Tri ân nguồn cội (Đông A)

Chương 38 của Kinh Tứ Thập Nhị Chương có viết: Ðức Phật hỏi một vị Sa môn: “Sinh mạng của con người tồn tại bao lâu?”. Ðáp rằng: “Trong vài ngày”. Phật nói: “Ông chưa hiểu Ðạo”. Ðức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác: “Sinh mạng con người tồn tại bao lâu?”. Ðáp: “Khoảng một bữa ăn”. Phật nói: “Ông chưa hiểu Ðạo”. Ðức Phật lại hỏi một vị Sa môn khác nữa: “Sinh mạng con người tồn tại bao lâu?”. Ðáp: “Khoảng một hơi thở”. Phật khen: “Hay lắm! Ông là người hiểu Ðạo”.

Thật vậy! “Một hơi thở”, sự sống con người chỉ gói gọn trong ngần ấy thôi. Nói đơn giản, sự sống này có được là từ sinh khí (prana) trong không khí chúng ta đang hít thở hằng ngày. Thế nhưng có mấy ai trên đời này đã thực sự biết ơn từng hơi thở ấy, hay mở rộng ra là từng nhân tố cơ bản nhất giúp ta duy trì sự sống này như: ánh sáng, đất, nước, nguồn lương thực, nơi ở…? Có lẽ trong cuộc sống quá đỗi vội vã và khi mọi thứ có được rất dễ dàng thì nhiều điều bỗng chốc lại hoá thành hiển nhiên. Có khi nào ta tự hỏi: Dân tộc này, mái ấm gia đình này, bầu trời này, những hạt cơm này… từ đâu ta có?! Mấy ai còn nhớ tới những con người đã nằm xuống để đất nước được đứng lên, những tuổi xuân đã khép lại cho thế hệ sau mãi mãi những mùa xuân?! Phải chăng đã đến lúc ta cần cùng nhau nhìn lại một cách sâu sắc và toàn diện về sự tri ân tổ tiên, hướng về nguồn cội để câu ca dao ta vẫn ê a đọc từ bé không trở nên giáo điều và sáo rỗng:

“Con người có tổ, có tông,
Như cây có cội, như sông có nguồn”.

Ngược dòng lịch sử, khoảng thế kỷ VIII TCN – thế kỷ II, trên lãnh thổ nước ta đã lần lượt xuất hiện ba nền văn hoá với các nhà nước sớm: Quốc gia Văn Lang – Âu Lạc trên cơ sở văn hoá Đông Sơn ở miền Bắc, nước Lâm Ấp tiền thân của vương quốc Champa trên cơ sở nền văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và vương quốc Phù Nam trên cơ sở nền văn hóa Đồng Nai – Óc Eo ở miền Nam. Sự ra đời của các quốc gia này đã mở ra một thời đại mới – thời đại dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc [1]. Để rồi sau đó là những màn đêm dài đằng đẵng đến bốn lần Bắc thuộc; rồi hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước. Một dân tộc bé nhỏ như chúng ta, sao mà kiên cường đến lạ. Chỉ trong hai câu hát từ tác phẩm của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu – Một trăm năm đô hộ giặc Tây” cũng đã đủ để hình dung về cả một hành trình gian nan, khốc liệt để có được hòa bình của dân tộc Việt Nam. Việc được sống một ngày không có tiếng đạn bom đã từng là ước mơ của bao thế hệ “quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”.

Đọc hết Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm, ta mới thấy mạng sống con người mong manh đến dường nào. “Mới tối qua Thìn và anh Sơn còn cùng bọn mình trò chuyện. Thìn còn dặn Lệ mua vải may áo, đêm nay hai người ấy chỉ còn là hai cái xác nằm dưới nắm đất của đất Đức Phổ mà lần đầu họ đặt chân đến ấy rồi”. Bác sĩ Thùy Trâm – người đã chứng kiến biết bao đồng đội mới đó mà người thì bị thương, người bị bắt, người hy sinh. Mỗi ngày, mỗi ngày đều là như thế. Ấy vậy mà ngọn lửa yêu nước chưa khi nào lu mờ trong trái tim của cô gái đó cũng như trong trái tim của bao người con Việt: “Ôi, giấc mơ Hoà bình Độc lập đã cháy bỏng trong lòng cả ba mươi triệu đồng bào ta từ lâu rồi. Vì nền Hoà bình độc lập ấy mà chúng ta đã hy sinh tất cả. Biết bao người đã tình nguyện hiến dâng cả cuộc đời mình vì bốn chữ Độc lập Tự do”.

Hay như đồng chí Hoàng Văn Thụ từng nói: “Hãy giữ vững tinh thần của người cộng sản. Tinh thần trong suốt như pha lê, rắn chắc như kim cương và chói lọi muôn nghìn hào quang của lòng tin tưởng. Người cộng sản rất yêu cuộc sống nhưng khi cần có thể nhẹ như lông hồng mà chết được”. Mốc son chói lọi vào ngày 30/04/1975 – chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh toàn thắng, Việt Nam Nam – Bắc một nhà. Niềm vui chưa kịp trọn thì đất nước ta lại phải đối mặt với quân Khmer Đỏ tấn công lớn vào các tỉnh biên giới từ Tây Ninh đến Kiên Giang, cũng như sau đó là quân Trung Quốc đã bất ngờ tấn công vào các tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam từ Quảng Ninh tới Lai Châu. Bầu trời hoà bình mà chúng ta đang hít thở lúc này đây bỗng nhiên trở nên vô giá đến tận cùng.

