Lễ khao lề thế lính ở Hoàng Sa: quá khứ và hiện tại (Trịnh Thị Hợp, Trần Thị Lê Na)

[voice]

Lý Sơn – hòn đảo ngọc của đất nước. Đây là nơi diễn ra lễ hội Khao lề thế lính Hoàng Sa, một nghi lễ trang nghiêm đã hình thành trong tiến trình xác lập và bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ tiên ta suốt hơn 400 năm qua. Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa được tổ chức trên đảo Lý Sơn vào tháng hai, tháng ba âm lịch hằng năm. Nghi lễ được duy trì để tưởng nhớ những vị hùng binh Hoàng Sa đã bảo vệ chủ quyền dân tộc và khẳng định đanh thép về chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam. Nghi lễ này đã trở thành phong tục truyền thống mang giá trị lịch sử, văn hóa, cố kết cộng đồng có ý nghĩa rất lớn đối với cư dân đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi).

TỪ LỊCH SỬ ĐỘI HOÀNG SA 

Có thể nói lịch sử chủ quyền biển đảo Việt Nam được viết bằng mồ hôi, xương máu và tính mạng của bao thế hệ người Việt Nam, trong đó có nhiều thế hệ tráng đinh trên đảo Lý Sơn. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn viết: “Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng hai nhận giấy sai đi, mang lương thực đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy. Ở đây tha hồ bắt chim cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như gươm, tiền bạc, vòng bạc… Đến kỳ tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp… Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc lấy người ở thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc lấy người ở xã Cảnh Dương, cũng có người là tình nguyện thì cấp phép sai dịch, được miễn tiền sưu cùng các tiền tuần đò. Lệnh cho đi chiếc thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, thu lượm đồ vật trong các con tàu, và các loài đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai Cai đội Hoàng Sa kiêm quản…” [1].

Theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú: “Các đời chúa trước đây, đặt đội Hoàng Sa 70 người, dùng người xã An Vĩnh hàng năm luân phiên, vào tháng 3 nhận lệnh sai đi, mang sáu tháng lương, dùng 5 chiếc thuyền nhỏ vượt biển ba ngày ba đêm thì tới đảo này. Đến đây mặc sức bắt cá ăn, nhặt được khí mãnh, của quý trên thuyền, và thu nhặt rất nhiều hải vật. Tháng 8 trở về đến cửa Eo, dâng nộp ở thành Phú Xuân” [2]. Từ hai nguồn sử liệu trên cho thấy, chúa Nguyễn đã lập đội Hoàng Sa sử dụng người xã An Vĩnh, đảo Cù Lao Ré và đội Bắc Hải do Cai đội Hoàng Sa kiêm quản vượt biển để khai thác và bảo vệ biển Đông trong đó có quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.

Những đội hùng binh xưa cứ vào tháng hai âm lịch hằng năm, dùng thuyền nhỏ vượt sóng, vượt bể mênh mông với ý chí mạnh mẽ, không ngại sóng to gió lớn, bão táp mưa sa, không sợ sự giận dữ của biển cả, tiến lên xứ Hoàng Sa, Trường Sa để thực thi nhiệm vụ bảo vệ hải đảo. Có lẽ lòng yêu nước và sự trung thành đã làm nên bản chất muôn đời của người dân vùng biển: sòng phẳng, bao dung, mặn mà và cũng giận dữ như biển cả đối với những kẻ xâm lăng. Chúng ta kính phục bởi lòng trung thành tuyệt đối của người dân với biển đảo, chúng ta kiêu hãnh vì đã có biết bao lớp người dân ở làng An Vĩnh – Lý Sơn ra Hoàng Sa để giữ chủ quyền biển đảo và có khi trở thành anh hùng vô danh. Bao người ra đi mấy kẻ trở về, vì thế dân gian đã tương truyền câu hát:

“Hoàng Sa trời nước mênh mông
Người đi thì có mà không thấy về

Hoàng Sa mây nước bốn bề
Tháng Hai khao lề thế lính Hoàng Sa”.

Từ thực tiễn hoạt động của đội hùng binh xưa, với phương tiện tàu thuyền rất thô sơ, giản đơn vượt sóng gió lênh đênh trong vô vàn hiểm nguy đã hình thành những câu hát dân gian của người dân Lý Sơn:

“Hoàng Sa lắm đảo nhiều cồn
Chiếc chiếu bó tròn mấy sợi dây mây”.

Hay:

“Chiều chiều ra ngóng biển xa
Ngóng ai đi lính Hoàng Sa chưa về”.

