻ sơ sinh sinh ra với hệ thống thị giác chưa trưởng thành, có thể phát hiện sự chuyển động từ các vật thể lớn. Các giác quan khác hoạt động tốt vào ngày thứ nhất, sẽ định hướng, hướng theo âm thanh, quay lưng lại với mùi khó chịu, thích ngọt ngào với các vị chua (Rommel & Chiêu, 2013). Khi trẻ sinh ra với một số hành vi phản xạ, nhận thức về xã hội được chuyển tải từ mẹ hoặc những người xung quanh. Theo Minh (2011), ngay từ khi lọt lòng mẹ, trẻ đã có những nhu cầu tâm lý căn bản. Vừa chào đời, trẻ có những hành động như: Mút, bám, khóc, mỉm cười, rúc đầu vào ngực mẹ (vì muốn tìm vú và muốn áp sát vào mẹ để được ôm ấp vỗ về), thể hiện sự gắn bó mẹ con… Quan hệ mẹ – con qua xúc giác là quan trọng bậc nhất và xuất hiện sớm nhất. Lúc này, cả mẹ và trẻ đều phát ra tín hiệu cho nhau. Dù còn rất non nớt, trẻ đã cảm nhận những biểu cảm của mẹ và phản ứng lại bằng các cử động. Chẳng hạn khi được mẹ ôm ấp, nâng niu, trẻ tỏ ra dễ chịu, mỉm cười,… (Nguyễn T. M., 2011).

Sự gắn bó mẹ – con ngay từ những ngày đầu bé mới ra đời tránh cho trẻ nguy cơ chậm phát triển và những lệch lạc về sinh lý cũng như tâm lý sau này. Nhiều nghiên cứu tâm lý cho thấy những đứa trẻ thiếu sự yêu thương của mẹ từ nhỏ thường cảm thấy cô đơn, lo lắng và sợ hãi. Sau này những em đó lớn lên thường mặc cảm trong giao tiếp với người xung quanh, thường có khả năng mắc các chứng bệnh về tâm lý như tự kỷ, hội chứng hiếu động kém chú ý. Nhu cầu gắn bó mẹ – con là cơ sở cho nhu cầu giao tiếp sau này của trẻ với những người xung quanh. Mẹ là nguồn gây ấn tượng và tạo ấn tượng bên ngoài, cần thiết cho sự phát triển thần kinh và các giác quan tâm lý cho trẻ. Vì thế nên tạo cho trẻ cảm xúc như: vui mừng (cười) khi được thỏa mãn nhu cầu và khóc khi không được thỏa mãn.

Có tác giả cho rằng khi trẻ vừa chào đời, người mẹ nên nhanh chóng tiếp xúc với con. Hãy ôm trẻ để da trẻ chạm vào da mẹ, đồng thời nhìn trẻ một cách âu yếm (tầm nhìn trong khoảng 30cm vì mắt trẻ không nhìn được xa) và cười đầy yêu thương với bé. Ấn tượng tốt đẹp này sẽ giúp việc thiết lập mối quan hệ mẹ – con trở nên tốt đẹp, trẻ sẽ cảm thấy được chào đón để ra đời, giúp cho việc phát triển tâm sinh lý bình thường (Nguyễn T. M., 2011). Nhu cầu an toàn là trạng thái tâm lý xuất hiện khi trẻ được thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và nhu cầu gắn bó. Lúc này trẻ cần được bảo vệ, che chở, ấm áp và bình yên trong tình yêu thương của người mẹ. Nhu cầu an toàn là điều kiện để cơ thể, tâm lý, tình cảm và các quan hệ xã hội phát triển bình thường. Thiếu sự an toàn, cảm xúc của trẻ sẽ bị rối loạn.

Trẻ em có nhu cầu tiếp nhận các ấn tượng từ thế giới bên ngoài. Nhu cầu tiếp nhận ấn tượng gắn liền với phản xạ định hướng, trẻ có xu hướng nhìn theo các vật sáng di động, phản ứng với âm thanh. Từ tháng thứ hai, trẻ đã bắt đầu chú ý đến khuôn mặt người lớn, thường mỉm cười khi ai đó cúi xuống trò chuyện. Nhu cầu tiếp thu ấn tượng từ thế giới bên ngoài là cơ sở của các nhu cầu xã hội khác như nhu cầu giao tiếp và nhận thức sau này của bé. Nếu bị “đói ấn tượng”, trẻ sẽ chậm phát triển một cách nghiêm trọng. Vì thế người chăm sóc trẻ nên tạo nhiều ấn tượng bên ngoài để kích thích sự phát triển của bé. Thường xuyên trò chuyện với trẻ dù trẻ chưa hiểu ngôn ngữ.