Thời gian vẫn trôi, đến tận hôm nay, có lẽ vì đã cách xa mùi thuốc súng, tiếng đạn bom quá đỗi; cũng như đã có bao thế hệ được sinh ra với công nghệ và sự cách tân mà sự biết ơn và trân quý với lịch sử, với mảnh đất, với những con người đã ngã xuống cũng lu mờ dần. Thế nhưng, sự thật vẫn ở đó. Lại nói về lòng biết ơn và trân trọng sự hy sinh của thế hệ những người đi trước. Ở đây, chúng ta không bàn đến những bài diễn văn khô khan, cũng không nhắc đến những hành động tưởng niệm đầy nghi thức, giáo điều. Như Bác Hồ đã từng nói: “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Ông bà, tổ tiên chúng ta đã dựng và giữ nước, vậy ngày hôm nay chúng ta giữ nước thế nào, biết ơn ra sao?!

Đó không còn là việc ta phải cầm súng ra sa trường, hay hy sinh mạng sống của mình cho Tổ Quốc. Chúng ta cũng không nên nghĩ tới những điều quá lớn lao, rồi lại tự cho rằng bản thân không thể nào làm được. Mỗi cá nhân chỉ cần sống trọn vẹn với sứ mệnh cuộc đời của mình, cũng đã là một hình thức biết ơn. Mỗi thành viên trong gia đình biết sống yêu thương, san sẻ, nhường nhịn nhau cũng đã là biết ơn ông bà tổ tiên đã sinh ra chúng ta, để hôm nay chúng ta cùng nhau sống trong một tập thể an ấm. Đức Phật đã ban bố cho thế gian một bài học luân lý quan trọng. Để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với cây Bồ đề vô tri vô giác đã che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian chiến đấu (49 ngày thiền định) thành tựu quả vị tối thượng. Ngài đứng cách một khoảng xa để chăm chú nhìn cây Bồ-đề trọn 7 ngày [2]. Có lẽ bài pháp đầu tiên đức Phật dạy cho cuộc đời, là bài học về lòng biết ơn. Lẽ vô thường rồi sẽ xoay chuyển, sự vật có sinh rồi có diệt, ai giữ được lòng biết ơn dù với những điều nhỏ nhặt, vô tri nhất xem như đã thấu thị ý nghĩa cuộc đời vậy.

Vì từ sự biết ơn, mà cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa, chan hoà yêu thương hơn. Ta biết ơn mỗi chén cơm ta ăn vì trong từng hạt gạo chứa đầy bao công lao cơ cực của người ra đồng, những tâm tư đầy yêu thương của người nấu. Ta biết ơn mỗi cành cây, ngọn cỏ vì sự trong lành chúng đã phủ lên trái đất này. Ta biết ơn một ngày thức dậy, ta vẫn còn sống, dù có thể vẫn lăn lộn trong biển khổ cuộc đời, nhưng ta còn sống, còn tình yêu thương là còn tất cả. Ta có một công việc để làm, một chiếc xe hay thậm chí đơn giản chỉ là một đôi chân để bước đi, một mái nhà để trở về dù rằng ta độc thân và nơi ở ấy chỉ có mỗi ta với vài cây xanh. Cuộc sống được nhìn qua lăng kính này bỗng nhiên trở nên đẹp và đủ đầy đến lạ. Trong mỗi nén hương ta thắp, ta cảm ơn ông bà tổ tiên, cửu huyền thất tổ đã sinh ta ra và luôn dõi theo độ trì. Trong mỗi thời kinh, ta nguyện hồi hướng công đức lành cho những hương hồn anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, những sinh linh hữu duyên… Những việc đơn sơ vậy thôi, có khó quá đâu đúng không?!

Xem qua chương trình truyền hình Linh thiêng Việt Nam do Đài truyền hình TP.HCM thực hiện nhân kỷ niệm 70 năm Ngày thương binh liệt sĩ năm 2017, ta mới ngộ ra rằng: các anh hùng liệt sĩ thật ra đâu phải hy sinh để thế hệ sau phải biết ơn và nhớ ơn, có lẽ họ chỉ mong rằng những thế hệ sau chỉ cần sống sao cho xứng đáng với bao máu xương, thanh xuân và lý tưởng của những người đã ngã xuống, vậy là đủ rồi. Giáo điển nhà Phật khái quát ơn nghĩa trong đời thành bốn ơn sâu nặng: ơn cha mẹ sanh dưỡng, ơn chúng sanh vạn loại, ơn quốc gia xã hội, ơn Tam bảo thiêng liêng. Vậy há chẳng phải chỉ cần sống hiếu thảo với đấng sinh thành, với những người dưỡng dục; biết trân trọng cuộc sống của chính mình và cả của tất cả chúng sanh khác, biết ơn đất nước này mà sống như một công dân có ích, biết ơn vì đạo Pháp nhiệm mầu chỉ lối chúng ta một con đường chân chính đã là sống có ích cho cuộc đời này. Những người con Phật tìm về cội nguồn đạo đức và tâm linh, không thể thiếu sót hay chểnh mảng sự đền đáp bốn ơn.