Biết trước được mọi hiểm nguy nên những người thực thi nhiệm vụ trên quần đảo Hoàng Sa thường đem theo những vật dụng như: 1 đôi chiếu, 7 chiếc nẹp tre, 7 sợi dây mây và 1 thẻ bài. Để không may xấu số bỏ mạng, đồng đội của họ sẽ bó xác và thả trôi theo dòng nước, với tấm thẻ bài ghi rõ tên tuổi, quê quán hi vọng xác sẽ được trôi dạt vào bờ và có ai đó tìm thấy gia đình, quê hương của họ.

Những đội hùng binh đã vượt vạn dặm hải lý gian nan để đến với xứ Hoàng Sa, Trường Sa và những vùng biển đảo của dân tộc như bằng chứng hùng hồn để khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.

Những đội hùng binh đã vượt vạn dặm hải lý

Lễ “Khao lề thế lính Hoàng Sa” là một nghi lễ tâm linh, một nghi lễ giàu tính nhân văn nhưng cũng đầy tự hào của lịch sử giữ biển đảo của người Việt Nam.

Theo quan niệm của nhân dân, đội Hoàng Sa khi làm nhiệm vụ trên biển luôn gặp nhiều rủi ro, thường chỉ có đi mà không có về, nên trong buổi tế có những hình người bằng giấy hoặc bằng bột gạo và dán giấy ngũ sắc, làm thuyền bằng thân cây chuối, đặt hình nộm lên để làm giả những đội binh thuyền Hoàng Sa đem tế tại đình, tế xong đem thả ra biển, với mong muốn đội thuyền kia sẽ chịu mọi rủi ro thay cho những người lính của đội Hoàng Sa, đồng thời tạo niềm tin và ý chí cho người lính làm hoàn thành nhiệm vụ theo lệnh vua chúa.

Nghi lễ này được hình thành từ đội hùng binh, từ sự khó khăn, mất mát, hi sinh của các bậc tiền nhân để gìn giữ, bảo vệ chủ quyền biển đảo dân tộc. Ngày nay, các dòng tộc hay làng/xã vẫn giữ phong tục xưa để tưởng nhớ nghi lễ mang đậm dấu ấn văn hóa tâm linh trong đời sống các thế hệ người dân Lý Sơn. Có thể khẳng định, nguồn gốc sâu xa của lễ “Khao lề thế lính Hoàng Sa” ngày nay là nghi lễ “cúng thế lính” xưa của các tộc họ trên đảo Lý Sơn.

Theo phong tục cổ truyền, hằng năm cứ đến tháng hai, tháng ba âm lịch, các dòng tộc ở hai làng An Vĩnh, An Hải trên đảo Lý Sơn tổ chức cúng việc lề và nghi lễ này đã thành lệ/lề, nhằm thể hiện sự hiếu nghĩa của con cháu đối với ông bà, tổ tiên. Ngoài ra, còn có nghi thức tế lính Hoàng Sa được diễn ra ở những dòng họ có người đi lính Hoàng Sa như dòng họ Võ Văn, Phạm Văn, Phạm Quang, Nguyễn, Dương, Trần, Đặng,…

Đối với phạm vi dòng tộc: Lễ cúng việc lề và tế lính Hoàng Sa bắt đầu bằng lễ cáo yết (lễ Tiên Thường để tế cáo với tổ tiên), sau đó là lễ tế chính bao gồm các lễ vật và thuyền lễ làm bằng thân cây chuối với mạn thuyền là nơi đặt linh vị các binh phu Hoàng Sa còn cắm năm lá cờ ngũ sắc đuôi nheo. Cụ trưởng tộc là người đứng chủ bái khấn tổ tiên, còn các ông trưởng chi phái đứng hai bên phân hiến làm nhiệm vụ bồi tế. Nghi lễ được tiến hành trình tự theo nghi thức Thọ Mai Gia Lễ, sau đó vị Trưởng tộc kiểm tra Gia phả dòng họ có bị hư hại gì không rồi ghi tên người mất sau ba năm vào, đến chung hiến lễ dâng rượu tuần ba là xong. Sau khi cúng việc lề thì nghi thức tế lính Hoàng Sa sẽ diễn ra tại nơi đặt linh thuyền. Nghi lễ do thầy pháp sư điều hành. Kịp khi lễ kết thúc, thầy pháp sư hướng dẫn vị trưởng tộc và con cháu đưa các linh thuyền thả ra biển Đông, nhằm cầu nguyện cho linh hồn những người trong đội Hoàng Sa bị tử nạn sẽ về lại với quê hương.