GIAI ĐOẠN TUỔI THƠ, TỪ CUỐI TUẦN THỨ 2 ĐẾN CUỐI NĂM THỨ 2 

Erik Erikson cho rằng trong những năm đầu, em bé cần tạo được và phát triển mối liên hệ với thế giới chung quanh em mới bước vào, nhất là cha mẹ và những người trong gia đình – đặc biệt là người mẹ. Tình yêu của cha mẹ rất cần thiết để giúp em có được niềm yêu mến và tin tưởng với mọi người sau này. Nếu không được âu yếm, em bé sẽ trở nên thiếu tin tưởng nơi chính mình cũng như với người khác sau này nữa. Sáu tháng đầu, trẻ tiếp xúc với ngôn ngữ nào sẽ học ngôn ngữ đó, sau đó cho học gì sẽ nói nấy, nếu không học sẽ không nói được, thường dạy từ đơn giản đến phúc tạp. Noam Chomsky khẳng định: mọi trẻ em được sinh ra với một khuynh hướng sinh học để học ngôn ngữ “ngữ pháp phổ quát”. Trẻ sơ sinh nói bắt chước theo phong cách sử dụng ngôn ngữ của người lớn (chủ yếu là cha mẹ) trong tất cả các nền văn hóa (Rommel & Chiêu, 2013).

GIAI ĐOẠN MẦM NON: TỪ 2 – 6 TUỔI 

Từ 2-3 tuổi: Ở tuổi này, em bé bắt đầu khám phá ra những hoàn cảnh chung quanh xem chúng liên quan với mình như thế nào. Em bắt đầu “thử xem” mình có thể làm được những gì. Tuy nhiên, vì còn quá nhỏ và chưa có kinh nghiệm để “thành công”, cha mẹ cần ủng hộ và khuyến khích hơn là làm cho em sợ. Ngoài ra, cha mẹ cũng không nên quá bảo vệ em đến nỗi không dám để em được tự do khám phá và hành động một mình. Trong thời gian này, một là em có được tinh thần tự tin và độc lập, hoặc em sẽ trở thành con người liều lĩnh hoặc tự ti mặc cảm. Từ 2-3 tuổi, trẻ em có thể nhận ra bản thân và trẻ em khác như con trai hay con gái (các khái niệm về giới tính) nhưng chỉ dựa nhiều vào quan sát đặc điểm bên ngoài như quần áo.

Tuổi 3-5: trẻ em bắt đầu quan sát người khác để học hỏi và bắt chước, trẻ em cũng tìm cách hành động theo cách thể hiện riêng của mình. Trẻ em bắt đầu tập đương đầu với những khó khăn do ngoại cảnh, tập tranh đấu và thi đua với bạn bè. Cha mẹ và người lớn cần phải để cho em có cơ hội thắc mắc và được hướng dẫn hơn là khiển trách hoặc coi thường. Hơn nữa, đôi khi em cũng cần có kinh nghiệm thất bại để học hỏi thêm, nhưng quá nhiều thất bại có thể biến em thành con người mất tự tin. Nếu làm gì cũng bị la, hay hơi sai lỗi một tí là bị khiển trách, em sẽ dễ bị mặc cảm tội lỗi, trở thành đóng kín, dần dần đi đến bi quan yếm thế và không dám tự ra tay làm lấy điều gì (Đoàn, 1999).

Giai đoạn đầu của tuổi thơ trẻ phát triển về thể chất nhanh hơn giai đoạn ẵm ngửa; phát triển nhận thức, trí tuệ, kỹ năng nhanh, thường cho thấy sự suy nghĩ ích kỷ, giành giật đồ chơi với bạn cùng trang lứa. Giai đoạn này rất thích truyện cổ tích, tư duy tưởng tượng lồng vào (Rommel & Chiêu, 2013).

GIAI ĐOẠN CUỐI THỜI THƠ ẤU, TUỔI 6 – 12 TUỔI (THIẾU NIÊN)  

Ở tuổi này em bắt đầu một mình bước vào xã hội với các cuộc giao tiếp và ganh đua với bạn bè tại trường học và các nơi khác. Em tập phát triển các tài năng và năng khiếu riêng nhờ các sinh hoạt chung và tiếp xúc. Nếu giai đoạn này thành công, em sẽ có nhiều nghị lực và kinh nghiệm để đương đầu với những khó khăn và khủng hoảng sau này trong cuộc đời. Nếu không phát triển trong giai đoạn này, trong tương lai, em sẽ dễ cảm thấy mình thua kém bạn bè, nhát đảm khi gặp những thử thách khó khăn (Đoàn, 1999).

GIAI ĐOẠN VỊ THÀNH NIÊN: TUỔI 13 – 19 (THANH THIẾU NIÊN) 

Khi hoạt động với bạn bè trong một nhóm, những người trẻ này chập chững làm người lớn, khám phá ra vai trò và địa vị mình trong mối tương quan với xã hội. Nếu học hỏi và có thêm những cảm nghiệm tích cực về bản thân, người trẻ bắt đầu hãnh diện và tự trọng, đồng thời biết tôn trọng người khác. Nếu không được như vậy, người trẻ sẽ mất cảm thức về giá trị và địa vị chính mình trong mối tương quan với xã hội. (Đoàn, 1999).