Những “chúng sanh biết báo đền” thường được Đức Phật ngợi khen:

“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Ðộc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

– Nếu có chúng sanh biết báo đền, người này đáng kính, ân nhỏ còn chẳng quên huống là ân lớn. Cho dù người ấy rời nơi đây ngàn do-tuần, trăm ngàn do-tuần mà chẳng là xa, vẫn không khác gần Ta. Vì sao? Tỳ-kheo nên biết, Ta thường khen ngợi người biết báo đền.

Có các chúng sanh chẳng biết báo đền, ân lớn còn chẳng nhớ hà huống nhỏ. Người đó chẳng gần Ta, Ta chẳng gần người đó. Ngay cho họ đắp Tăng-già-lê ở sát bên Ta, người này vẫn xa. Vì sao? Ta thường chẳng nói về người không báo đền. Thế nên, các Tỳ-kheo, hãy nghĩ báo đền, chớ học không báo đền. Như thế, này các Tỳ-kheo, nên học điều này”. [3]

Hoá ra, sống biết ơn, lại là sống tỉnh thức trong từng phút giây. Ngày nay, đã có nhiều hoạt động vô cùng ý nghĩa để chúng ta cùng nhau ôn lại, nhắc nhớ về lòng biết ơn, sống yêu thương. Điển hình là bên cạnh phong trào du lịch để tìm lại tự do, khai phá bản thân của giới trẻ vẫn có các hành trình du lịch động tâm. Tiêu biểu như hành trình của đơn vị May Q Tour: Hành trình động tâm trên đất Bắc: Đền Gióng – đền Hai Bà Trưng – đền Trần – đền Trúc – Ngũ Động Thi Sơn (Lý Thường Kiệt) – chùa Kiến Sơ (Lý Thái Tổ). Một hành trình đặc biệt, lần theo dấu tích của những câu chuyện tưởng chừng chỉ là huyền thoại, theo dấu tích của những người anh hùng vĩ đại của dân tộc Việt Nam: Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt…Chuyến đi không chỉ là mang đến những khám phá mới lạ về lịch sử, văn hóa, địa lý mà qua đó còn là sự kết nối tâm linh với ông bà tổ tiên và các anh hùng dân tộc qua những chặng đường lịch sử với các hoạt động vô cùng ý nghĩa như thiền tĩnh tâm, các thời kinh kệ, sám hối, hồi hướng… Bên cạnh cuộc sống bộn bề hằng ngày, những hoạt động nho nhỏ xen lẫn như thế đã là những lúc lắng lòng cùng nhìn về quá khứ, không phải chỉ để ngẫm nghĩ về một thời vàng son đã qua và đã xa, mà để có những hành động thiết thực của những con người cùng một niềm tin rằng mỗi cá nhân với niệm lành, với hạt mầm tích cực, với lòng biết ơn sâu sắc sẽ là nhân tố cho một xã hội công bằng, một đất nước phồn vinh. Ý nghĩa nào hơn!

“Một hơi thở” chánh niệm, cũng đủ để thấy vũ trụ bao la, cuộc sống nhiệm mầu. Đủ để thấy được làm con người đã là điều may mắn, được sinh ở thời bình lại là bao diễm phúc cho đời này. Cũng như, đủ để thấy dù ta là ai, ở địa vị nào cũng là người “có tổ có tông”; thế nên sống sao cho ý nghĩa, có trách nhiệm với chính mình cũng đã là đền đáp công ơn của biết bao con người, thế hệ, sinh linh…..Cuộc sống bôn ba, thế sự xoay vần, có thấu hiểu bản chất ý nghĩa cuộc sống này, thấu hiểu sự thật rằng chính bản thân mình thôi đã là diệu kỳ, thấu hiểu ta không bao giờ cô đơn vì hồn thiêng sông núi, vì hơi ấm cuộc đời vẫn mãi luôn ở đó cạnh ta, ta sẽ luôn vì thế mà sống có động lực, mục tiêu và ý nghĩa. Hơn thế nữa, từ đó chúng ta sẽ biết lan toả trái tim yêu thương, thế giới vì thế mà trở nên tốt đẹp hơn.

 

Chú thích:

[1] http://www.baotanglichsutphcm.com.vn/phong-2-thoi-dung-nuoc-va-giu-nuoc-2879-tr-cn-938.
[2] Narada Mahathèra, Phạm Kim Khánh (dịch) (1998), Đức Phật và Phật pháp, Nxb. Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh.
[3] Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm Thiện tri thức, VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.342.

 

Trả lời