Đối với phạm vi làng, xã: Song song với nghi lễ cúng việc lề và tế lính Hoàng Sa ở các tộc thì làng An Vĩnh cũng tổ chức lễ khao lề tế lính Hoàng Sa tại đình An Vĩnh ngày 16/3 âm lịch với quy mô lớn hơn. Vị Cả làng làm chủ tế, phân hiến là các vị chủ xóm, bồi tế là các chủ lân, chủ lăng vạn, kế đến là Trưởng tộc các dòng họ tiền hiền, cùng đội trống, chiêng, ban nhạc lễ, đội cờ hầu lễ và Tổng lái các thuyền đua Long, Lân, Qui, Phụng. Đặc biệt phải có pháp sư để thực hành nghi lễ tế sống, lễ thả thuyền… Bao gồm lễ vật và 5 chiếc thuyền lễ [3] đặt trước sân đình làng. Theo điều hành của thầy Pháp sư các thuyền tế được đưa ra ngoài biển khơi, cầu cho vong linh những người lính trong đội Hoàng Sa xưa được siêu thoát và cầu mong cuộc sống yên bình cho mỗi cá nhân và cả cộng đồng.

Bên cạnh đó, hiện nay nhiều tộc họ trên đảo Lý Sơn còn có ngôi Mộ Gió (mộ chiêu hồn), phần nhiều là mộ của các binh phu khi làm nhiệm vụ ở quần đảo Hoàng Sa. Người thân, họ tộc ở nhà nhờ thầy Pháp sư làm hình nhân thế mạng bằng đất sét, cây dâu tằm nặn thành người để tổ chức mai táng, tiêu biểu có họ Võ Văn, Phạm Quang, Phạm Văn, Dương, … Ngày nay trên đảo Lý Sơn, còn phối thờ những ngôi mộ tại di tích Âm Linh tự, đình làng An Vĩnh và một số dinh, miếu thờ khác để ngàn đời nhớ đến công lao của họ và nhắc nhở thế hệ trẻ phải có nhận thức trong công cuộc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc.

Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa góp phần phản ánh về lịch sử bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam trên vùng Biển Đông, đặc biệt là chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với ý nghĩa và tầm quan trọng đó của di sản văn hóa này, tháng 4/2013, Bộ Trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã quyết định đưa Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình Tập quán xã hội và tín ngưỡng.

Từ đây, chúng ta hoàn toàn có thể tin tưởng rằng, các thế hệ mai sau sẽ tiếp tục bảo tồn và phát triển nghi lễ “Khao lề thế lính Hoàng Sa” từ đó nâng cao nhận thức của người dân đối với giá trị văn hoá truyền thống, khơi dậy ở họ lòng tự hào dân tộc, làm cho những nét cổ truyền, “cái đẹp xưa” và tinh thần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc được lưu truyền mãi mãi.

 

Chú thích:

* Giảng viên Đại học Kỹ thuật Y Dược Đà Nẵng.

** Chuyên viên Nhà trưng bày Hoàng Sa.

[1] Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản ký hiệu VĐ.9, lưu trữ tại Viện Khảo cổ học Sài Gòn, tr.78b-79a, 82b-85a.
[2] Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, bản ký hiệu A.1551, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, tr.91/3-92/4.
[3] Theo các nguồn sử liệu, hằng năm lệnh triều đình lấy 70 suất đinh những thanh niên trai tráng ở các dòng tộc trên đảo để đi Hoàng Sa, 70 suất chia nhau trên 5 chiếc thuyền câu. Mỗi tráng đinh chọn đi Hoàng Sa đều là con trai thứ trong gia đình, vì con trai trường phải ở nhà lo việc thờ tự…

 

Tài liệu tham khảo:

1. Võ Minh Tuấn (2018), Đảo Lý Sơn những góc nhìn từ biển, Nxb Thông tin và Truyền thông.
2. Dương Anh, Lễ Khao lề thế lính Hoàng Sa, http://dsvh.gov.vn/le-khao-le-the-linh-hoang-sa-3149, ngày truy cập: 26/2/2021.
3. UBND huyện Hoàng Sa (2016), Kỷ yếu Hoàng Sa, Nxb. Thông tin và Truyền thông.
4. Nguyễn Nhã (2003). Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Luận án Tiến sĩ Khoa học Lịch sử.
5. Đỗ Bang (2017), Chủ quyền biển đảo Việt Nam trong lịch sử, Nxb Văn hóa – văn nghệ.

 

Trả lời