GIAI ĐOẠN ĐẦU TUỔI TRƯỞNG THÀNH: TUỔI 20 – 35 (THANH NIÊN) 

Các thanh niên bây giờ có khuynh hướng tạo mối tương quan với người khác một cách riêng tư và thân mật hơn. Nếu thất bại, người thanh niên sẽ vụng về trong giao tiếp xã hội và khó kết thân với người khác, nhất là những người khác phái (Đoàn, 1999).

GIAI ĐOẠN GIỮA TUỔI TRƯỞNG THÀNH, TUỔI 35 – 60 (TRUNG NIÊN)  

Ở tuổi trung niên này, người ta bắt đầu quan tâm đến tha nhân trong xã hội và thế giới hơn là chính mình. Người ta muốn làm hoặc để lại một cái gì cho thế hệ mai sau. Nếu không được phát triển tốt, người ta sẽ có khuynh hướng ích kỉ và qui về cuộc sống cá nhân cho riêng mình hơn là cho xã hội (Đoàn, 1999).

Như đã nói, với những thay đổi về tâm lý cộng thêm những kiến thức thu nhận từ trường học, từ xã hội, trẻ vị thành niên ngày nay hiểu biết hơn và biết lý luận để bênh vực những hành động của mình. Một khi bị la mắng về những chuyện nhỏ hoặc không đúng, các em thường trả lời lại và nói lên những suy nghĩ riêng để bào chữa.Trong nhiều trường hợp, phụ huynh cần giữ bình tĩnh để nghe con giải thích, suy xét xem đúng hay sai, hơn là lấy quyền làm cha mẹ để la mắng, giận dữ. Nếu con trình bày và cha mẹ thấy mình sai thì nên nhận khuyết điểm và lỗi lầm của mình. Chính thái độ nhận lỗi này của cha mẹ là một tấm gương cho con biết nhận trách nhiệm khi làm sai và tạo được lòng kính trọng và tin cậy của con với mình.

Từ khi còn nhỏ, nếu đứa trẻ được cha mẹ nuôi dạy trong tinh thần thông cảm, cởi mở và không hề chứng kiến những hành động vũ lực thô bạo hay phải nghe những lời la mắng thô lỗ thì lớn lên, chúng sẽ trở thành một người hiền hòa và cư xử chín chắn hơn. Cũng nhờ đó, trẻ cũng gần gũi với cha mẹ hơn mỗi khi có chuyện cần trình bày hay thảo luận. Ở tuổi vị thành niên, các em bắt đầu nhận biết cha mẹ không phải lúc nào cũng đúng, hoặc biết tất cả mọi việc như các em tưởng khi còn nhỏ tuổi hơn. Nhờ trường học, nhờ mạng lưới thông tin mở rộng và những khả năng sử dụng hệ thống điện tử thành thạo, trẻ vị thành niên ngày nay có những hiểu biết hơn cha mẹ của chúng ở tuổi này vào những thập niên trước rất nhiều. Trẻ vị thành niên đã có những phán đoán và nhận xét về thái độ sống của người lớn nên nếu cha mẹ sống không ngay thẳng hay giả dối thì các em cũng nhận biết ngay. Những phụ huynh say sưa, cờ bạc, nghiện ngập thì khó lòng dạy con nên người tốt được. Nếu muốn con trở thành một người tử tế trong xã hội, cha mẹ phải làm gương cho con noi theo. Chính hành động của cha mẹ là một bài học thực tế nhất cho con học hỏi.

Mặc dù đời sống bận rộn đến đâu đi nữa, cha mẹ cần phải sắp xếp để có thì giờ chuyện trò với con, kể cho con nghe những chuyện vui buồn trong quá khứ. Ðôi khi phụ huynh cũng có thể chia sẻ những lỗi lầm mình đã phạm phải và khiến mình vấp ngã trên trường đời và cho con thấy những cố gắng sửa đổi của mình. Nên để cho con phát biểu nhận xét của nó về sai lầm của mình, đừng nổi giận vì tự ái mà hãy bình tĩnh giải thích cho con nghe. Chúng ta đang sống trong thời đại mà lập luận của chúng ta phải có tính cách thuyết phục để người nghe đồng ý và chấp nhận. Những lập luận một chiều dù được áp dụng ở trong gia đình hay ngoài xã hội đều lỗi thời và đang bị đào thải. Nuôi dạy con cái bao giờ cũng là một nghệ thuật mà cha mẹ cần liên tục học hỏi và trau dồi (Yến, 2012).

 

* TS. Tạ Hoàng Giang: Trưởng khoa Du lịch, Đại học Phan Thiết.

Tài liệu tham khảo:

1. Ecrik Erikson (1959). Lý thuyết về các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi.
2. Đoàn, Q. (1999). Hôn nhân hạnh phúc. Nhà sách Trái tim Đức Mẹ.
3. Nguyễn , T. M. (2011). Tâm lý trẻ em.
4. Rommel, A. S., & Chiêu, L. M. (2013). Phát triển tâm lý con người. Penang, Malaysia: EDS Business School.
5. Yến, T. (2012). Những thay đổi tâm lý tuổi vị thành niên. Retrieved from http://www.xuanha.vn.

Trả lời